intTypePromotion=3

Tiểu luận: Mối quan hệ giữa Đảng và Nhà nước trong hệ thống chính trị thời kỳ đổi mới

Chia sẻ: Nguyễn Minh Đạt | Ngày: | Loại File: DOC | Số trang:23

2
1.549
lượt xem
469
download

Tiểu luận: Mối quan hệ giữa Đảng và Nhà nước trong hệ thống chính trị thời kỳ đổi mới

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Một yêu cầu khách quan, bức xúc đó chính là vấn đề đổi mới hệ thống chính trị ở nước ta hiện nay, bao gồm việc đổi mới và hoàn thiện trước hết quan hệ giữa Đảng, Nhà nước và các tổ chức chính trị - xã hội. Đó là nội dung chủ yếu và căn bản của đổi mới hệ thống chính trị ở nước ta và là vấn đề có tầm quan trọng chiến lược. Trong hệ thống chính trị nước ta hiện nay, mối quan hệ giữa Đảng và Nhà nước đã và đang giữ vai trò chủ đạo. Thực chất mối quan...

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Tiểu luận: Mối quan hệ giữa Đảng và Nhà nước trong hệ thống chính trị thời kỳ đổi mới

  1. TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ - XÃ HỘI TIỂU LUẬN ĐƯỜNG LỐI CÁCH MẠNG CỦA ĐCSVN Chuyên đề: “Mối quan hệ giữa Đảng và Nhà nước trong hệ thống chính trị thời kỳ đổi mới” : Tạ Quang Giảng Giảng viên hướng dẫn Mã lớp học phần : K54PTNT Nhóm : 24 : Nhóm 2 Nhóm sinh viên thực hiện Họ Tên Lớp STT Mã SV Nguyễn Minh Đạt CNSH53 1 533252 (NT) Trần Tiến Đạt 2 542383 K54PTNT Đào Minh Đức 3 533046 K53QTKDC Phan Đình Đức 4 542385 PTNT-K54 Đào Ngọc Hà 5 540825 K54KHCTB Nguyễn Thị Thu Hà 6 532220 K53MTA Phan Thị Hải 7 530309 BVTVA-K53 Tống Thị Hải 8 540649 KDNNK54 Nguyễn Thị Hạnh 9 542389 K54PTNT Văn Thị Thanh Hào 10 540652 K54KDNN 1
  2. Hà Nội – 5/2011 MỤC LỤC 1. Đặt vấn đề....................................................................................................................3 2. Mục tiêu nghiên cứu.....................................................................................................3 3. Phương pháp nghiên cứu.............................................................................................3 II. Nội dung...........................................................................................................................3 1. Hệ thống chính trị ........................................................................................................4 2. Mối quan hệ giữa Đảng và Nhà nước trong hệ thống chính trị ở nước ta thời kỳ trước đổi mới (1945 – 1986).........................................................................................................4 2.1. Sơ lược quá trình hình thành và phát triển quan hệ giữa Đảng và Nhà nước. .....4 2.2. Những ưu điểm, hạn chế trong mối quan hệ giữa Đảng và Nhà nước thời kỳ trước đổi mới............................................................................................................................5 3. Hệ thống chính trị Việt Nam thời kỳ đổi mới................................................................8 3.1. Bản chất của hệ thống chính trị ở nước ta hiện nay ...........................................8 3.2. Đặc điểm của hệ thống chính trị ở nước ta hiện nay...........................................8 3.3. Mục tiêu, quan điểm và chủ trương xây dựng hệ thống chính trị ......................10 3.4. Chủ trương xây dựng Đảng và chủ trương xây dựng Nhà nước pháp quyền Xã hội chủ nghĩa .........................................................................................................................11 4. Mối quan hệ giữa Đảng và Nhà nước trong hệ thống chính trị thời kỳ đổi mới........14 4.1 Vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước ......................................................14 4.2. Vai trò quản lý của nhà nước dưới sự lãnh đạo của Đảng ................................16 4.3. Những khuyết điểm, hạn chế trong mối quan hệ Đảng-Nhà nước-nhân dân . . .18 4.4. Cách khắc phục những khuyết điểm, hạn chế trong mối quan hệ Đảng-nhà nước-nhân dân. ......................................................................................................................19 5. Đoàn viên, thanh niên cần làm gì để xây dựng hệ thống chính trị ...........................21 III. Kết luận.........................................................................................................................22 IV. Tài liệu tham khảo........................................................................................................22 I. Mở đầu 2
  3. 1. Đặt vấn đề Một yêu cầu khách quan, bức xúc đó chính là vấn đề đổi mới hệ thống chính trị ở nước ta hiện nay, bao gồm việc đổi mới và hoàn thiện trước hết quan hệ giữa Đảng, Nhà nước và các tổ chức chính trị - xã hội. Đó là nội dung chủ yếu và căn bản của đổi mới hệ thống chính trị ở nước ta và là vấn đề có t ầm quan trọng chiến lược. Trong hệ thống chính trị nước ta hiện nay, mối quan hệ giữa Đảng và Nhà nước đã và đang giữ vai trò chủ đạo. Thực chất mối quan hệ giữa Đảng, Nhà nước và các tổ chức chính trị - xã hội là quan hệ với nhân dân, với xã h ội. Tư tưởng lấy dân làm gốc là căn cứ quan trọng nhất để xác l ập và gi ải quy ết quan hệ nội tại giữa các tổ chức chính trị, trước h ết là Đảng và Nhà n ước. Trong điều kiện Đảng cầm quyền, quan hệ chủ yếu giữa Đảng với nhân dân ch ủ y ếu thông qua Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân. Nhằm giải quyết vấn đề “mối quan hệ giữa Đảng và Nhà nước trong hệ thống chính trị thời kỳ đổi mới ”, bài tiểu luận xin được trình bày về bản chất và đặc điểm cơ bản của hệ thống chính trị, mối quan hệ giữa Đảng và Nhà nước qua các thời kỳ trước đổi mới để so sánh với vai trò của Đ ảng và Nhà n ước trong hệ thống chính trị thời kỳ đổi mới. Qua đó nh ằm nổi bật và nêu m ột s ố hướng chủ đạo hiện nay trong việc tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng và nâng cao hiệu lực quản lý của Nhà nước. 2. Mục tiêu nghiên cứu - Những hiểu biết cơ bản về hệ thống chính trị - Phân tích mối quan hệ Đảng và Nhà nước trong hệ thống chính trị thời kỳ đổi mới. - Tìm hiểu vấn đề tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng và nâng cao hiệu lực quản lý của Nhà nước trong thời kỳ đổi mới. 3. Phương pháp nghiên cứu Dựa trên những tài liệu thu thập được trên internet, sách báo đ ể t ổng h ợp, phân tích mối quan hệ Đảng và Nhà nước trong hệ thống chính trị thời kỳ đổi mới; tìm hiểu vấn đề tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng và nâng cao hi ệu lực quản lý của Nhà nước dưới sự lãnh đạo của Đảng trong thời kỳ đổi mới. Qua đó làm nổi bật vai trò lãnh đạo của Đảng đ ối v ới nhà n ước và vai trò qu ản lý của nhà nước đối với xã hội dưới sự lãnh đạo của Đảng. II. Nội dung 3
  4. 1. Hệ thống chính trị Theo nghĩa rộng : Hệ thống chính trị là khái niệm dùng để chỉ toàn bộ lĩnh vực chính trị của đời sống xã hội, với tư cách là m ột h ệ th ống bao g ồm các tổ chức, các chủ thể chính trị, các quan điểm, quan hệ chính trị, h ệ t ư t ưởng và các chuẩn mực chính trị. Theo nghĩa hẹp : Hệ thống chính trị là khái niệm dùng để chỉ hệ thống các tổ chức, các cơ quan thực hiện chức năng chính trị trong XH như các đảng chính trị, các cơ quan nhà nước, các tổ chức chính trị-xã hội có m ối quan h ệ trực tiếp hay gián tiếp với quyền lực chính trị. Hệ thống chính trị của chủ nghĩa xã hội được quan niệm là hệ thống các tổ chức chính trị - xã hội mà nhờ đó nhân dân lao động thực thi quền lực của mình trong xã hội. Hệ thống chính trị này bao trùm và điểu ch ỉnh mọi quan hệ chính trị giữa các giai cấp, tầng lớp xã hội; giữa các dân t ộc trong c ộng đ ồng xã hội; giữa các yếu tố trong xã hội, tập thể và cá nhân về vấn đề quy ền lực, về hoạch định đường lối, chủ trương chính sách phát triển xã hội. Hệ thống chính trị ở Việt Nam hiện nay bao gồm Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và 5 đoàn thể chính trị - xã hội, và các mối quan h ệ gi ữa các thành tố trong hệ thống. 2. Mối quan hệ giữa Đảng và Nhà nước trong hệ thống chính trị ở nước ta thời kỳ trước đổi mới (1945 – 1986) 2.1. Sơ lược quá trình hình thành và phát triển quan hệ giữa Đảng và Nhà nước Giai đoạn 1945-1954, khi chưa có chính quyền, Đảng đã lãnh đạo nhân dân đứng lên giành chính quyền. Khi đã có chính quy ền, Đảng ta trở thành Đ ảng cầm quyền lãnh đạo nhà nước, bảo vệ sự tồn tại của nhà nước. Để thực hiện tốt nhiệm vụ chính trị là huy động sức mạnh toàn dân tộc tiến hành th ắng lợi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và can thiệp Mỹ, vai trò lãnh đ ạo c ủa Đảng đối với Nhà nước và toàn bộ hệ thống chính trị được thực hiện theo phương châm lãnh đạo trực tiếp, tuyệt đối và toàn diện. Mối quan h ệ giữa Đảng và Nhà nước được đặt trong hệ thống chính trị dân chủ nhân dân. Giai đoạn 1954-1975, giai đoạn này, chúng ta phải đối mặt với âm mưu chia cắt đất nước lâu dài của đế quốc Mỹ, do đó, phương châm lãnh đạo trực tiếp, tuyệt đối và toàn diện của Đảng đối với Nhà nước và xã h ội v ẫn đ ược thực hiện trong giai đoạn này. Quan hệ giữa Nhà nước với Đảng lúc này được 4
  5. thực hiện theo nguyên tắc “hai trong một” hay “một mà hai” và đã phát huy được tính hiệu quả trong hoạt động lãnh đạo cũng như trong quản lý xã hội. Giai đoạn 1975-1986, nước ta đang ở trong cơ chế tập trung và bao cấp, theo đó, Đảng cũng tập trung và bao cấp đối với Nhà nước và xã h ội. Nh ưng khi cả nước bước vào thời kỳ hòa bình, xây dựng thì cơ ch ế lãnh đ ạo và qu ản lý cũ không còn phù hợp. Những hạn chế và yếu kém trong lãnh đạo và quản lý của Đảng và Nhà nước ngày càng bộc lộ rõ ràng và quyết liệt hơn. Mối quan hệ giữa Đảng và Nhà nước từ năm 1986 trở lại đây đã có s ự thay đổi, đổi mới chính trị và hệ thống chính trị. Nh ận th ức v ề ch ức năng, v ị trí và vai trò của Nhà nước ngày càng đúng đắn và rõ ràng hơn; phân định rõ ch ức năng quản lý c ủa Nhà nước và chức năng lãnh đạo của Đảng; Nhà nước th ực hiện đúng chức năng và nhiệm vụ là cơ quan quản lý c ủa Nhà nước đ ối v ới xã hội; vị trí vai trò và trụ cột của Nhà nước trong h ệ th ống chính trị được xác đ ịnh rõ ràng hơn và được củng cố vững chắc hơn. Đảng và Nhà n ước ta ch ủ tr ương đổi mới và hoàn thiện mối quan hệ giữa Đảng và Nhà nước đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; yêu cầu dân ch ủ hóa, xây dựng nhà nước pháp quyền và xã hội công dân; đáp ứng yêu cầu hội nh ập với thế giới. 2.2. Những ưu điểm, hạn chế trong mối quan hệ giữa Đảng và Nhà nước thời kỳ trước đổi mới 2.2.1 Ưu điểm - Đảng Cộng sản Việt Nam với sự đúng đắn ngay từ đầu về đường lối, vững vàng về tư tưởng chính trị, chặt chẽ về tổ chức, dám xả thân vì độc lập dân tộc; với bản lĩnh chính trị kiên cường đã vượt qua sự đàn áp khốc liệt của kẻ thù, được quần chúng hết lòng tin yêu, che chở và ủng hộ. - Ngay sau khi chính quyền dân chủ nhân dân được thành lập, trong hoàn cảnh muôn vàn khó khăn phức tạp, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh v ẫn quy ết tâm lãnh đạo xây dựng một bộ máy Nhà nước kiểu mới, làm cho chính quy ền thực sự là của dân, do dân, vì dân, được nhân dân ủng hộ và bảo vệ. - Đảng, Nhà nước và các tổ chức chính trị xã hội đều là thành viên c ủa h ệ thống chính trị Việt Nam, được tổ chức rộng khắp, chặt chẽ theo nguyên t ắc tập trung dân chủ; có địa vị pháp lý vững chắc, có tính gắn kết, th ống nh ất cao về ý chí và hành động, có những bước tiến cơ bản về dân chủ, có ti ềm năng 5
