intTypePromotion=4
Array
(
    [0] => Array
        (
            [banner_id] => 142
            [banner_name] => KM3 - Tặng đến 150%
            [banner_picture] => 412_1568183214.jpg
            [banner_picture2] => 986_1568183214.jpg
            [banner_picture3] => 458_1568183214.jpg
            [banner_picture4] => 436_1568779919.jpg
            [banner_picture5] => 
            [banner_type] => 9
            [banner_link] => https://tailieu.vn/nang-cap-tai-khoan-vip.html
            [banner_status] => 1
            [banner_priority] => 0
            [banner_lastmodify] => 2019-09-18 11:12:29
            [banner_startdate] => 2019-09-12 00:00:00
            [banner_enddate] => 2019-09-12 23:59:59
            [banner_isauto_active] => 0
            [banner_timeautoactive] => 
            [user_username] => minhduy
        )

)

Tiểu luận Kinh tế vĩ mô: Thâm hụt ngân sách ở Việt Nam thực trạng và giải pháp

Chia sẻ: Huy Nguyen | Ngày: | Loại File: DOCX | Số trang:23

0
1.296
lượt xem
428
download

Tiểu luận Kinh tế vĩ mô: Thâm hụt ngân sách ở Việt Nam thực trạng và giải pháp

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Tiểu luận Kinh tế vĩ mô: Thâm hụt ngân sách ở Việt Nam thực trạng và giải pháp trình bày về khái niệm về thâm hụt ngân sách, nguyên nhân gây thâm hụt ngân sách, ảnh hưởng của thâm hụt ngân sách nhà nước đối với nền kinh tế,...Mời bạn đọc cùng tham khảo.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Tiểu luận Kinh tế vĩ mô: Thâm hụt ngân sách ở Việt Nam thực trạng và giải pháp

  1. Thâm hụt ngân sách ở Việt Nam: Thực trạng và giải pháp Bài tiểu luận kinh tế vĩ mô 1
  2. Thâm hụt ngân sách ở Việt Nam: Thực trạng và giải pháp M ỤC L ỤC A.KHÁI NIỆM VỀ THÂM HỤT NGÂN SÁCH ......................................................................... 3 I – KHÁI NIỆM NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC & THÂM HỤT NGÂN SÁCH................................ 3 1.Ngân sách nhà nước: ........................................................................................................ 3 2.Thâm hụt ngân sách nhà nước: ......................................................................................... 3 3.Phân loại thâm hụt ngân sách nhà nước:........................................................................... 4 II – NGUYÊN NHÂN GÂY THÂM HỤT NGÂN SÁCH ........................................................... 4 1. Thất thu thuế nhà nước..................................................................................................... 5 2.Đầu tư công kém hiệu quả ................................................................................................. 5 3. Nhà nước huy động vốn để kích cầu................................................................................. 5 4. Chưa chú trọng mối quan hệ giữa chi đầu tư phát triển và chi thường xuyên ................... 6 5.Quy mô chi tiêu của chính phủ quá lớn. ............................................................................. 6 6.Bên cạnh đó, sự thiếu hụt ngân sách trong những năm qua còn được sử dụng như một công cụ trong chính sách tài khóa để kích thích sự tăng trưởng kinh tế ................................ 6 III- Ảnh hưởng của thâm hụt ngân sách nhà nước đối với nền kinh tế: ................................ 7 1.Thâm hụt ngân sách và vấn đề thoái lui đầu tư: ................................................................. 7 2.Thâm hụt ngân sách-Một trong những nguyên nhân gây ra lạm phát:.............................. 11 Tích cực .......................................................................................................................... 14 Tiêu cực .......................................................................................................................... 14 B- THỰC TRẠNG THÂM HỤT NGÂN SÁCH VIỆT NAM..................................................... 15 I – THỰC TRẠNG THÂM HỤT NGÂN SÁCH Ở NƯỚC TA TRONG NHỮNG NĂM GẦN ĐÂY (2000 – 2010) ............................................................................................................... 15 NHẬN XÉT:......................................................................................................................... 