TIỂU LUẬN:
s luận triết hc của đường lối
ng nghiệpa, hiện đại h Vit
Nam trong thời kỳ quá đ
Lời mở đầu
Công cuộc xây dựng hội mới phải được tiến hành toàn diện trên các mặt:
quan hệ sản xuất, lực lượng sản xuất, nền văn hoá những con người của hội.
Công nghiệp hóa chính con đường bước đi tất yếu để tạo ra sở vật chất,
thuật cho nền sản xuất lớn hiện đại.
Xây dựng sở vật chất kĩ thuật cho nền sản xuất lớn hiện đại một quy luật
chung, phổ biến đối với tất cả các nước. Tuy nhiên, tuỳ từng nước khác nhau, do
điểm xuất phát tiến lên không giống nhau ch thức tiến hành xây dựng sở vật
chất, kĩ thuật cho nền sản xuất lớn hiện đại sẽ không giống nhau.
Nước ta tiến lên chủ nghĩa hội từ một nền kinh tế phổ biến sản xuất nhỏ,
lao động thủ công phổ biến. Cái thiếu thốn nhất của chúng ta một nền đại công
nghiệp. Chính vậy chúng ta phải tiến hành công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Trong
thời đại ngày nay, công nghiệp hoá phải gắn với hiện đại hoá. Công nghiệp hoá
nước ta nhằm xây dựng sở vật chất kỹ thuật cho chủ nghĩa hội. Đó nhiệm
vụ trung tâm trong suốt thời kỳ quá độ tiến lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta.
Từ m 1996, đất nước ta đã chuyển sang giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp
hoá, hiện đại hoá, phấn đấu đến năm 2020 bản trở thành một nước công nghiệp.
Sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta chỉ thực sự thành công chừng nào thự
hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
Từ những do trên em quyết định chọn đề tài "Cơ sở luận triết học của
đường lối công nghiệpa, hiện đại hoá Việt Nam trong thi kỳ quá độ"
I. Nội dung mục tiêu của ng nghiệp hoá, hiện đại hoá Việt Nam thời kỳ
quá độ.
1. Nội dung của ng nghiệp h, hiện đại hoá Việt Nam thời kỳ qđộ
lên chủ nghĩa xã hội
a) Khái niệm công nghiệp hoá, hiện đại hoá
Công nghiệp hoá được định nghĩa nhiều quan niệm khác nhau song
thường được hiểu một quá trình gắn liền với việc xác định một cấu kinh tế hợp
lý, trang bị k thuật ngày càng hiện đại cho các ngành kinh tế nhằm thủ tiêu tình
trạng lạc hậu về kinh tế hội, khai thác tối ưu các nguồn lực lợi thế, đảm bảo
nhịp độ tăng trưởng nhanh và ổn định.
thế kXVII, XVIII khi cách mạng công nghiệp được tiến hành Tây Âu,
công nghiệp hoá được hiểu quá trình thay thế lao động thủ công bằng lao động s
dụng máy móc. Những khái niệm kinh tế nói chung khái niệm công nghiệp hoá
nói riêng mang tính lịch sử, tức là luôn có sự thay đổi cùng với sự phát triển của nền
sản xuất hội, của khoa học công nghệ. Do đó, việc nhận thức đúng đắn khái niệm
này trong từng giai đoạn phát triển của nền sản xuất hội ý nghĩa to lớn cả về lý
luận và thực tiễn.
Kế thừa chọn lọc những tri thức văn minh của nhân loại, rút những kinh
nghiệm trong lịch stiến hành công nghiệp hoá, hiện đại hoá từ thực tiễn công
nghiệp hoá Việt Nam trong thời kỳ đổi mới, Hội nghị ban chấp hành Trung ương
lần thứ 7 khoá VI và đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VII Đảng cộng sản Việt Nam
đã xác định công nghiệp hoá quá trình chuyển đổi căn bản toàn diện các hoạt động
sản xuất kinh doanh dịch vquản kinh tế - hội từ sử dụng sức lao động thủ
công chính sang sử dụng một cách phổ biến sức lao động cùng với công nghệ,
phương tiện và phương pháp tiên tiến hiện đại dựa trên sự phát triển của công nghiệp
và tiến bộ khoa học công nghệ tạo ra năng suất lao động xã hội cao.
Song dù muốn hay không công nghiệp hoá nước ta hiện nay trước mắt nhằm
xây dựng sở vật chất kỹ thuật bảo đảm ng trưởng kinh tế nhanh bền vững.
Song lẽ sẽ thiếu sót nếu chúng ta không quan m giải quyết những vấn đề
hội. Thực tiễn nước ta và kinh nghiệm của mt số nước đang phát triển cho thấy ngay
từ bước đầu tiên của việc hoạch định chiến lược chương trình phát triển nhất thiết
phải đảm bảo tính đồng bộ giữa kinh tế xã hội, cùng với sự phát triển kinh tế phải xây
dựng những mặt thuộc hạ tầng của đời sống hội, tăng trưởng kinh tế phải gắn với
tiến bộ và công bằng xã hội, phát triển văn hoá nâng cao đời sống nhân dân.