  6. sáng tạo dồi dào. Đó là quan hệ chủ đạo, nền tảng trong h ệ th ống chính tr ị Vi ệt Nam. 2.2.2. Hạn chế Hạn chế, khuyết điểm chủ yếu của Đảng về mặt tư tưởng còn mắc bệnh rập khuôn, máy móc (ấu trĩ, tả khuynh), chủ quan duy ý chí, nôn nóng, mu ốn đ ốt cháy giai đoạn. Về mặt tổ chức còn chậm trễ, trì trệ trong công tác cán bộ. V ề tác phong, lề lối làm việc vừa bao biện, làm thay chính quyền, vừa buông lỏng lãnh đạo Nhà nước về nhiều mặt. Kỷ luật Đảng còn lỏng l ẻo, không th ực hi ện đúng nguyên tắc tập trung dân chủ Với nhận thức rập khuôn, máy móc và kinh viện, chúng ta đã ph ải tr ả giá ngay trong thực tiễn cao trào 1930-1931 và Xô viêt Ngh ệ Tĩnh. ‘Trí, phú, đ ịa, hào, đào tận gốc, trốc tận rễ” mà Chỉ thị thanh Đảng của Xứ ủy Trung Kỳ đưa ra đã đem lại hậu quả Đảng bị khủng bố trắng. Bước vào thời kỳ cả nước thống nhất đi lên chủ nghĩa xã hội, chúng ta cũng mắc ph ải nhiều sai l ầm, khuyết điểm, thể hiện rõ nhất là tập trung quan liêu, duy ý chí. Đặc biệt là thiếu dân chủ, việc xác định phương hướng phát triển, mục tiêu, nhiệm vụ cụ th ể, biện pháp thực hiện còn chưa chính xác, thiếu căn cứ khoa h ọc. phong cách lãnh đạo, lề lối làm việc của Đảng thời kỳ này còn mang nặng dấu ấn của thời chiến. Hiệu lực của nhà nước chưa được phát huy mạnh mẽ . Pháp chế XHCN còn lỏng lẻo, kỷ cương xã hội bị buông lỏng. Bộ máy của nhiều cấp chính quyền còn cồng kềnh, quyền hạn và trách nhiệm chưa rành mạch; lối làm vi ệc quan liêu, xa quần chúng, xa thực tế. Tình trạng phân tán, cục bộ, địa phương bản vị còn khá phổ biến. Lòng tin của nhân dân với Đảng, Nhà nước giảm sút: - Hiệu lực của bộ máy nhà nước, nhất là phương diện th ực hiện ch ức năng chuyên chính chưa được phát huy mạnh mẽ, bởi còn rất nhi ều v ấn đ ề còn bất cập (sự “lùng nhùng” giữa luật và lệ, sự nhầm lẫn giữa hai ch ức năng xã hội-chính trị và xã hội-dân sự) - Tổ chức bộ máy của cơ quan chính quyền các cấp phình to ra quá lớn, nhiều tầng lớp trung gian (ở cấp trung ương thời kỳ 1981-1985 có 26 bộ, 8 ủy ban và cơ quan ngang bộ, gần 20 tổng cục,…) -Đội ngũ cán bộ công chức chưa được đào tạo và bồi dưỡng một cách c ơ bản và có hệ thống, còn “chắp vá” nên họ chưa thành thạo kỹ năng quản lý điều 6
  7. hành, xử lý công việc chủ yếu dựa vào chủ nghĩa kinh nghiệm và tư duy cảm tính. 2.3. Nguyên nhân, bài học kinh nghiệm và ý nghĩa đối với việc đổi mới quan hệ giữa Đảng và Nhà nước trong hệ thống chính trị ở nước ta 2.3.1. Nguyên nhân của những hạn chế, yếu kém * Nguyên nhân khách quan - Thói quen, truyền thống lạc hậu và những di hại của chế độ phong kiến, thực dân - Chiến tranh giải phóng và bảo vệ Tổ quốc kéo dài 30 năm chi ph ối m ọi lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội, con người. * Nguyên nhân chủ quan - Do cơ chế tập trung quan liêu bao cấp và ph ương thức lãnh đạo hành chính, mệnh lệnh kéo dài đã kìm hãm sự phát triển kinh tế-xã h ội và mọi lĩnh vực hoạt động khác của đời sống xã hội. - Quan hệ giữa Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm ch ủ ch ưa được cụ thể hóa thành thể chế, mỗi thành viên chưa thực hiện tốt chức năng của mình. Sự phối hợp giữa các bộ phận chưa chặt chẽ, nhịp nhàng thông suốt trên tinh thần hợp tác xã hội chủ nghĩa. - Những sai lầm, khuyết điểm của Đảng là nguyên nhân làm hạn chế quan hệ giữa Đảng, Nhà nước và các tổ chức chính trị - xã h ội. Trong đó, Đ ảng và Nhà nước ta đã phạm một số sai lầm về chỉ đạo chi ến l ược và t ổ ch ức th ực hiện. Tồn tại tình trạng quan liêu hóa, hành chính hóa, xa dân và s ự gi ảm sút vai trò lãnh đạo của Đảng, Nhà nước và các tổ chức chính trị xã hội; một số cán b ộ, đảng viên thoái hóa biến chất làm giảm uy tín của Đảng và Nhà nước đối v ới nhân dân; công tác quần chúng của Đảng còn nhiều yếu kém, bất cập. 2.3.2. Bài học kinh nghiệm và ý nghĩa đối với việc đổi mới quan hệ giữa Đảng, Nhà nước và các tổ chức chính trị- xã hội ở nước ta hiện nay Thứ nhất, quán triệt tư tưởng “lấy dân làm gốc”, thực hiện và phát huy ngày càng đầy đủ hơn quyền làm chủ của nhân dân lao động. 7
  8. Thứ hai, quan tâm và giải quyết thỏa đáng lợi ích chính đáng, h ợp pháp của người lao động và các giai tầng xã hội, bảo đảm công bằng xã hội. Thứ ba, mọi chủ trương, đường lối của Đảng phải xuất phát từ thực tế, tôn trọng quy luật khách quan; phải phòng và ch ống nh ững nguy c ơ l ớn: sai l ầm về đường lối, bệnh quan liêu, xa rời quần chúng và sự thoái hóa biến chất của cán bộ, đảng viên. 3. Hệ thống chính trị Việt Nam thời kỳ đổi mới 3.1. Bản chất của hệ thống chính trị ở nước ta hiện nay Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, đội tiên phong của giai c ấp công nhân Việt Nam, nhân dân ta đã đứng lên làm cách mạng, giành lấy quy ền lực và tổ chức ra hệ thống chính trị của mình. Vì vậy, h ệ thống chính trị ở n ước ta có những bản chất sau: Một là, hệ thống chính trị ở nước ta mang bản chất của giai cấp công nhân , nghĩa là các tổ chức trong hệ thống chính trị đều đứng vững trên l ập tr ường quan điểm của giai cấp công nhân. Từ đó đã quy định ch ức năng, nhi ệm v ụ, phương hướng hoạt động của toàn bộ hệ thống chính trị, đảm bảo quy ền làm chủ của giai cấp công nhân và nhân dân lao động. Hai là, bản chất dân chủ của hệ thống chính trị ở nước ta thể hiện trước hết ở chỗ: Quyền lực thuộc về nhân dân với việc Nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, dưới sự lãnh đạo của Đảng – đội tiên phong c ủa giai c ấp công nhân, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, thiết lập sự thống trị của đa số nhân dân với thiểu số bóc lột. Ba là, bản chất thống nhất không đối kháng của hệ thống chính trị ở nước ta . Bản chất đó dựa trên cơ sở chế độ công hữu về tư liệu sản xuất chủ yếu, về sự thống nhất giữa những lợi ích căn bản của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và toàn thể dân tộc. 3.2. Đặc điểm của hệ thống chính trị ở nước ta hiện nay Hệ thống chính trị ở nước ta hiện nay có những đặc điểm cơ bản sau: 8