16 II – BỘI CHI NGÂN SÁCH VÀ MỐI LIÊN HỆ ĐẾN LẠM PHÁT VÀ MẤT CÂN ĐỐI VĨ MÔ ... 18 C. GIẢI PHÁP CHO VẤN ĐỀ THÂM HỤT NGÂN SÁCH VIỆT NAM.................................... 19 I – CÁC BIỆN PHÁP GIẢM THÂM HỤT NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC .................................... 19 II – NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA TRONG VIỆC XỬ LÝ THÂM HỤT NSNN Ở VIỆT NAM VÀ KIẾN NGHỊ ......................................................................................................................... 22 1. Những vấn đề đặt ra trong việc xử lý thâm hụt ngân sách NSNN ở Việt Nam:................ 22 2. Kiến nghị ......................................................................................................................... 25 2
  3. Thâm hụt ngân sách ở Việt Nam: Thực trạng và giải pháp A.KHÁI NIỆM VỀ THÂM HỤT NGÂN SÁCH I – KHÁI NIỆM NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC & THÂM HỤT NGÂN SÁCH 1.Ngân sách nhà nước: a) Khái niệm: Chính phủ sử dụng ngân sách để lập kế hoạch và kiểm soát các hoạt động tài khóa của mình. Một ngân sách, trong một năm nhất định, cho biết các khoản chi theo kế hoạch của các chương trình chính phủ và thu dự kiến từ hệ thống thuế. Ngân sách thường bao gồm một danh mục các chương trình cụ thể (giáo dục, phúc lợi, quốc phòng…) cũng như các nguồn thuế (thuế thu nhập cá nhân, thuế bảo hiểm xã hỗi…). b) Chức năng: Ngân sách của chính phủ phục vụ 3 chức năng kinh tế chính: Thứ nhất, nó là một công cụ mà theo đó sản lượng quốc gia được phân chia giữa tiêu dùng, đầu tư tư nhân và công cộng. Thứ hai, thông qua chi tiêu trực tiếp và các khuyến khích gián tiếp về thuế, ngân sách của chính phủ tác động đến cung các đầu vào như lao động, vốn và tác động đến đầu ra của các khu vực từ ô tô cho đến đàn vĩ cầm. Thứ ba, chính sách tài khóa của chính phủ hay ngân sách có vai trò trong việc tác động đến những mục tiêu vĩ mô then chốt. Chính xác hơn, nói đến chính sách tài khóa có nghĩa là chúng ta nói đến quá trình xây dựng thuế khóa và chi tiêu công cộng nhằm hạn chế những dao động của chu kỳ kinh doanh và góp phần duy trì một nền kinh tế tăng trưởng, có mức hữu nghiệp cao, tránh được lạm phát lớn hay lạm phát không ổn định. 2.Thâm hụt ngân sách nhà nước: Thâm hụt ngân sách xảy ra khi chi vượt quá nguồn thu từ thuế. Khi lâm vào thâm hụt ngân sách, chính phủ phải đi vay công chúng để trả cho những khoản nợ của mình. Để vay, chính phủ phát hành trái phiếu, đó là hình thức ghi nợ (IOU) cam kết trả lại tiền tại một thời điểm trong tương lai. 3
  4. Thâm hụt ngân sách ở Việt Nam: Thực trạng và giải pháp 3.Phân loại thâm hụt ngân sách nhà nước: Tài chính công hiện đại phân loại thâm hụt ngân sách thành hai loại: thâm hụt cơ cấu và thâm hụt chu kỳ. a) Thâm hụt cơ cấu: Thâm hụt cơ cấu là các khoản thâm hụt được quyết định bởi những chính sách tùy biến của chính phủ như quy định thuế suất, trợ cấp bảo hiểm xã hội hay quy mô chi tiêu chogiáo dục, quốc phòng,... b) Thâm hụt chu kỳ: Thâm hụt chu kỳ là các khoản thâm hụt gây ra bởi tình trạng của chu kỳ kinh tế, nghĩa là bởi mức độ cao hay thấp của sản lượng và thu nhập quốc dân. Ví dụ khi nền kinh tế suy thoái, tỷ lệ thất nghiệp tăng sẽ dẫn đến thu ngân sách từ thuế giảm xuống trong khi chi ngân sách cho cho trợ cấp thất nghiệp tăng lên. Giá trị tính ra tiền của thâm hụt cơ cấu và thâm hụt chu kỳ được tính toán như sau:  Ngân sách thực có: liệt kê các khoản thu, chi và thâm hụt tính bằng tiền trong một giai đoạn nhất định (thường là một quý hoặc một năm).  Ngân sách cơ cấu: tính toán thu, chi và thâm hụt của chính phủ sẽ là bao nhiêu nếu nền kinh tế đạt mức sản lượng tiềm năng.  Ngân sách chu kỳ: là chênh lệch giữa ngân sách thực có và ngân sách cơ cấu. Việc phân biệt giữa ngân sách cơ cấu và ngân sách chu kỳ phản ánh sự khác nhau giữa chính sách tài chính: chính sách ổn định tùy biến và chính sách ổn định tự động. Việc phân biệt hai loại thâm hụt trên đây có tác dụng quan trọng trong việc đánh giá ảnh hưởng thực sự của chính sách tài chính khi thực hiện chính sách tài chính mở rộng hay thắt chặt sẽ ảnh hưởng đến thâm hụt ngân sách như thế nào giúp cho chính phủ có những biện pháp điều chỉnh chính sách hợp lý trong từng giai đoạn của chu kỳ kinh tế. II – NGUYÊN NHÂN GÂY THÂM HỤT NGÂN SÁCH Thâm hụt ngân sách do rất nhiều nguyên nhân, và có sự ảnh hưởng khác nhau đến sự cân đối vĩ mô của nền kinh tế. Về cơ bản, tình trạng thâm hụt ngân sách nhà nước gồm các nguyên nhân chính sau: 4
