
MÔ HÌNH CẢNH BÁO KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH CHO VIỆT NAM GV: TS. THÂN THỊ THU THỦY
NHÓM 1-ĐÊM 6-NH-CHK20
1
Tiểu luận
MÔ HÌNH CẢNH BÁO KHỦNG
HOẢNG TÀI CHÍNH CHO VIỆT NAM

MÔ HÌNH CẢNH BÁO KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH CHO VIỆT NAM GV: TS. THÂN THỊ THU THỦY
NHÓM 1-ĐÊM 6-NH-CHK20
2
Lý luận về khủng hoảng tài chính
1. Khái niệm về khủng hoảng tài chính
Khủng hoảng tài chính là một biến cố mà khi đó các khu vực tài chính và các tổ
chức kinh tế có sự vỡ nợ với số lượng lớn, các tập đoàn và định chế tài chính phải đối mặt với
rất nhiều khó khăn với những hợp đồng đến hạn thanh toán.
2. Một số dạng khủng hoảng tài chính đặc thù
2.1 Khủng hoảng tiền tệ (Goldstein, Kaminsky và Reinhart)
Là trạng thái mà ở đó, có một cuộc tấn công vào đồng tiền nội tệ dẫn đến sự thâm
hụt phần lớn dự trữ ngoại hối và làm mất giá nhanh chóng đồng tiền nội tệ.
2.2 Khủng hoảng ngân hàng (Demirgu Kunt và Detragiache 1998)
Khủng hoảng ngân hàng xảy ra nếu ít nhất 1 tiêu chí xảy ra:
+ Tỷ lệ nợ xấu NPLs so với tổng vốn cho vay trong hệ thống ngân hàng vượt quá
10%
+ Chi phí cho hoạt động cứu trợ ngân hàng tối thiểu bằng 2% GDP.
+ Giai đoạn cứu trợ kéo theo hoặc là quốc hữu hóa các ngân hàng ở quy mô lớn,
hoặc là hiện tượng rút tiền gửi ồ ạt khỏi ngân hàng, hoặc các biện pháp khẩn cấp khác như
đóng băng tiền gửi, cho phép ngân hàng nghỉ giao dịch, phát hành bảo lãnh Chính phủ.
2.3 Khủng hoảng nợ: là tình trạng một quốc gia không có khả năng chi trả các
khoản nợ vay đến hạn.
2.4 Khủng hoảng kép.
+ Khủng hoảng kép loại 1: là một cuộc khủng hoảng tiền tệ theo sau khủng
hoảng ngân hàng.
+ Khủng hoảng kép loại 2: là khủng hoảng nợ đi kèm với khủng hoảng tiền tệ.
3. Các mô hình khủng hoảng cơ bản
3.1 Mô hình khủng hoảng thế hệ thứ nhất
Mô hình khủng hoảng thế hệ thứ nhất được xây dựng bởi P. Krugman (1979), mô
hình này chủ yếu đặc trưng cho các cuộc khủng hoảng cán cân vãng lai trong điều kện tỷ giá
cố định bị các hoạt động đầu cơ tấn công.

MÔ HÌNH CẢNH BÁO KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH CHO VIỆT NAM GV: TS. THÂN THỊ THU THỦY
NHÓM 1-ĐÊM 6-NH-CHK20
3
3.2 Mô hình khủng hoảng thế hệ thứ hai
Mô hình khủng hoảng thế hệ thứ hai được Obstfeld (1994 và 1995) xây dựng.Mô
hình này đề cập về kỳ vọng của các nhà đầu tư về chính sách tỷ giá của Chính phủ là thả nổi
hay cố định từ đó đưa ra các cuộc tấn công tiền tệ.