Như vậy công nghiệp hmột quá trình lịch sử tất yếu nhằm tạo nên những
chuyển biến căn bản về kinh tế hội của đất nước trên sở khai thác hiệu quả
các nguồn lực lợi thế trong nước, mở rộng quan hệ kinh tế quốc tế. Xây dựng
cấu kinh tế nhiều ngành với trình độ khoa học công nghệ ngày càng hiện đại.
Khái niệm công nghiệp hoá trên đây được Đảng ta xác định rộng hơn những
quan niệm trước đó, bao hàm cả về hoạt động sản xuất kinh doanh, cả về dịch vụ và
quản kinh tế hội. Như vậy công nghiệp hoá theo tưởng mới không hẹp
trong phạm vi trình độ các lực lượng sản xuất đơn thuần, k thuật đơn thuần để
chuyển lao động thủ công thành lao động cơ khí như quan niệm trước đây.
Khoa học công nghệ hiện đại nhân tố then chốt của hiện đại hoá. Hiện đại
hoá nội dung lớn phong phú, bao gồm các mặt kinh tế, chính trị văn hoá.
Hiện đại hoá thường được định nghĩa là một quá trình mà nhờ đó các nước đang phát
triển tìm cách đạt được sự tăng trưởng phát triển kinh tế, tiến hành cải cách chính
trị củng cố cơ cấu hội nhằm tiến tới một hệ thống kinh tế, hội chính trị
giống hệ thống của những nước phát triển. Hiện đại hoá cưỡng bức dập khuôn sẽ làm
bại hoại cho quốc gia vì nó đối nghịch với bản sắc dân tộc, thù địch với dân chủ.
b. Phát triển lực lượng sản xuất, sở vật chất kỹ thuật của chủ nghĩa
hội trên sở thực hiện cơ khí hoá nền sản xuất hội, áp dụng những thành tựu
khoa học công nghệ hiện đại.
Quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hóa trước hết quá trình cải biến lao
động thủ công, lạc hậu thành lao động sử dụng máy móc, tức phải khí hoá nền
kinh tế quốc n. Đó bước chuyển đổi căn bản từ nền kinh tế nông nghiệp sang
nền kinh tế công nghiệp.
Đi liền với khí hoá điện khí hoá tự động hoá sản xuất từng bước
trong toàn bộ nền kinh tế quốc dân. Sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đòi hỏi
phải xây dựng phát triển mạnh mẽ các ngành công nghiệp, trong đó then chốt
ngành chế tạo liệu sản xuất. Sự phát triển của các ngành chế tạo liệu sản xuất
sở để cải tạo, phát triển nền kinh tế quốc dân, phát triển khu vực nông - m ngư
nghiệp.
Đồng thời, mục tiêu của công nghiệp hoá, hiện đại hoá còn s dụng kỹ
thuật, công ngày càng tiên tiến, hiện đại nhằm đạt năng suất lao động cao. Tất cả
những điều đó chỉ có thể được thực hiện trên cơ sở một nền khoa học, công nghệ phát
triển đến một trình độ nhất định.
Khi nền khoa học của thế giới đang sự phát triển như vũ bão, khoa học
đang trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, khi mà công nghệ đang trở thành nhân tố
quyết định chất lượng sản phẩm, chi phí sản xuất tức đến khả năng cạnh tranh
của hàng hoá, hiệu quả của sản xuất, kinh doanh thì khoa học công nghệ phải là động
lực của công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Tại Hội nghị lần thứ hai ban chấp hành Trung
ương khoá VIII, Đảng ta đã xác định rõ: "Công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
phải bằng dựa vào khoa học công nghệ" [Đảng cộng sản Việt Nam. Văn kiện
hội nghị lần thứ hai Ban chấp hành Trung ương khoá VIII. NXB Chính trị quốc gia,
Hà Nội, 1997.tr59], "Khoa học và công nghệ phải trở thành nền tảng và động lực cho
công nghiệp hoá, hiện đại hoá" [Đảng cộng sản Việt Nam Văn kiện hội nghị lần thứ
hai Ban chấp hành Trung ương khoá VIII. NXB Chính trị Quốc gia, Nội, 1997. tr
48]
Phát triển khoa học công nghệ trong điều kiện Việt Nam hiện nay cần chú ý tới
những vấn đề sau:
Thứ nhất, phải xác định được những phương hướng đúng đắn cho sự phát triển
khoa học - công nghệ. Khoa học - công nghệ lĩnh vực hết sức rộng lớn, trong khi
đó đội ngũ cán bộ khoa học nước ta còn nhỏ bé, chất lượng thấp, khả ng của nước
ta về vốn liếng, phương tiện nghiên cứu còn rất hạn hẹp. Do đó chúng ta không thể
cùng một lúc đầu để phát triển tất cả các lĩnh vực khoa học công nghệ phải lựa
chọn những lĩnh vực nhất định để đầu tư. Việc lựa chọn đúng sẽ tạo điều kiện cho
khoa học công nghệ phát triển ngược lại, việc lựa chọn sai thì không những ảnh
hưởng xấu tới sự phát triển của khoa học công nghệ mà còn ảnh hưởng không tốt đến
công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Phương hướng chung cho sự phát triển khoa học công
nghệ ở nước ta là: phát huy những lợi thế của đất nước, tận dụng mọi khả năng để đạt
trình độ công nghệ tiên tiến, đặc biệt công nghệ thông tin công nghệ sinh học,