  5. Thâm hụt ngân sách ở Việt Nam: Thực trạng và giải pháp 1. Thất thu thuế nhà nước Thuế là nguồn thu chính và bền vững nhất cho ngân sách nhà nước bên cạnh các nguồn thu khác như tài nguyên, doanh nghiệp nhà nướcvay, nhận viện trợ…tuy nhiên, do hệ thống pháp luật ta còn nhiều bất cập, sự quản lí chưa chặt chẽ đã tạo kẻ hở cho các cá nhân, tổ chức lợi dụng để trốn thuế, gây thất thu một lượng đáng kể cho ngân sách nhà nước…điển hình, trong năm 2008 lượng thuốc lá nhập lậu vào nước ta đã làm thất thu thuế, lấy đi của ngân sách nhà nước 2.500- 3000 tỉ đồng. Ngoài ra, lượng thuốc lá nhập lậu còn làm chảy máu ngoại tệ của đất nước khoảng 200 triệu USD/năm, làm gia tăng thất nghiệp, ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển kinh tế. Bên cạnh đó, việc giãn thuế, giảm thuế và miễn thuế một mặt giúp các doanh nghiệp có thêm nguồn vốn đầu tư, duy trì và mở rộng sản xuất. Tuy nhiên,việc miễn thuế, giảm thuế hoặc chậm thu làm ảnh hưởng tới các khoản chi ngân sách khác gây thâm hụt ngân sách nhà nước. 2.Đầu tư công kém hiệu quả Trong 2 năm 2007 và 2008, nước ta đã tiếp nhận một lượng vốn rất lớn từ bên ngoài. Nhằm đẩy mạnh đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng và các công trình trọng điểm quốc gia phục vụ lợi ích phát triển của đất nước. Tuy nhiên, trên thực tế, tình trạng đầu tư dàn trải gây lãng phí ở các địa phương vẫn chưa được khắc phục triệt để, tiến độ thi công những dự án trọng điểm quốc gia còn chậm và thiếu hiệu quả, đã gây lãng phí nguồn ngân sách nhà nước và kiềm hãm sự phát triển của các vùng miền, là nguyên nhân chính dẫn đến thâm hụt ngân sách nhà nước. Bên cạnh đó, nền hành chính công - dịch vụ công của chúng ta quá kém hiệu quả. Chính sự kém hiệu quả này làm cho tình trạng thâm hụt ngân sách càng trở nên trầm trọng. 3. Nhà nước huy động vốn để kích cầu Chính phủ kích cầu qua 3 nguồn tài trợ chính là: Phát hành trái phiếu Chính phủ, miễn giảm thuế và sử dụng Quỹ dự trữ nhà nước. Sử dụng gói giải pháp kích cầu một mặt làm kích thích tiêu dùng, tăng trưởng kinh tế. Tuy nhiên, sẽ làm mức thâm hụt ngân sách tăng rất cao khoảng 8-12%GDP 5
  6. Thâm hụt ngân sách ở Việt Nam: Thực trạng và giải pháp 4. Chưa chú trọng mối quan hệ giữa chi đầu tư phát triển và chi thường xuyên Đây là một trong những nguyên nhân gây căng thẳng về ngân sách áp lực bội chi ngân sách (nhất là ngân sách các địa phương). Chúng ta có thể thấy, thông qua cơ chế phân cấp nguồn thu và nhiệm vụ chi giữa các cấp ngân sách và cơ chế bổ sung từ ngân sách cấp trên cho ngân sách cấp dưới. Ngân sách địa phương được phân cấp nguồn thu ứng với các nhiệm vụ chi cụ thể và được xác định cụ thể trong dự toán ngân sách hằng năm. V ì vậy, khi các địa phương vay vốn để đầu tư sẽ đòi hỏi bảo đảm nguồn chi thường xuyên để bố trí cho việc vận hành các công trình khi hoàn thành và đi vào hoạt động cũng như chi phí duy tu, bảo dưỡng các công trình, làm giảm hiệu quả đầu tư. Chính điều đó luôn tạo sự căng thẳng về ngân sách.Để có nguồn kinh phí hoặc phải đi vay để duy trì hoạt động hoặc yêu cầu cấp trên bổ sung ngân sách, cả hai trường hợp đều tạo áp lực bội chi NSNN. 5.Quy mô chi tiêu của chính phủ quá lớn. Tăng chi tiêu của chính phủ một mặt giúp nền kinh tế tăng trưởng tạm thời trong ngắn hạn, nhưng lại tạo ra những nguy cơ bất ổn lâu dài như lạm phát và rủi ro tài chính do sự thiếu hiệu quả của các khoản chi tiêu công và thiếu cơ chế giám sát đảm bảo sự hoạt động lành mạnh của hệ thống tài chính. Lý thuyết kinh tế không chỉ ra một cách rõ ràng về hướng tác động chi tiêu của chính phủ đối với tăng trưởng kinh tế. Tuy nhiên đa số các nhà kinh tế thường thống nhất rằng chi tiêu của chính phủ một khi vượt quá một ngưỡng nào đó sẽ làm cản trở tăng trưởng kinh tế do gây ra phân bổ nguồn lực một cách không hiệu quả dẫn tới thâm hụt ngân sách nhà nước và cuối cùng là gây ra lạm phát. 6.Bên cạnh đó, sự thiếu hụt ngân sách trong những năm qua còn được sử dụng như một công cụ trong chính sách tài khóa để kích thích sự tăng trưởng kinh tế Chúng ta có thể dễ dàng nhận ra điều này