3.3 Các mô hình khủng hoảng thế hệ thứ ba
Mô hình khủng hoảng thế hệ thứ ba được Yoshitomi và Ohno (1999) xây dựng,
đặc trưng cho các cuộc khủng hoảng tài khoản vốn trong cán cân thanh toán quốc tế. Việc tự
do hóa tài khoản vốn thiếu một trình tự thích hợp đã dẫn đến hai hệ quả là tiền đề cho cuộc
khủng hoảng kép:
+ Luồng vốn đổ vào ồ ạt vượt quá mức thâm hụt cán cân vãng lai: điều này dẫn
đến sự bành trướng tín dụng, đầu tư và tiêu dùng trong nước quá mức và kém hiệu quả
+ Vốn ngắn hạn chiếm tỷ trọng quá lớn.
I. Thực trạng thị trường tài chính Việt Nam
1. Mô hình giám sát tài chính hiện hành của Việt Nam
Hiện nay mô hình giám sát tài chính Việt Nam theo mô hình phân tán dựa trên cơ
sở thể chế. Theo đó NHNN thực hiện hoạt động thanh tra giám sát hoạt động các TCTD, Bộ
Tài chính thực hiện giám sát hoạt động chứng khoán và Bảo hiểm (chịu sự giám sát trực tiếp
của Ủy Ban chứng khoán Nhà nước và Cục Bảo hiểm).

MÔ HÌNH CẢNH BÁO KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH CHO VIỆT NAM GV: TS. THÂN THỊ THU THỦY
NHÓM 1-ĐÊM 6-NH-CHK20
4
2. Định hướng cấu trúc hệ thống tài chính Việt Nam
Lịch sử Việt Nam đã trải qua hơn 4.000 năm, nhưng có thể nói rằng hệ thống tài
chính Việt Nam - hệ thống tài chính do các ngân hàng đóng vai trò chủ đạo (theo trường phái
Đức – Nhật, các trung gian tài chính, nhất là các ngân hàng đóng vai trò chính) bắt đầu hình
thành rõ nét từ năm 1858, năm Việt Nam trở thành một nước phong kiến nửa thuộc địa của
Pháp. Đến cuối những năm 80, hệ thống Ngân hàng Nhà nước về cơ bản vẫn hoạt động như là
một công cụ ngân sách, chưa thực hiện các hoạt động kinh doanh tiền tệ theo nguyên tắc thị
trường. Sự thay đổi về chất trong hoạt động của hệ thống ngân hàng - chuyển dần sang hoạt
động theo cơ chế thị trường chỉ được bắt đầu khởi xướng từ cuối những năm 80, và kéo dài cho
tới ngày nay. Sau sự đổ bể của hệ thống các quỹ tín dụng trong giai đoạn 1986-1990, hai pháp
lệnh Ngân hàng ra đời (Pháp lệnh Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Pháp lệnh Ngân hàng, hợp
tác xã tín dụng và công ty tài chính) đã chính thức chuyển cơ chế hoạt động của hệ thống Ngân hàng
Việt Nam từ 1cấp sang 2 cấp – trong đó lần đầu tiên đối tượng nhiệm vụ và mục tiêu hoạt động
của mỗi cấp được luật pháp phân biệt rạch ròi:
Ngân hàng Nhà nước thực thi nhiệm vụ Quản lý nhà nước về hoạt động kinh
doanh tiền tệ, tín dụng, thanh toán, ngoại hối và ngân hàng; Thực thi nhiệm vụ của một Ngân
hàng Trung ương - là ngân hàng duy nhất được phát hành tiền; Là ngân hàng của các ngân hàng và
là Ngân hàng của Nhà nước.
Cấp Ngân hàng kinh doanh thuộc lĩnh vực lưu thông tiền tệ, tín dụng, thanh toán,
ngoại hối và dịch vụ ngân hàng trong toàn nền kinh tếquốc dân do các Định chế tài chính Ngân
hàng và phi ngân hàng thực hiện.