  9. Một là, các tổ chức trong hệ thống chính trị ở nước ta đều lấy chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động. Các quan điểm và nguyên tắc của chủ nghĩa Mác-Lênin, t ư tưởng H ồ Chí Minh đều được tổ chức trong hệ thống chính trị ở nước ta vận d ụng, ghi rõ trong hoạt động của từng tổ chức. Hai là, hệ thống chính trị ở nước ta đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Đảng là một tổ chức trong hệ thống chính trị nhưng có vai trò lãnh đạo các tổ chức trong hệ thống chính trị. Trong điều kiện cụ thể ở nước ta, do những phẩm chất của mình – Đảng là đại biểu cho ý chí và lợi ích th ống nh ất của các dân tộc; do truyền thống lịch sử mang lại và do những thành tựu rất to lớn đạt được trong hoạt động thực tiễn cách mạng Việt Nam d ưới s ự lãnh đ ạo của Đảng… làm cho Đảng ta trở thành Đảng chính trị duy nh ất có kh ả năng t ập hợp đông đảo quần chúng lao động để thực hiện lý tưởng của Đảng, nhân dân tự nguyện đi theo Đảng, thừa nhận vai trò lãnh đạo của Đảng trong th ực t ế. Đây là đặc trưng cơ bản của hệ thống chính trị ở nước ta. Ba là, hệ thống chính trị ở nước ta được tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc tập trung dân chủ. Nguyên tắc này được tất cả các tổ chức trong h ệ thống chính trị ở nước ta thực hiện. Việc quán triệt và thực hiện nguyên tắc tập trung dân ch ủ là nhân t ố c ơ b ản đảm bảo cho hệ thống chính trị có được sự thống nhất về tổ chức và hành động nhằm phát huy sức mạnh đồng bộ của toàn hệ th ống cũng nh ư của mỗi t ổ ch ức trong hệ thống chính trị. Bốn là, hệ thống chính trị bảo đảm sự thống nhất giữa bản chất giai cấp công nhân và tính nhân dân, tính dân tộc rộng rãi. Đây là đặc điểm khác biệt căn bản của hệ thống chính trị ở nước ta với hệ thống chính trị của các nước tư bản chủ nghĩa, thể hiện tính ưu việt của ch ế độ xã hội chủ nghĩa, sự thống nhất lợi ích giữa giai cấp công nhân, nhân dân lao động cũng như cả dân tộc, vì mục tiêu dân giàu, nước m ạnh, xã h ội công b ằng, dân chủ, văn minh. 9
  10. 3.3. Mục tiêu, quan điểm và chủ trương xây dựng hệ thống chính trị 3.3.1. Mục tiêu: - Mục tiêu chủ yếu của đổi mới hệ thống chính trị là nh ằm th ực hiện tốt h ơn dân chủ xã hội chủ nghĩa, phát huy đầy đủ quyền làm chủ c ủa nhân dân. Toàn bộ tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị ở nước ta trong giai đoạn mới là nhằm xây dựng và hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm quy ền lực thuộc về nhân dân. 3.3.2. Quan điểm: -Một là, kết hợp chặt chẽ ngay từ đầu đổi mới kinh tế với đổi mới chính trị, lấy đổi mới kinh tế làm trọng tâm, đồng thời từng bước làm đổi mới chính trị, l ấy đổi mới kinh tế làm trọng tâm, đồng thời từng bước đổi mới hệ thống chính trị. Xét trên tổng thể, Đảng ta bắt đầu công cuộc đổi mới về t ư duy chính tr ị trong việc hoạch định đường lối và các chính sách đối nội, đối ngoại. Không có sự đổi mới đó thì không có sự đổi mới khác. Song, Đảng ta đã đúng khi tập trung trước hết vào việc thực hiện thắng lợi nhiệm vụ đổi mới kinh tế, khắc ph ục khủng hoảng kinh tế - xã hội, tạo tiền đề cần thi ết v ề v ật ch ất và tinh th ần đ ể giữ vững ổn định chính trị, xây dựng, củng cố niềm tin của nhân dân, tạo điều kiện thuận lợi để đổi mới các mặt khác của đời sống xã hội. - Hai là, đổi mới tổ chức và phương thức hoạt động của h ệ thống chính trị không phải là hạ thấp hoặc thay đổi bản chất của nó, mà là nhằm tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng, hiệu lực quản lý của Nhà n ước, phát huy quy ền làm chủ của nhân dân, làm cho hệ thống chính trị hoạt động năng động h ơn, có hi ệu quả hơn, phù hợp với đường lối đổi mới toàn diện, đồng bộ đất n ước; đ ặc bi ệt là phù hợp với yêu cầu của nền kinh tế thị trường định h ướng xã h ội ch ủ nghĩa, của sự công nghiệp hoá hiện đại hoá gắn với kinh tế tri thức, với yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế. -Ba là, đổi mới hệ thống chính trị một cách toàn diện, đồng bộ, có kế thừa, có bước đi, hình thức và cách làm phù hợp. -Bốn là, đổi mới mối quan hệ giữa các bộ phận cấu thành của hệ thống chính trị với nhau và với xã hội, tạo ra sự vận động cùng chi ều theo h ướng tác đ ộng, thúc đẩy xã hội phát triển; phát huy quyền làm chủ của nhân dân. 10
  11. 3.4. Chủ trương xây dựng Đảng và chủ trương xây dựng Nhà nước pháp quyền Xã hội chủ nghĩa 3.4.1. Xây dựng Đảng trong hệ thống chính trị. Trước Đại hội X, Đảng ta xác định: Đảng Cộng sản Việt Nam là đ ội tiên phong của giai cấp công nhân, đại biểu trung thành của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc. Đại hội X đã bổ sung một số nội dung quan trọng: “Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao đ ộng và c ủa c ả dân t ộc Vi ệt Nam, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và c ủa dân tộc”. - Về phương thức lãnh đạo, Cương lĩnh năm 1991 xác định: “Đảng lãnh đạo xã hội bằng cương lĩnh, chiến lược, các định hướng về chính sách và chủ trương công tác; bằng công tác tuyên truyền, thuyết phục, vận động, tổ chức kiểm tra và bằng hành động gương mẫu của đảng viên. Đảng giới thi ệu nh ững đ ảng viên ưu tú có đủ năng lực và phẩm chất vào hoạt động trong các cơ quan lãnh đạo chính quyền và các đoàn thể. Đảng không làm thay công vi ệc c ủa các t ổ chức khác trong hệ thống chính trị”. - Về vị trí, vai trò của Đảng trong hệ thống chính trị, Cương lĩnh năm 1991 xác định: “Đảng lãnh đạo hệ thống chính trị, đồng thời là một bộ ph ận của hệ thống ấy. Đảng liên hệ mật thiết với nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân, hành động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật”. Trong quá trình đổi mới, Đảng ta luôn luôn coi trọng