thông qua cân đối NSNN hằng năm. Về nguyên tắc, sau khi lấy tổng thu trừ đi tổng chi trong năm sẽ xác định được số thặng dư hoặc thiếu hụt ngân sách trong năm. Tuy nhiên, khi cân đối ngân sách chúng ta thường xác định số bội chi trước (thông thường tương đương với mức Quốc hội cho phép) và nguồn còn lại được Quốc hội cho phép chuyển nguồn sang năm sau. Đây là chính sách ngân sách thận trọng khi áp dụng lý thuyết bội chi một cách chủ động và điều đó không gây xáo trộn trong chính sách kinh tế vĩ mô, nhưng phải cân nhắc và kiểm tra xem toàn bộ số bội chi có được sử dụng để chi đầu tư phát triển cho các dự án trọng điểm và hiệu quả qua 6
  7. Thâm hụt ngân sách ở Việt Nam: Thực trạng và giải pháp đó tạo thêm công ăn việc làm, tạo đà cho nền kinh tế phát triển, tăng khả năng thu NSNN trong tương lai hay không. III- Ảnh hưởng của thâm hụt ngân sách nhà nước đối với nền kinh tế: 1.Thâm hụt ngân sách và vấn đề thoái lui đầu tư: Các biện pháp của chính sách tài khoá chủ động gây nên thâm hụt cơ cấu và kéo theo hiện tượng tháo lui đầu tư. * Thoái lui đầu tư và thị trường tiền tệ Cơ chế thoái giả m là: Khi Chính phủ tăng chi tiêu cho các dự án của mình trong ngắn hạn, theo mô hình số nhân, nếu không có thay đổi nào trong thị trường tài chính thì GDP sẽ tăng lên ΔG x Số nhân của nền kinh tế. Nhưng khi GDP tăng lên, nhu cầu về tiền giao dịch cũng tăng lên. Mức GDP cao hơn có chiều hướng đi đến thắt chặt tiền tệ (đặc biệt là trong trường hợp NHTW quan tâm đến lạm phát). Lãi suất tăng và thắt chặt tín dụng sẽ có chiều hướng bóp nghẹt hay “thoái lui” đầu tư và những chi tiêu có nhạy cảm với lãi suất. Kết quả là dẫn đến tổng cầu giả m, sản lượng và công ăn việc làm giả m xuống. Tuy nhiên, cơ chế thoái giả m này chỉ áp dụng cho thâm hụt cơ cấu. Không áp dụng cho thâm hụt chu kỳ (thâm hụt tăng do suy thoái) vì suy thoái gây ra giảm cầu tiền và dẫn đến lãi suất giả m. Thoái lui không được áp dụng trong các cuộc đại suy thoái là một nhắc nhở: không có liên hệ nghiễm nhiên nào giữa thâm hụt và đầu tư. * Tác động của thâm hụt cơ cấu Hầu hết các nhà kinh tế học vĩ mô đều đồng ý rằng: Thoái lui thực sự chỉ là một hiệu ứng phụ của chi tiêu Chính phủ. Tuy nhiên, vẫn có tranh luận trong vấn đề đầu tư bị giả m đi bao nhiêu và những khu vực nào chịu tác động nhiều nhất. 7
  8. Thâm hụt ngân sách ở Việt Nam: Thực trạng và giải pháp Thoái lui hoàn toàn, đây là trường hợp cực đoan nhất của thoái lui khi mà phản ứng tiền tệ là quá mạnh. Giả sử rằng, khi mà NHTW xác định bất kỳ sự tăng lên nào trong sản lượng cũng đều có nguy cơ gây ra lạm phát. Bởi vậy, NHTW sẽ tăng lãi suất lên đủ để bù lại mọi tác động mở rộng của các chương trình Chính phủ. Tuy nhiên, do có phản ứng tiền tệ, nên lãi suất tăng lên, làm giảm đầu tư và xuất khẩu ròng. Vậy, trong trường hợp cực đoan thoái lui 100%, phản ứng này mạnh đến nỗi đường chi tiêu (tổng cầu) mới dịch chuyển xuống quay trở lại vị trí của đường tổng cầu ban đầu. Nói cách khác là thắt chặt tiền tệ đã làm triệt tiêu toàn bộ sự mở rộng tài khóa. Phản ứng tiền tệ có thể dẫn đến thoái giảm đầu tư hoàn toàn Chi tiêu Chính phủ làm tăng tổng cầu, nhưng lãi suất cao hơn dẫn đến sự giảm sút của đầu tư và xuất khẩu ròng (do việc tăng tỷ giá hối đoái của đồng nội tệ). 8
  9. Thâm hụt ngân sách ở Việt Nam: Thực trạng và giải pháp Cuối cùng lãi suất phải tăng đủ mạnh để giảm đầu tư và xuất khẩu ròng đúng bằng lượng G đã tăng lên. Tóm lại, trong trường hợp cực đoan của phản ứng tiền tệ mạnh, đầu tư bị thoái lui 100% do sự tăng lên trong chi tiêu của Chính phủ. Thoái lui có thể xảy ra khi NHTW có hành động nhằm triệt tiêu tác động mở rộng tài khóa thông qua thắt chặt tiền tệ. Từ đồ thị trên ta có thể thấy 2 bước: Bước 1: Tăng chi tiêu bằng tiền cho hàng hóa và dịch vụ làm dịc chuyể đường tổng cầu (C+I+G+NX) lên đến đường tổng mới (C+I+G’+NX). Bước 2: Phản ứng của tiền tệ làm tăng lãi suất và làm giảm những bộ phận nhạy cảm với lãi suất, dẫn đến tổng cầu giảm xuống đường (C+I”+G’+NX”) và điểm cân bằng mới là điểm E”, đúng với điể m cân bằng lúc ban đầu tại điể m E. Trong trường hợp này đầu tư và xuất khẩu ròng bị chi tieeucuar Chính phủ làm thoái lui hoàn toàn. Mục đích của việc nghiên cứu cơ chế này là giúp ta có giải pháp để phối hợp giữa các chính sách kinh tế trong việc ổn định hóa nền kinh tế. Nghịch lý của khuyến khích đầu tư: Một trường hợp ực đoan lien quan đến nghịch lý của tiết kiệm, xảy ra khi đầu tư trên thực tế được khuyến khích bằng những thâm hụt lớn. Lập luận này có cơ sỏ như sau: Lãi suất cao không khuyến khích đầu tư. Mặt khác sản lượng cao hơn kích thích đầu tư (theo nguyên tắc gia tốc) do các doanh nghiệp mua nhiều vốn hơn và nhà xưởng hiện tại được tận dụng nhiều hơn. Từ đó đầu tư có thể được chính sách tài khóa kích thích khi năng lực sản xuất còn chua được sử dụng hết. 9