3. Bức tranh thị trường tài chính Việt Nam năm 2011 và những triển vọng tài
chính năm 2012
3.1 Bức tranh thị trường tài chính Việt Nam 2011
Bước vào năm 2011, khó khăn và thách thức đều lớn hơn so với dự báo. Giá
lương thực thực phẩm, giá dầu thô và nguyên vật liệu trên thị trường quốc tế tăng cao; thị
trường chứng khoán sụt giảm mạnh; khủng hoảng nợ công ở nhiều nước; tăng trưởng kinh tế
thế giới chậm lại, lạm phát cao tại hầu hết các quốc gia... tác động tiêu cực vào nền kinh tế

MÔ HÌNH CẢNH BÁO KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH CHO VIỆT NAM GV: TS. THÂN THỊ THU THỦY
NHÓM 1-ĐÊM 6-NH-CHK20
5
nước ta. Ở trong nước, lạm phát và mặt bằng lãi suất tăng cao; nhập siêu lớn, cán cân thanh
toán quốc tế thâm hụt, dự trữ ngoại hối giảm mạnh gây áp lực lên thị trường tiền tệ và tỷ giá;
giá vàng trên thị trường biến động bất thường. Sản xuất kinh doanh gặp nhiều khó khăn.
Nguy cơ mất ổn định kinh tế vĩ mô trở thành thách thức lớn...
Trước bối cảnh đó, Chính phủ đã nhất quán điều hành chính sách tài chính-tiền tệ thắt chặt
- Tiết kiệm thêm 10% chi thường xuyên từ ngân sách nhà nước, cắt giảm đầu tư công;
đồng thời, miễn, giảm nhiều loại thuế cho doanh nghiệp và cá nhân. Kết quả là, bội chi ngân
sách nhà nước cả năm 2011 giảm xuống còn 4,9% GDP (kế hoạch là 5,3%), thu ngân sách
tăng, đáp ứng nhu cầu chi và dành một phần để tăng chi trả nợ.
- Chính sách tiền tệ được xử lý chặt chẽ, linh hoạt và có nhiều quyết đoán mạnh mẽ
hơn: ước cả năm, tổng dư nợ tín dụng tăng 12%, lãi suất tín dụng đã có xu hướng giảm.
- Thị trường ngoại hối chuyển biến tích cực, tỷ giá dần ổn định, trạng thái ngoại hối
của hệ thống ngân hàng, dự trữ ngoại tệ và cán cân thanh toán quốc tế được cải thiện. Mua
bán ngoại tệ và kinh doanh vàng được kiểm soát khá chặt chẽ và có kết quả bước đầu.
- Nợ công được giữ ở mức an toàn (cuối năm 2011 ước khoảng 54,6% GDP).
- Xuất khẩu tăng cao, nhập khẩu được kiểm soát. Nhập siêu giảm mạnh, cả năm dự kiến
khoảng 10 tỷ USD, bằng 10,5% tổng kim ngạch xuất khẩu, thấp hơn chỉ tiêu kế hoạch (không
quá 18%), đã góp phần tích cực cải thiện cán cân thanh toán và ổn định tỷ giá...
Tuy nhiên, năm 2011 vẫn ghi nhận những cú ”sốc” kinh tế trên nhiều lĩnh vực
- Điển hình là việc dồn dập điều chỉnh tỷ giá và tăng giá xăng, dầu, điện.
- Sự chênh lệch kéo dài giá vàng trong và ngoài nước gây khá nhiều tranh cãi và tạo
lúng túng cho ngân hàng
- Những nghi ngại của người dân về cố gắng kiểm soát thị trường ngoại hối theo tinh
thần Nghị quyết 11/NQ-CP ngày 23/2/2011 của Chính phủ đặc biệt là các động thái cố gắng
khống chế trần lãi suất huy động và hạn mức tín dụng, hạn chế đối tượng được tiếp cận giao
dịch tín dụng ngoại tệ, thậm chí tịch thu ngoại tệ buôn bán ”ngoài luồng”; lập rào cản hành

