
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾTP HỒ CHÍ MINH
----------------------------------
BÀI TIỂU LUẬN
Đề tài 9:
TÓM LƯỢC LÝ THUYẾT VỀ MỐI QUAN HỆ
GIỮA LẠM PHÁT MỤC TIÊU VÀ TĂNG
TRƯỞNG KINH TẾ
LỚP KI001 – VB2K15
NHÓM 10
TP. HCM, tháng 10-2012

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾTP HỒ CHÍ MINH
----------------------------------
BÀI TIỂU LUẬN
Đề tài 9:
TÓM LƯỢC LÝ THUYẾT VỀ MỐI QUAN HỆ
GIỮA LẠM PHÁT MỤC TIÊU VÀ TĂNG
TRƯỞNG KINH TẾ
GVHD: Thầy TRƯƠNG MINH TUẤN
Danh sách nhóm 10
STT TÊN THÀNH VIÊN CHỮ KÝ
Nguyễn Thị Thanh
Nga
50 Trương Ái Ngân
79 Trương Thùy Trinh
76 Đoàn Thị Minh
Trâm
68 Nguyễn Hoài Thu

MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU
CHƯƠNG I: LÝ LUẬN VỀ LẠM PHÁT MỤC TIÊU VÀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ
I. NHỮNG CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ LẠM PHÁT MỤC TIÊU..................................................................1
1. Lạm phát mục tiêu là gì..............................................................................................1
2. Đặc tính chung của cơ chế lạm phát mục tiêu ..............................................................5
3. Các ưu điểm và hạn chế của cơ chế Lạm phát mục tiêu ................................................7
3.1. Các ưu điểm....................................................................................................7
3.2. Những hạn chế.................................................................................................8
II. TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ................................................................................................................9
CHƯƠNG II: MỐI QUAN HỆ GIỮA LẠM PHÁT MỤC TIÊU VÀ TĂNG TRƯỞNG
KINH TẾ
I. CÁC NGHIÊN CỨU VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA LẠM PHÁT MỤC TIÊU VÀ TĂNG TRƯỞNG
KINH TẾ NƯỚC NGOÀI...............................................................................................................11
II. CÁC NGHIÊN CỨU VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA LẠM PHÁT MỤC TIÊU VÀ TĂNG TRƯỞNG
KINH TẾ TẠI VIỆT NAM .............................................................................................................16
CHƯƠNG III: LẠM PHÁT Ở VIỆT NAM VÀ KHẢ NĂNG ÁP DỤNG CƠ CHẾ LẠM
PHÁT MỤC TIÊU TẠI VIỆT NAM
I. LẠM PHÁT Ở VIỆT NAM..........................................................................................................19
II. MỐI QUAN HỆ GIỮA LẠM PHÁT MỤC TIÊU VÀ TĂNG TRƯỞNG Ở VIỆT NAM ................20
III. KHẢ NĂNG ÁP DỤNG CƠ CHẾ LẠM PHÁT MỤC TIÊU Ỡ VIỆT NAM.................................23
TÀI LIỆU THAM KHẢO
DANH MỤC BẢNG, BIỂU ĐỒ
1. Biểu đồ : Tốc độ tăng giá tiêu dùng (CPI) cuối kỳ giai đoạn 2001 – 2011 .......................................19
2. Bảng : Lạm phát CPI và tốc độ tăng GDP ở Việt Nam từ 1987 đến 2010........................................21