  10. Thâm hụt ngân sách ở Việt Nam: Thực trạng và giải pháp Có thể khuyến khích đầu tư khi nguồn lực chưa được sử Đầu tư có thể được khuyến khích bằng thâm hụt cao hơn khi còn các nguồn lực chưa được sử dụng hết và khi đầu tư phản ứng lại với mức sản lượng tăng cao hơn. Khi thực hiện chính sách tài khóa mở rộng (tăng mua sắm hàng hóa và dịch vụ), chi tiêu của Chính phủ tăng từ G lên G’ thì tổng cầu dịch chuyển lên trên tới đường tổng cầu mới là AD’= C+I+G’+NX, sản lượng cân bằng tăng lên. Mức sản lượng cao hơn lại kích đầu tư cao hơn, đầu tư tăng từ I lên I’. Điểm cân bằng cuối cùng được kết thúc ở E’, chính là giao điểm của đường tổng cầu AD”=C+I’+G’+NX với đường 450. Nghịch lý này có thể xuất hiện khi nguồn lực chưa được sử dụng hết và sản lượng được quyết định bởi tổng cầu chứ không phải bởi phía cung. 10
  11. Thâm hụt ngân sách ở Việt Nam: Thực trạng và giải pháp 2.Thâm hụt ngân sách-Một trong những nguyên nhân gây ra lạm phát: Giả định rằng, chia chi tiêu Chính phủ làm hai phần: - Chi tiêu hàng hóa và dịch vụ của Chính phủ (G) - Chi trả lãi (i.B) Trong đó: i: lãi suất danh nghĩa về trái phiếu của Chính phủ. B: giá trị danh nghĩa của các trái phiếu mà chính phủ chưa thanh toán. Những nguồn thu nhập chính của Chính phủ gồ m: - Thuế thu nhập (T) chưa khấu trừ các khoản thanh toán chuyển nhượng. - ΔB là lượng trái phiếu phát hành thêm. - Phát hành thêm công nợ bằng tiền của Chính phủ (ΔH)-bộ phận này gọi là cơ sở; ký hiệu là H gồm: + Tiền mặt do Chính phủ nắ m giữ. + Tiền dự trữ trong các ngân hàng. Như vậy cả B và H đều là công nợ của Chính phủ. nhưng khác biệt duy nhất giữa B và H là các trái phiếu (B) thì được trả lãi, còn lượng tiền cơ sở (H) thì không. Từ đây ta có thiết lập một phương trình như sau: (G – T) + (i*B)/P = ΔB/P + ΔH/P 11
  12. Thâm hụt ngân sách ở Việt Nam: Thực trạng và giải pháp Trong phương trình trên, (G – T) được gọi là số thâm hụt cơ bản tức là thâm hụt mà Chính phủ phải trang trải, không kể những khoản lãi phải trả cho những trái phiếu chưa đến hạn thanh toán. Do G và T được biểu hiện bằng số tiền thực tế vì vậy để đảm bảo tính thống nhất thì ta chia các số hạng còn lại cho mức giá chung (P). Qua đây, ta cũng có thể thấy 2 phương pháp có thể dùng để tài trợ thâm hụt ngân sách của Chính phủ đó là: Phát hành thêm trái phiếu của Chính phủ, được biểu thị bằng ΔB và phát hành thêm khối lượng tiền cơ sở, được biểu thị bằng ΔH. Vì vậy, phương trình trên còn được gọi là phương trình biểu thị tài trợ thâm hụt ngân sách của Chính phủ. Ta sẽ xem xét tác động của lạm phát đến thâm hụt ngân sách Nhà nước. Lạm phát làm tăng lãi suất danh nghĩa (i), như vậy các nhân tố trong phương trình trên sẽ có sự biến động. Tuy nhiên, với tác động phân phối lại của cải một cách ngẫu nhiên, thì lạ m phát cũng làm dễ dàng hơn cho Chính phủ. Để làm rõ vấn đề này ta sẽ đi từ phương trình biểu thị tài trợ thâm hụt ngân sách ở trên: (G – T) + (i*B)/P = ΔB/P + ΔH/P (G – T) + (i*B)/P = (ΔB/P)*(B/B) + (ΔH/P)*(H/H)  (G – T) + (i*B)/P = (ΔB/B)*(B/P) + (ΔH/H)*(H/P) Ở đây, trong phương trình này ta có: • (ΔB/B)*(B/P): là tích số giữa tỷ lệ % thay đổi trong trái phiếu (ΔB/B) với giá trị thực tế của những trái phiếu chưa đến hạn thanh toán (B/P). • (ΔH/H)*(H/P): là tích số giữa tỷ lệ % thay đổi trong lượng tiền cơ sở (ΔH/H) với giá trị thực tế của lượng tiền cơ sở (H/P). 12