việc đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với hệ thống chính trị. Nghị quy ết trung ương 5 khoá X về “Tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đ ối với ho ạt động của hệ thống chính trị” đã chỉ rõ các mục tiêu gi ữ vững và tăng c ường vai trò lãnh đạo, nâng cao tính khoa học, năng lực và hiệu quả lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và toàn xã hội, sự gắn bó mật thiết giữa Đảng và nhân dân; nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của Nhà nước, chất lượng hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội; phát huy dân ch ủ, quy ền làm chủ của nhân dân; tăng cường kỷ luật, kỷ cương trong Đảng và trong xã h ội; làm cho nước ta phát triển nhanh và bền vững theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động của hệ thống chính trị phải được đặt trong tổng thể nhiệm vụ đổi mới và chỉnh đốn Đảng, tiến hành đồng bộ đối với đổi mới các mặt của công tác xây d ựng Đ ảng, với đổi mới tổ chức và hoạt động của cả hệ thống chính trị, nâng cao ch ất 11
  12. lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức; đồng bộ với đổi mới kinh tế, xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã h ội chủ nghĩa thích ứng v ới nh ững đòi hỏi của quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá và h ội nh ập kinh t ế qu ốc t ế của đất nước. Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động của hệ thống chính trị phải trên cơ sở kiên định các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng, thục hiện đúng nguyên tắc tập trung dân chủ; thực hiện dân chủ rộng rãi trong Đảng và trong xã hội, đẩy nhanh phân cấp, tăng cường chế độ trách nhiệm cá nhân, nhất là cá nhân người đứng đầu. Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động của hệ thống chính trị là công việc hệ trọng, đòi h ỏi ph ải chủ đ ộng, tích c ực, có quy ết tâm chính trị cao, đồng thời cần thận trọng, có bước đi v ững ch ắc, v ừa làm v ừa tổng kết, vừa rút kinh nghiệm. Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động của hệ thống chính trị ở mỗi cấp, mỗi ngành vừa phải quán triệt các nguyên t ắc chung, vừa phải phù hợp với đặc điểm, yêu cầu, nhiệm vụ của từng cấp, từng ngành. 3.4.2. Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. - Chủ trương xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa là sự kh ẳng định và thừa nhận Nhà nước pháp quyền là một tất yếu lịch sử. Trong l ịch sử loài người chỉ có 4 kiểu nhà nước. Nhà nước pháp quyền là cách thức t ổ ch ức phân công quyền lực của nhà nước. Nhà nước pháp quyền xã hội ch ủ nghĩa Việt Nam được xây dựng theo 6 đặc điểm sau đây: Một là, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước c ủa nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; tất cả quyền lực nhà nước thuộc v ề nhân dân. Đây là đặc trưng cơ bản, được ghi nhận trong Hiến pháp của nước ta và được thể hiện trong các quy định về nguyên tắc tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước từ trung ương đến địa phương của các cơ quan lập pháp, hành pháp và t ư pháp. Hai là, quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công và ph ối h ợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và t ư pháp. Đây vừa là nguyên tắc tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà n ước ta, v ừa là quan điểm chỉ đạo quá trình tiếp tục thực hiện việc cải cách bộ máy nhà nước. 12
  13. Ba là, Hiến pháp và các đạo luật giữ vị trí tối th ư ợng trong đi ều ch ỉnh các quan hệ thuộc tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Hệ thống pháp luật th ể hiện đầy đủ, đúng đắn ý chí của nhân dân, phù hợp với hiện th ực khách quan, thúc đẩy tiến bộ xã hội. Nghĩa vụ tuân theo Hiến pháp, pháp lu ật là c ủa t ất c ả công dân, không loại trừ đối với bất cứ ai. Bốn là, Nhà nước ta tôn trọng và bảo đảm quyền con người, quyền công dân; nâng cao trách nhiệm pháp lý giữa Nhà nước và công dân, th ực hành dân ch ủ, đồng thời tăng cường kỷ cương, kỷ luật. Mục tiêu cao cả của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh về bảo đảm quy ền con ng ười, quy ền công dân được thể chế hoá thành luật và được Nhà nước ta t ổ ch ức th ực hi ện có k ết quả. Năm là, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam tôn trọng và th ực hiện đầy đủ các điều ư ớc quốc tế mà Nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã ký kết hoặc tham gia. Sáu là, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam được t ổ ch ức và ho ạt động dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Đây là đặc trưng c ơ b ản để phân biệt nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và nhà nước pháp quy ền t ư sản chủ nghĩa. - Để việc xây dựng Nhà nước pháp quyền cần thực hiện tốt một số biện pháp lớn sau đây: Hoàn thiện hệ thống pháp luật, tăng tính cụ th ể, kh ả thi c ủa các quy đ ịnh • trong văn bản pháp luật. Xây dựng, hoàn thiện cơ chế kiểm tra, giám sát tính hợp hiến, hợp pháp trong các hoạt động và quy ết định c ủa các c ơ quan công quyền. Tiếp tục đổi mới tổ chức và hoạt động của Quốc hội. Hoàn thi ện c ơ ch ế • bầu cử nhằm nâng cao chất lượng đại biểu Quốc hội. Đổi mới quy trình xây dựng luật, giảm mạnh việc ban hành pháp lệnh. Thực hiện tốt hơn nhiệm vụ quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và chức năng giám sát tối cao. Đẩy mạnh cải cách hành chính, đổi mới tổ chức và hoạt động của Chính • phủ theo hướng xây dựng cơ quan hành pháp thống nhất, thông suốt, hi ện đại. 13