LỜI NÓI ĐẦU
Trước những năm 90 trên thế giới, hầu hết các nước đều chọn khối lượng tiền
(M2, M3…) hoặc tỉ giá làm mục tiêu trung gian trong điều hành chính sách tiền tệ
(CSTT) quốc gia. Tuy nhiên, vào đầu những năm 90, một số nước phát triển đã có
sự thay đổi trong việc lựa chọn các mục tiêu trung gian tương tự, mà tập trung vào
chỉ số lạm phát. Cách tiếp cận mới này tập trung vào nhiệm vụ kiểm soát lạm phát
và được gọi là lạm phát mục tiêu (Inflation Targeting). Chính sách lạm phát mục
tiêu là chính sách mà ngân hàng trung ương (NHTW) sẽ đưa ra mục tiêu lạm phát
trong một thời gian khá dài (thường là 5 năm) và được quyền chủ động sử dụng các
công cụ chính sách tiền tệ như nghiệp vụ thị trường mở, lãi suất cơ bản, tỷ giá .v.v
để đạt mục tiêu đó. Một chính sách lạm phát mục tiêu được coi là thành công nếu
rong quá trình thực hiện lạm phát sẽ vận động xoay quanh mức mục tiêu đã đề ra.
Chính sách lạm phát mục tiêu được áp dụng nhiều bởi các nước phát triển và
các nước mới nổi khi lãnh đạo các nước nhận định rằng, lạm phát hay nói cách khác
ổn định giá là mục tiêu chính của chính sách tiền tệ. Tùy từng thời kỳ, mức lạm phát
mục tiêu có thể có những điều chỉnh theo năm, tuy nhiên mức điều chỉnh không quá
lớn so với định hướng dài hạn đã xác định từ thời gian trước. Từ đầu những năm 90
thế kỷ 20, một số quốc gia đã tiên phong áp dụng nó là NHTW New Zealand
(1990); NHTW Canada (1991); Vuong quốc Anh (1992); Phần Lan, Thụy Ðiển, Úc
(1993)… Ngày nay, có khoảng 30 quốc gia đang áp dụng phương pháp tiếp cận mới
này và gần một nửa trong số đó là các quốc gia thuộc nhóm thị truờng mới nổi hoặc
quốc gia có thu nhập thấp. Ngoài ra, một số NHTW của các nền kinh tế phát triển
hơn - bao gồm ECB, FED, Ngân hàng Nhật Bản (BOJ) và Ngân hàng Quốc gia
Thụy Sỹ- đã vận dụng nhiều nội dung trong chính sách mục tiêu lạm phát, và một
số khác thì đang trong quá trình chuyển đổi sang chính sách mục tiêu lạm phát. Việt
Nam cũng đang bắt đầu nghiên cứu và định hướng chuyển đổi sang chính sách tiền
tệ này để thực hiện mục tiêu kiềm chế lạm phát trong bối cảnh nền kinh tế hiện nay.
Vậy việc theo đuổi một chính sách mục tiêu lạm phát trong trung và dài hạn
hạn cùng với việc sử dụng những công cụ chính sách tiền tệ tác đông vào nền kinh
tế để kiềm chế lạm phát theo mục tiêu đã đặt ra trước này có ảnh hưởng thế nào đến
tăng trưởng kinh tế của quốc gia và cụ thể trong bối cảnh nền kinh tế của nước ta?
Bài tiểu luận của Nhóm 10 sẽ tìm hiểu về mối quan hệ của giữa lạm phát mục tiêu
và tăng trưởng kinh tế, đồng thời đánh giá khả năng áp dụng chính sách lạm phát
mục tiêu ở Việt Nam.

Đề tài 9 Nhóm 10
1
CHƯƠNG I: LÝ LUẬN VỀ LẠM PHÁT MỤC TIÊU VÀ
TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ
I. NHỮNG CƠ SỞ LUẬN VỀ LẠM PHÁT MỤC TIÊU
1. Lạm phát mục tiêu là gì?
Lạm phát mục tiêu (inflation targeting) là một cơ chế chính sách tiền tệ
(CSTT) được áp dụng từ cuối những năm 1980 và đã tỏ ra khá thành công, kể cả
những quốc gia thị trường mới nổi như Chilê. Tại các quốc gia đang phát triển và
tăng trưởng kinh tế nhanh yêu cầu ổn định giá cả trong nền kinh tế là một điều cấp
thết bởi hiệu ứng tiêu cực của lạm phát đến nền kinh tế- sự méo mó của giá cả,
phân bố không hiệu quả các nguồn lực khan hiếm và mất công bằng xã hội. Tác
động tiêu cực của lạm phát đối với tăng trưởng kinh tế đã được đề cập trong nhiều
công trình nghiên cứu, chẳng hạn, Barro (1995); Bruno và Easterly (1995); Ghosh
và Phillips (1998)… Các nghiên cứu chỉ ra hậu quả của lạm phát là làm méo mó sự
phân bổ nguồn lực trong nền kinh tế, làm tổn thương các thành viên nghèo nhất
trong xã hội, gây bất ổn và tái phân phối thu nhập và tài sản một cách tùy tiện.
Lạm phát hủy hoại sự ổn định kinh tế và gây thất bại trong phát triển bền
vững. Sự lựa chọn cơ chế lạm phát mục tiêu như một công cụ quản lí kinh tế vĩ mô
ngày càng chứng tỏ sức sống của mình kể từ khi New Zealand, Canada thực hiện
thành công vào đầu những năm 90. Đến nay đã có gần 30 quốc gia và tới đây còn
nhiều quốc gia khác áp dụng cơ chế điều hành chính sách tiền tệ lạm phát mục tiêu
và đã thu được những kết quả đáng kể. Theo Loayza và Soto (2002), ngoại trừ hai
trường hợp đã tham gia Liên minh Tiền tệ châu Âu (Phần Lan và Tây Ban Nha),
không có quốc gia nào từ bỏ cơ chế này, xu hướng các quốc gia nghiêng sử dụng
công cụ chính sách này đề điều tiết nền kinh tế ngày càng nhiều nhưng có thể nói
rằng cơ chế này hiện vẫn còn hết sức mới mẻ và nhiều bàn cãi xung quanh. Vậy lạm
phát mục tiêu (LPMT) chính xác là gì?
Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) cho rằng: ”Chính sách tiền tệ lạm phát mục tiêu là
một bản thông báo ra công chúng về chỉ tiêu trung hạn của lạm phát cũng như uy tín
của cơ quan thẩm quyền về tiền tệ để đạt mục tiêu này. Các yếu tố khác bao gồm
phổ biến thông tin về các kế hoạch và mục tiêu của nhà hoạch định chính sách tiền
tệ tới công chúng và thị trường, cũng như trách nhiệm giải trình của Ngân hàng
Trung ương (NHTW) để đạt được các chỉ tiêu lạm phát của mình. Các quyết định