  13. Thâm hụt ngân sách ở Việt Nam: Thực trạng và giải pháp Nếu ta giả định (B/P) và (H/P) là ổn định và tuân theo quy luật về trạng thái đều đều của mô hình cơ bản Solow về tăng trưởng, thì mức % tăng của trái phiếu (B) giả sử biểu thị bằng chữ (b) và mức % tăng của H biểu thị bằng chữ (h) sẽ phải bằng mức tỉ lệ lạm phát (gp). Nói cách khác, ta sẽ biểu thị các ký hiệu như sau: ΔB/B = b ΔH/H = h ΔP/P = gp Trong đó thì: b = h = gp Thay (gp) vào phương trình và chuyển (i*B)/P sang vế phải ta được: G – T = (gp) * (H/P) – (i – gp) * (B/P) (gp) * (H/P) biểu thị tích số của mức lạ m phát với lượng tiền cơ sở thực tế. Số thu nhập mà Chính phủ thu được từ lạm phát gọi là thuế lạm phát. Nhưng lạm phát không thể xóa bỏ trách nhiệ m mà Chính phủ là phải trả lãi cho những trái phiếu chưa đến hạn thanh toán còn đang nằm trong tay công chúng. Trong phương trình vừa biến đổi trên thì Chính phủ chỉ phải lo chi trả tiền lãi thực tế của dịch vụ trái phiếu. Biểu thức (i*B/P – gp*B/P) cho biết khi Chính phủ chi trả cho những người có trái phiếu với lãi danh nghĩa (i) – đồng thời người có trái phiếu lại giao lại cho Chính phủ một phần của (i) để mua những trái phiếu bổ xung đủ để giữ cho những tài sản trái phiếu thực tế (B/P) của họ không thay đổi (vì chúng ta đã giả định ở trên là B/P ổn định). Kết luận: Khi nền kinh tế có lạm phát, Chính phủ được hai cái lợi: Một là: Chính phủ có thêm một nguồn thu nhập đó là thuế lạm phát. 13
  14. Thâm hụt ngân sách ở Việt Nam: Thực trạng và giải pháp Hai là: Chính Phủ có thể được lợi nếu lạm phát làm cho lãi suất danh nghĩa tăng ít hơn bản thân mức tăng của lạm phát. Bội chi ngân sách nhà nước (hay còn gọi là thâm hụt ngân sách nhà nước) có thể ảnh hưởng tích cực hoặc tiêu cực đến nền kinh tế một nước tùy theo tỉ lệ thâm hụt và thời gian thâm hụt. Nói chung nếu tình trạng bội chi ngân sách nhà nước với tỷ lệ cao và trong thời gian dài sẽ gây ảnh hưởng tiêu cực. Tích cực Sự thâm hụt ngân sách trong những năm qua được sử dụng như là một công cụ củachính sách tài khóa để tăng trưởng kinh tế. Tiêu cực  Việc gia tăng thâm hụt ngân sách sẽ có thể dẫn đến giảm tiết kiệm nội địa, giảm đầu tư tư nhân, hay gia tăng thâm hụt cán cân tài khoản vãng lai, giả m tăng trưởng trong dài hạn.  Thâm hụt ngân sách cao và kéo dài còn làm xói mòn niề m tin đối với năng lực điều hành vĩ mô của chính phủ. Nó cũng làm tăng mức lạ m phát kỳ vọng của người dân và của các nhà đầu tư vì họ cho rằng Chính phủ trước sau gì cũng sẽ phải in thêm tiền để tài trợ thâm hụt.  Thâm hụt ngân sách cao và lâu dài tất yếu dẫn tới việc nhà nước buộc phải phát hành thêm tiền để tài trợ thâm hụt, và điều này đến lượt nó dẫn tới lạm phát.  Gia tăng thâm hụt ngân sách sẽ làm tăng nợ quốc gia, khiến sự tăng trưởng của sản lượng tiềm năng chậm lại.  Thâm hụt còn làm cho các nhà hoạt động chính sách không thể hoặc không sẵn sàng sử dụng các gói kích thích tài chính đúng thời điể m.  Để bù lại các khoản thâm hụt chính phủ buộc phải tăng thuế hoặc vay nợ thông qua phát hành trái phiếu. Thuế làm méo mó nền kinh tế, gây ra tổn thất vô ích về phúc lợi xã hội và các doanh nghiệp phải chịu chi phí lớn hơn, làm giả m động lực sản xuất và khả năng cạnh tranh. Đồng thời mức tiêu dùng cũng giảm- >giả m tổng cầu.  Tóm lại: Thâm hụt ngân sách cao, kéo dài đe dọa sự ổn định vĩ mô. 14
  15. Thâm hụt ngân sách ở Việt Nam: Thực trạng và giải pháp B- THỰC TRẠNG THÂM HỤT NGÂN SÁCH VIỆT NAM I – THỰC TRẠNG THÂM HỤT NGÂN SÁCH Ở NƯỚC TA TRONG NHỮNG NĂM GẦN ĐÂY (2000 – 2010) Đặc điểm căn bản của ngân sách nhà nước là sự thâm hụt triền miên ở mức cao. Đồng thời, nợ công có khuynh hướng tăng liên tục trong 10 năm qua. Năm 2009 có thâm hụt đặc biệt cao vì đây là năm thực hiện gói kích thích kinh tế lớn để chống suy thoái kinh tế. Trong những năm gần đây, ngân sách nhà nước cũng đã có chuyển biến đáng kể. Tốc độ tăng thu hàng năm bình quân là 18,8%. Tốc độ tăng chi bình quân hàng năm đạt 18,5%. Bội chi NSNN trong giai đoạn này về cơ bản đuợc cân đối ở mức 5% GDP. Đơn vị tính: Tỷ Đồng Năm Số Bội chi Bội chi so với GDP 2001 25.885 4,67% 2002 25.597 4,96% 2003 29.936 4,9% 2004 34.703 4,85% 2005 40.746 4,86% 2006 48.500 5% 2007 56.500 5% 2008 66.200 4,95% 2009 142.355 6,9% 2010 119.700 6,2% Giả m một cách đáng kế thâm hụt ngân sách Nhà nước được coi là thành tựu đáng kể của quá trình đổi mới kinh tế ở nước ta. Thành tựu này đă góp phần to lớn vào quá trình đẩy lùi lạm phát ở nước ta cuối những năm 80. Giảm thâm hụt ngân sách đạt được là do kết quả của những biện pháp cứng rắn như cắt giả m chi tiêu chính phủ, xóa bỏ dần các loại trợ cấp qua giá, lương, trợ cấp cho 15
  16. Thâm hụt ngân sách ở Việt Nam: Thực trạng và giải pháp xí nghiệp quốc doanh… Nhiều năm thâm hụt giảm xuống dưới 5% so với GDP – một kết quả đáng khích lệ. Tình hình thâm hụt ngân sách của Việt Nam từ 2000 đến 2008 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008 TỔNG THU 90749 103888 123860 152274 190928 228287 279472 315915 416783 TỔNG CHI 108961 129773 148208 181183 214176 262697 308058 399402 494600 THÂM HỤT -18212 -25885 -24348 -28909 -23248 -34410 -28586 -83487 -77817 NHẬN XÉT: +trong giai đoạn 2000-2008, tổng chi luôn lớn hơn tổng thu, khoảng chênh lệch thu – chi ngày càng tăng. + tốc độ tăng thâm hụt diễn ra liên tục và ngày càng nhanh, đặc biệt là giai đoạn 2007 – 2008. 16
  17. Thâm hụt ngân sách ở Việt Nam: Thực trạng và giải pháp + tỷ trọng tăng thâm hụt trong GDP cao, hầu hết trên 5%. +tốc độ tăng thâm hụt chịu ảnh hưởng bởi các yếu tố như: thiên tai, suy giả m kinh tế, kích cầu dẫn tới tốc độ tăng thâm hụt đột biến năm 2007- 2008; tình hình thế giới ( giá dầu, suy thoái). Năm 2007: tổng cục Thống kê cho biết, tổng thiệt hại do thiên tai, chủ yếu là do sạt lở đất, mưa to và bão lũ gây ra ở 50 tỉnh, thành phố trên cả nước trong năm 2007 ước tính lên tới trên 11.600 tỷ đồng, bằng khoảng 1% GDP; giá dầu thô trên thị trường thế giới năm 2007 giảm->giảm thu ngân sách,giảm thếu nhập khẩu xăng dầu, trợ giá cho xăng dầu_>tăng mức thâm hụt Năm 2008: chính phủ kích cầu nền kinh tế, trị giá gói kích thích lên tới … tỷ USD->tăng thâm hụt 8-12%GDP, giảm thu từ thuế Năm 2009: Riêng IMF đã yêu cầu Chính phủ Việt Nam giám sát chặt chẽ các khoản chi tiêu công. Theo đại diện của IMF, thì thâm hụt ngân sách của Việt Nam trong năm 2009 đã lên tới 9% GDP, theo cách tính của IMF. Tỷ lệ này cao hơn nhiều so với mức Việt Nam công bố chỉ là 6,9% GDP. Năm 2010: Bội chi ngân sách năm 2010 ở mức 6.2% GDP, giảm đáng kể so với năm 2009(6,9% GDP). 17
  18. Thâm hụt ngân sách ở Việt Nam: Thực trạng và giải pháp II – BỘI CHI NGÂN SÁCH VÀ MỐI LIÊN HỆ ĐẾN LẠM PHÁT VÀ MẤT CÂN ĐỐI VĨ MÔ Bội chi ngân sách nhà nước (hay còn gọi là thâm hụt ngân sách nhà nước) có thể ảnh hưởng tích cực hoặc tiêu cực đến nền kinh tế một nước tùy theo tỉ lệ thâm hụt và thời gian thâm hụt. Nói chung nếu tình trạng bội chi ngân sách nhà nước với tỷ lệ cao và trong thời gian dài sẽ gây ảnh hưởng tiêu cực. Nhìn vào những nước đã từng trải qua lạm phát cao sẽ thấy rằng, lạm phát ở những nước này thường là hệ quả của việc in tiền nhằm tài trợ cho thâm hụt ngân sách. Như vậy, thâm hụt ngân sách cao và lâu dài tất yếu dẫn tới việc nhà nước buộc phải phát hành thêm tiền để tài trợ thâm hụt, và điều này đến lượt nó dẫn tới lạm phát. Từ góc độ này nhìn lại nền kinh tế Việt Nam, mặc dù Luật Ngân sách 1993 không cho phép nhà nước in tiền để tài trợ thâm hụt ngân sách, nhưng với lượng tiền đồng trong lưu thông lớn như hiện nay (khoảng 16% GDP) thì chỉ cần duy trì tốc độ in thêm tiền đúng bằng tốc độ tăng trưởng kinh tế (giả sử là 8%) thì nhà nước cũng đã có thêm được 1,3% GDP để tài trợ cho thâm hụt ngân sách (chưa kể đến “thuế lạm phát” cao ở Việt Nam trong mấy năm qua). Bên cạnh một số nguyên nhân khách quan khác, thì lạm phát ở Việt Nam còn do đầu tư công và nền hành chính công - dịch vụ công của chúng ta quá kém hiệu quả. Chính sự kém hiệu quả này, đến lượt mình, lại làm cho tình trạng thâm hụt ngân sách càng trở nên trầm trọng, và “vòng xoáy đi xuống” của kinh tế vĩ mô sẽ lại tiếp diễn. Cũng cần nhấn mạnh thêm là “dòng xoáy đi xuống” này một khi đã được khởi động thì rất khó dừng lại chứ đừng nói tới khả năng đổi chiều. Vì vậy, nhóm giải pháp thứ hai của Thủ tướng yêu cầu “cắt giảm đầu tư công và chi phí thường xuyên của các cơ quan sử dụng ngân sách, kiểm soát chặt chẽ đầu tư của các doanh nghiệp nhà nước, cố gắng giảm tỷ lệ thâm hụt ngân sách” cần phải được thực hiện một cách triệt để và nhất quán. Nếu không giảm được thâm hụt ngân sách thì nhóm giải pháp thứ nhất - thắt chặt tiền tệ - sẽ bị vô hiệu hóa đáng kể, và vì vậy không thể đạt được mục tiêu mong muốn là kiềm chế lạm phát.  Việc gia tăng thâm hụt ngân sách sẽ có thể dẫn đến giảm tiết kiệm nội địa, giảm đầu tư tư nhân, hay gia tăng thâm hụt cán cân tài khoản vãng lai, giảm tăng trưởng trong dài hạn.  Thâm hụt ngân sách cao và kéo dài còn làm xói mòn niề m tin đối với năng lực điều hành vĩ mô của chính phủ. Nó cũng làm tăng mức lạ m phát kỳ vọng của người dân và của các nhà đầu tư vì họ cho rằng Chính phủ trước sau gì cũng sẽ phải in thêm tiền để tài trợ thâm hụt. 18
  19. Thâm hụt ngân sách ở Việt Nam: Thực trạng và giải pháp  Thâm hụt ngân sách cao và lâu dài tất yếu dẫn tới việc nhà nước buộc phải phát hành thêm tiền để tài trợ thâm hụt, và điều này đến lượt nó dẫn tới lạm phát.  Gia tăng thâm hụt ngân sách sẽ làm tăng nợ quốc gia, khiến sự tăng trưởng của sản lượng tiềm năng chậm lại.  Thâm hụt còn làm cho các nhà hoạt động chính sách không thể hoặc không sẵn sàng sử dụng các gói kích thích tài chính đúng thời điể m.  Để bù lại các khoản thâm hụt chính phủ buộc phải tăng thuế hoặc vay nợ thông qua phát hành trái phiếu. Thuế làm méo mó nền kinh tế, gây ra tổn thất vô ích về phúc lợi xã hội và các doanh nghiệp phải chịu chi phí lớn hơn, làm giảm động lực sản xuất và khả năng cạnh tranh. Đồng thời mức tiêu dùng cũng giả m->giả m tổng cầu. Tóm lại: Thâm hụt ngân sách cao, kéo dài đe dọa sự ổn định vĩ mô. C. GIẢI PHÁP CHO VẤN ĐỀ THÂM HỤT NGÂN SÁCH VIỆT NAM I – CÁC BIỆN PHÁP GIẢM THÂM HỤT NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC Vì được đặt trong bối cảnh chống lạm phát nên chính sách ngân sách (hay chính sách tài khóa) của Chính phủ trong thời gian qua chỉ hướng đến mục đích giảm 19
  20. Thâm hụt ngân sách ở Việt Nam: Thực trạng và giải pháp chi tiêu công (gồm đầu tư công và chi thường xuyên) và qua đó giảm tổng cầu. Cụ thể là Chính phủ chỉ thị: (i) Cắt giảm nguồn đầu tư từ ngân sách và tín dụng nhà nước; (ii) Rà soát và cắt bỏ các hạng mục đầu tư kém hiệu quả của doanh nghiệp nhà nước(Doanh nghiệp nhà nước); (iii) Cắt giảm chi thường xuyên của bộ máy nhà nước các cấp. Tổng đầu tư của Nhà nước (từ ngân sách, tín dụng nhà nước và thông qua Doanh nghiệp nhà nước) luôn chiếm trên dưới 50% tổng đầu tư của toàn xã hội. Vì vậy, không nghi ngờ gì, nếu Nhà nước có thể cắt giảm một số khoản đầu tư kém hiệu quả và có thứ tự ưu tiên thấp thì sức ép gia tăng lạm phát chắc chắn sẽ nhẹ đi. Cũng tương tự như vậy, lạm phát cũng sẽ được kiềm chế bớt nếu các cơ quan nhà nước có thể cắt giảm chi thường xuyên (chiếm 56% tổng chi ngân sách năm 2007) Mặc dù chính sách cắt giảm chi tiêu công là hoàn toàn đúng đắn, song hiệu lực của những biện pháp cụ thể đến đâu thì còn chưa chắc chắn vì ít nhất có bốn lý do. Thứ nhất, việc cắt giảm, thậm chí giãn tiến độ đầu tư công không hề dễ dàng, nhất là khi những dự án này đã được các cơ quan lập pháp các cấp quyết định; đã được đưa vào quy hoạch của các bộ, ngành, địa phương; đã được triển khai; và nhất là khi chúng gắn với lợi ích thiết thân của những cơ quan liên quan đến dự án. Thứ hai, Nhà nước hầu như không thể kiểm soát các khoản đầu tư của các Doanh nghiệp nhà nướcmột mặt là do chính sách phân cấp trong quản lý đầu tư, và mặt khác là do một số tập đoàn lớn đã tự thành lập ngân hàng riêng. Thứ ba, với tốc độ lạm phát như hiện nay thì chỉ cần giữ được tổng mức đầu tư công theo đúng dự toán cũng đã được coi là một thành tích đáng kể. Thứ tư, kinh nghiệm quốc tế cho thấy rằng vì việc giảm chi thường xuyên rất khó khăn nên đây thường là hạng mục cuối cùng nằm trong danh sách cắt giảm. Hơn thế, với thực tế ở Việt Nam thì phạm vi chi thường xuyên có thể cắt giảm không nhiều. Đầu tiên là phải trừ đi quỹ lương (chiếm khoảng 2/3 tổng chi thường xuyên), sau đó phải trừ đi các khoản phụ cấp có tính chất lương, chi chính sách chế độ, tiền đóng niêm liễn cho các tổ chức quốc tế, các khoản chi thường xuyên đã được thực hiện… Theo ước lượng của Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư thì nếu làm thật quyết liệt thì sẽ giảm được khoảng 3.000 tỉ đồng chi hội họp và mua sắm xe - tức là giảm được khoảng 0,8% tổng chi ngân sách. Giảm thâm hụt ngân sách bằng cơ chế quản lý đầu tư công Chính sách giảm tổng cầu thông qua thắt chặt chi tiêu công là đúng đắn, cần thiết nhưng chưa đủ. Nỗ lực giảm chi tiêu công của Chính phủ chỉ thực sự có hiệu lực nếu như Chính phủ đồng thời có cơ chế để đảm bảo những khoản đầu tư còn lại có hiệu quả. Đầu tiên là phải có cơ chế quản lý đầu tư công sao cho 20

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

Đồng bộ tài khoản