  14. Xây dựng hệ thống cơ quan tư pháp trong sạch, vững mạnh, dân chủ, • nghiêm minh, bảo vệ công lý, quyền con người. Xây dựng cơ ch ế phán quyết về những vi phạm hiến pháp trong hoạt động lập pháp, hành pháp và tư pháp. Nâng cao chất lượng hoạt động của Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân • dân, bảo đảm quyền tự chủ và tự chịu trách nhiệm của chính quyền địa phương trong phạm vi được phân cấp. 4. Mối quan hệ giữa Đảng và Nhà nước trong hệ thống chính trị thời kỳ đổi mới 4.1 Vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước “Đảng lãnh đạo hệ thống chính trị, đồng thời là một bộ phận của hệ thống ấy. Đảng lãnh đạo, tôn trọng và phát huy vai trò của Nhà nước; hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật”. (Điều lệ Đảng). Điều 4 của Hiến pháp Việt Nam (1992, sửa đổi) khẳng định vai trò lãnh đạo tuyệt đối của Đảng đối với Nhà nước và xã hội: “ Đảng Cộng sản Việt Nam, đội tiên phong của giai cấp công nhân Việt Nam, đại biểu trung thành quyền lợi của giai cấp công nhân, nhân dân lao đ ộng và của cả dân tộc, theo chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, là l ực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội”. Đảng lãnh đạo Nhà nước bằng cương lĩnh, chiến lược, các định h ướng về chính sách và những chủ trương công tác, lãnh đạo Nhà nước thể ch ế hóa thành Hiến pháp, pháp luật, chính sách và quản lý, đi ều hành m ọi m ặt đ ời s ống xã hội. Đảng lãnh đạo Nhà nước bằng đường lối, nghị quy ết, bằng công tác t ổ chức cán bộ và kiểm tra việc Nhà nước thực hiện chấp hành đường lối, nghị quyết, thông qua tổ chức Đảng trong các cơ quan Nhà nước và thông qua các c ơ quan chuyên trách của hệ thống Đảng. Mục tiêu lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước là phát huy vai trò của Nhà nước trong việc thể chế hoá, tổ chức thực hiện có hiệu quả những quan điểm chỉ đạo của Đảng đối với sự phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh, quốc phòng, đối ngoại. Mục tiêu quản lý của Nhà nước là biến toàn bộ quan điểm chỉ đạo của Đảng trên các phương diện tương ứng nói trên trở thành hiện thực. Đảng không trực ti ếp gi ải quy ết các công vi ệc c ủa Nhà nước. Nhà nước bằng quyền lực của mình có nhiệm vụ “bảo đảm và không ngừng phát huy quyền làm chủ về mọi mặt của nhân dân, nghiêm trị m ọi hành động xâm phạm lợi ích của Tổ quốc và của nhân dân, xây dựng đ ất n ước giàu mạnh, thực hiện công bằng xã hội, mọi người có cuộc sống ấm no, t ự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện”. 14
  15. Đảng kiểm tra và giám sát việc thực hiện đường lối, nghị quyết của Đảng thông qua hoạt động của tổ chức Đảng và đảng viên trong các cơ quan Nhà nước và dựa vào ý kiến của nhân dân. Đảng chăm lo công tác cán bộ, bồi dưỡng, lựa ch ọn cán bộ đ ưa ra ứng c ử vào các cơ quan dân cử, hoặc giới thiệu với Nhà nước để đề bạt, bổ nhiệm vào các cương vị chủ chốt ở các ngành, các cấp. Đảng tôn trọng cơ chế của Nhà nước về bầu cử, tuyển dụng, bổ nhiệm, miễn nhiệm cán bộ, không gò ép, áp đặt. Đảng lãnh đạo xây dựng bộ máy Nhà nước trong sạch, vững mạnh, thực sự là Nhà nước của dân, do dân và vì dân, theo nguyên tắc tập trung dân ch ủ, thống nhất quyền lực, phân công nhiệm vụ rõ ràng. Đảng lãnh đạo bằng công tác tư tưởng, tổ chức, cán bộ, vai trò tiên phong, gương m ẫu c ủa t ổ ch ức Đ ảng (như Đảng Đoàn, ban cán sự Đảng, tổ chức cơ sở Đảng) và đảng viên. Đảng lãnh đạo Nhà nước nhưng không bao biện làm thay công việc của Nhà nước. Đảng viên công tác trong cơ quan Nhà nước ph ải nghiêm ch ỉnh ch ấp hành nghị quyết của Đảng, làm tròn nhiệm vụ Đảng giao, gương mẫu thực hiện nhiệm vụ công tác, tuân theo pháp luật, không được lợi dụng chức quy ền làm điều sai trái, giành đặc quyền, đặc lợi. Tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước nh ằm gi ữ v ững bản chất giai cấp công nhân của Nhà nước, bảo đảm mọi quyền lực thuộc về nhân dân, đưa công cuộc đổi mới đi đúng định hướng xã hội chủ nghĩa. Đảng tăng cường lãnh đạo Nhà nước trên cả ba lĩnh vực lập pháp, hành pháp và tư pháp. Đứng trước công cuộc đổi mới, th ực hiện công nghi ệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Đảng tăng cường vai trò lãnh đạo đối với nhà nước thông qua các nội dung sau: Một là, nắm vững và thực hiện tốt ba nội dung trọng yếu v ề s ự lãnh đ ạo của Đảng đối với Nhà nước: - Lãnh đạo các cơ quan nhà nước kịp thời thể chế hóa đường lối, chính sách của Đảng thành pháp luật, nhất là các chủ trương v ề th ực hi ện quy ền làm chủ của nhân dân, về đổi mới thể chế kinh tế, về xây dựng quan hệ sản xuất theo định hướng xã hội chủ nghĩa, củng cố, nâng cao hi ệu qu ả c ủa kinh t ế nhà nước, phát triển kinh tế hợp tác. - Tăng cường quản lý cán bộ, đảng viên trong bộ máy nhà nước; xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức nhà nước trong sạch, vững mạnh, th ực s ự v ừa là người lãnh đạo, vừa là người đầy tớ trung thành của nhân dân. 15
  16. - Tăng cường kiểm tra tổ chức đảng và đảng viên trong các doanh nghi ệp nhà nước và cá doanh nghiệp khác, các tổ chức sự nghiệp, các cơ quan quản lý nhà nước, các đơn vị thuộc lực lượng vũ trang đối với việc thực hiện các nghị quyết của Đảng, các quy định của Nhà nước, nhất là về quản lý kinh t ế, tài chính, thu chi ngân sách, việc sử dụng, bảo quản vốn và tài sản của nhà nước, không phân biệt chủ sở hữu thuộc ngành hoặc địa phương. Hai là, củng cố và nâng cao chất lượng hoạt động của các tổ ch ức đ ảng trong các cơ quan nhà nước: - Đảng đoàn Quốc hội và các đảng đoàn hội đồng nhân dân ph ải đ ược tiếp tục kiện toàn về tổ chức, đề cao trách nhiệm trong việc chủ đ ộng đ ề xu ất những vấn đề thuộc lĩnh vực của mình, phản ánh đầy đủ ý kiến của đại biểu với cấp ủy. Mặt khác, cấp ủy đảng cần lắng nghe đầy đ ủ các ý ki ến đó đ ể k ịp thờ xem xét và điều chỉnh chủ trương khi thấy có cơ sở xác đáng. Khi cấp ủy có quyết định thì đảng đoàn phải lãnh đạo quán triệt và thực hiện nghiêm túc quy ết định của Đảng. Mọi đảng viên phải chấp hành nghiêm chỉnh các quyết định đó. -Có cơ chế gắn hoạt động của trưởng ban và các ban của Đảng với ho ạt động của các ủy ban của Quốc hội và các ban của Hội đồng nhân dân. Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng để Quốc hội, h ội đồng nhân dân các c ấp th ực hiện tốt vai trò của mình. - Củng cố tổ chức và nâng cao chất lượng hoạt động của ban cán sự đảng Chính phủ, các bộ, ngành và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh. - Kiện toàn ban cán sự đảng ở các cơ quan tư pháp. Nghiên cứu, cụ th ể hóa cơ chế cấp ủy cho ý kiến về việc xử lý các vụ án quan trọng, ph ức t ạp trên cơ sở tôn trọng quyền theo luật định của các cơ quan tư pháp và bảo đ ảm t ốt s ự lãnh đạo của Đảng. Ba là, các cấp ủy đảng phát huy vai trò, trách nhiệm của Mặt tr ận T ổ quốc, các đoàn thể nhân dân trong việc xây dựng và bảo vệ chính quyền, đảm bảo quyền làm chủ của nhân dân; kiện toàn tổ chức, đổi mới hoạt đ ộng c ủa Mặt trận và các đoàn thể nhằm thu hút sự tham gia ngày càng r ộng rãi c ủa nhân dân vào công việc quản lý của nhà nước. Bốn là, kiện toàn các cơ quan tham mưu theo hướng tinh gọn, hợp lý để giúp cấp ủy nắm tình hình, hướng dẫn, kiểm tra hoạt động của t ổ chức đ ảng trong các cơ quan nhà nước 4.2. Vai trò quản lý của nhà nước dưới sự lãnh đạo của Đảng Nhà nước Việt Nam có vị trí và vai trò đặc biệt quan trọng trong h ệ th ống chính trị được quy định bởi chức năng và nhiệm vụ của nó trong h ệ th ống chính 16
  17. trị, trong đời sống xã hội và được thể hiện trong mối quan hệ giữa nhà nước với đảng và các tổ chức chính trị- xã hội trong tổ chức chính trị. Nhà n ước đã th ể chế hóa chủ trương, đường lốicủa đảng thành hiến pháp và pháp luật và chính sách làm công cụ quản lý nhà nước đối với mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Nhà nước là công cụ tổ chức thực hiện ý chí và quyền lực c ủa nhân dân, thay mặt nhân dân chịu trách nhiệm trước nhân dân để quản lý toàn b ộ ho ạt động của đời sống xã hội. Đó chính là nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Mặt khác nhà nước chịu sự lãnh đạo của giai c ấp công nhân, th ực hiện đường lối chính trị của Đảng. Đảng lãnh đạo nhà nước thực hiện và đảm bảo đầy đủ quyền làm chủ của nhân dân. Như vậy, nhà nước xã hội chủ nghĩa vừa là cơ quan quyền lực, vừa là bộ máy chính trị, hành chính, tổ chức quản lý kinh t ế, văn hóa, xã h ội c ủa nhân dân. Quyền lực của nhà nước là thống nhất, có sự phân công và ph ối h ợp chặt chẽ giữa các cơ quan trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp: Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quy ền l ực Nhà nước cao nhất của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Qu ốc h ội là cơ quan duy nhất có quyền lập hiến và lập pháp.Quốc h ội quy ết định nh ững chính sách cơ bản về đối nội và đối ngoại, nhiệm vụ kinh t ế - xã h ội, qu ốc phòng, an ninh của đất nước, những nguyên tắc chủ yếu về tổ chức và ho ạt động của bộ máy Nhà nước, về quan hệ xã hội và hoạt đ ộng c ủa công dân. Quốc hội thực hiện quyền giám sát tối cao đối với toàn bộ hoạt động của Nhà nước. Chính phủ là cơ quan chấp hành của Quốc hội, là cơ quan hành chính cao nhất của nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Chính ph ủ thống nhất vi ệc quản lý thực hiện các nhiệm vụ chính trị, kinh tế, văn hóa, xã h ội, an ninh, qu ốc phòng và đối ngoại của nhà nước. chính phủ là cơ quan chấp hành, ch ịu trách nhiệm trước quốc hội và báo cáo công tác trước quốc hội. Cơ quan tư pháp bao gồm: tòa án, viện kiểm sát và các cơ quan điều tra. Đây là những cơ quan được lập ra trong hệ thống tổ chức Nhà nước để xử lý các tổ chức và cá nhân vi phạm pháp luật, đảm bảo cho pháp luật thực thi một cách nghiêm minh và chính xác. Tòa án các cấp là cơ quan nhân danh nhà nước, thể hiện thái độ và ý chí của nhà nước trước các vụ án thông qua các hoạt động độc lập và chỉ tuân theo pháp luật. Tòa án là cơ quan duy nhất có quyền ấp dụng các chế tài hình sự. Viện kiểm soát nhân được tổ chức thành hệ thống, tập trung thống nhất và độc lập thực hiện thẩm quyền của mình đối với các cơ quan khác cảu nhà nước. 17
  18. Nhà nước thực hiện quản lý xã hội bằng pháp luật đồng th ời coi tr ọng việc giáo dục nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của nhân dân. Vì v ậy c ần tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa. Để đổi mới và hoàn thi ện Nhà n ước chúng ta cần phải đổi mới và hoàn thiện tất cả bộ máy t ổ ch ức nh ằm đ ảm b ảo vị trí và vai trò của Nhà nước trong hệ chính trị. Trong quá trình đổi mới hệ thống chính trị, cùng với việc xây d ựng và chỉnh đốn Đảng là nhiệm vụ then chốt, cần xác định xây dựng và hoàn thi ện Nhà nước là nhiệm vụ trọng tâm. Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam chính là xây dựng và thực hiện nền dân chủ xã h ội chủ nghĩa, thực hiện quyền làm chủ nhân dân, làm cho quyền lực của Nhà n ước và h ệ thống tổ chức thực thi quyền lực, hệ thống chính trị được xác định đúng đắn và có hiệu quả hơn. Quyền lực nhà nước được củng cố và tăng c ường có nghĩa là quyền lãnh đạo của Đảng được củng cố và tăng cường. Giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo của đảng đối với Nhà nước là nh ằm củng c ố và tăng c ường sức mạnh của nhà nước. 4.3. Những khuyết điểm, hạn chế trong mối quan hệ Đảng-Nhà nước-nhân dân Thứ nhất, sự lãnh đạo của Đảng chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu của quá trình đổi mới tổ chức, hoạt động của Nhà nước; còn có tình trạng bao biện, chồng chéo và buông lỏng nên chưa phát huy tốt vai trò lãnh đạo c ủa Đ ảng và hi ệu l ực đi ều hành của bộ máy nhà nước. Việc đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và xã hội chưa phát huy đúng mức vai trò lãnh đ ạo c ủa Đ ảng, quản lý của Nhà nước và quyền làm chủ của nhân dân. Thứ hai, chưa phân rõ, còn lẫn lộn chức năng, quyền hạn giữa Đảng lãnh đạo với Nhà nước quản lý, bộ máy Đảng bị "Nhà nước hóa", cồng kềnh, không rõ chức năng lãnh đạo. Càng xuống dưới càng khó phân biệt chức năng lãnh đạo, quyền lực chính trị. Mô hình tổ chức đảng - Nhà nước - đoàn th ể còn cồng kềnh, chồng chéo, dư thừa, kém hiệu lực, hiệu quả. Thứ ba, cơ chế Đảng lãnh đạo - Nhà nước quản lý - nhân dân làm ch ủ đã đ ược xác định từ lâu, nhưng chưa được nghiên cứu để cụ thể hóa đầy đủ. Thứ tư, bộ máy hành chính còn nhiều tầng, nhiều nấc làm cho vi ệc qu ản lý các quá trình kinh tế - xã hội chưa thật nhanh, nhạy và có hi ệu quả. Tình tr ạng quan liêu, cửa quyền, nhũng nhiễu của một số bộ phận cán bộ, công chức nhà nước chưa được khắc phục, kỷ cương, phép nước bị xem thường ở nhiều nơi. Dân 18
  19. chủ quá trớn, những hành vi trái với lợi ích của nhân dân, của Nhà n ước ch ưa b ị nghiêm trị. Nhiều biểu hiện dựa vào dân chủ để phá hoại kỷ cương. Thứ năm, phương thức tổ chức, phong cách hoạt động của Mặt trận và các đoàn thể không ít nơi vẫn chưa thoát khỏi tình trạng hành chính hóa nặng nề, x ơ cứng, chậm đổi mới; một số cán bộ đoàn thể chưa thật gần với quần chúng. 4.4. Cách khắc phục những khuyết điểm, hạn chế trong mối quan hệ Đảng-nhà nước-nhân dân. Một là, tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước. Đây không phải là vấn đề mới, nhưng lại là vấn đề có tính nguyên t ắc đ ể bảo đảm bản chất xã hội chủ nghĩa của nhà nước, bảo đảm sự th ống nh ất gi ữa tính giai cấp với tính nhân dân, tính dân tộc của nhà nước. Đảng phải chịu trách nhiệm toàn diện và cao nhất trước nhân dân về cả sự phát triển xã hội lẫn nâng cao đời sống của nhân dân, năng lực và ph ẩm ch ất của bộ máy nhà nước. Đảng lãnh đạo toàn diện, tức là lãnh đạo các cơ quan nhà nước (lập pháp, hành pháp và tư pháp). Hoạt động của Nhà n ước đ ược th ực hiện ở tất cả các cấp, Đảng không chia sẻ quyền lãnh đạo cho bất kỳ một lực lượng chính trị nào. Mặt khác, Đảng phải bằng mọi cách phát huy cao nhất vai trò của Nhà nước. Hai mặt đó là thống nhất, quan hệ biện chứng với nhau. Đảng chỉ có thể hoàn thành sứ mệnh lãnh đạo của mình khi xây d ựng đ ược Nhà nước vững mạnh, hoạt động có hiệu lực và có hiệu quả cao, tôn trọng và hết lòng phục vụ nhân dân. Để hoàn thành nhiệm vụ này, Đảng phải tự đổi mới, phải xây dựng Đảng thật sự trong sạch, vững mạnh, có bản lĩnh chính trị vững vàng. Cần ph ải đánh giá sâu sắc hơn nữa sức chiến đấu của toàn Đảng chứ không chỉ của một bộ phận cán bộ, đảng viên. Cần nghiêm túc xem xét lại cơ chế đánh giá, đề bạt cán bộ hiện nay, bởi ở đây vẫn còn có kẽ hở tạo ra tình trạng chạy chức, chạy quyền. Nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng không ch ỉ vì m ột bộ phận cán bộ, đảng viên thoái hoá, biến chất, mà còn do nhiệm vụ của cách mạng, của sự nghiệp đổi mới mà trong những năm tới ngày càng khó khăn, phức tạp. Ở đây, cần tập trung vào các khía cạnh: Trí tuệ, cương lĩnh, đường lối, đạo đức, tính tổ chức, kỷ luật, bản lĩnh chính trị, kh ả năng tập hợp qu ần chúng. Tiếp tục đổi mới và chỉnh đốn Đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng lên ngang tầm với yêu cầu và nhi ệm v ụ c ủa tình hình m ới là đòi hỏi có ý nghĩa sống còn đối với Đảng và nhân dân ta, là th ước đo hi ệu qu ả lãnh đạo của Đảng được thể hiện ở sức mạnh, vai trò của Nhà nước. Sẽ không có 19
  20. Đảng mạnh mẽ, chắc chắn nếu nhà nước yếu kém, hình thức, quan liêu, tham nhũng, luật pháp không nghiêm. Hai là, cần phân định rõ chức năng giữa Đảng và Nhà nước. Từng bước xác định rõ nội dung, phạm vi, mức độ quan hệ giữa sự lãnh đạo của Đảng và sự quản lý của Nhà nước: -Nói Đảng lãnh đạo không có nghĩa là Đảng không có ch ức năng qu ản lý, Nhà nước quản lý không có nghĩa là Nhà nước không có lãnh đạo. Ch ức năng quản lý của Đảng thể hiện trong việc quản lý trực tiếp đ ảng viên (nh ất là đ ảng viên trong bộ máy nhà nước và quản lý xã hội, qu ản lý đ ất n ước), nh ưng ở đây là sự quản lý gián tiếp thông qua Nhà nước và các t ổ ch ức chính tr ị - xã h ội trong hệ thống chính trị. -Nói Đảng không làm thay chức năng của Nhà nước là đúng, nhưng nói Đảng không can dự vào công việc quản lý nhà nước thì sẽ là sự mơ hồ về chính trị. Trong quá trình đổi mới, để Nhà nước thực sự là quyền lực của dân, Đảng phải lãnh đạo Nhà nước bằng phương thức dân chủ. Đảng cần ho ạt đ ộng trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật, tức là vừa phải trọng dân, vừa phải trọng pháp. Bởi vì, phương thức dân chủ là giải pháp tốt nh ất đ ể quy ền l ực c ủa nhân dân, của giai cấp không bị biến thành quyền lực riêng của một người, một nhóm người có đặc quyền, đặc lợi. Yêu cầu Đảng vừa bảo đảm tăng cường sự lãnh đạo của mình với Nhà nước, vừa phải lãnh đạo Nhà nước bằng ph ương th ức dân chủ. Ba là, tiếp tục đổi mới quá trình thể chế hóa chủ trương, đường lối của Đảng thành hoạt động của Nhà nước. Yêu cầu của việc tổ chức bộ máy nhà nước sao cho Nhà n ước th ực s ự là cơ quan quyền lực thể hiện ý chí của Đảng cầm quyền và cũng là ý chí c ủa nhân dân, mọi hoạt động của chính quyền th ể hiện và th ực hi ện đ ường l ối c ủa Đảng, cụ thể là: - Nhà nước dựa vào chủ trương, đường lối của Đảng mà xây dựng thành chính sách, pháp lệnh để thực thi có hiệu quả chủ trương, đường lối đó. - Nhà nước phải tuyên truyền, động viên, tổ chức mọi tầng lớp nhân dân thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng. - Nhà nước phải tổng kết thực tiễn quá trình triển khai th ực hi ện các ch ủ trương, đường lối của Đảng.  Để nâng cao hiệu quả quản lý của Nhà nước, cần chú ý gi ải quyết các mặt sau: 20

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản