Phân cp tài khóa và quy mô Chính phủ-Nhóm 8 Trang1
Tiểu lun
SỰ PHÂN CẤP TÀI KHÓA VÀ QUY MÔ CHÍNH PH
MỘT NGHIÊN CỨU THỰC NGHIM TẠI QUỐC GIA CHÂU ÂU
(Fiscal Decentralization and the size of Government
A European country empirical analysis)
Phân cp tài khóa và quy mô Chính phủ-Nhóm 8 Trang2
1. GIỚ I THIỆU
Kể tcui những năm 1980, sự phân cấp đó việc chuyển giao quyền lực chính trị, tài chính và
nh chính cho các chính quyn địa pơng, đã ni lên như mt trong những xu hướng quan trng
nhất trong chính sách phát trin. Vì vậy, thiết lập các mối quan htài khóa giữa các cấp ca chính ph
các c thành viên Liên minh châu Âu đã thu hút sự quan tâm vviệc chuyển giao quyền hn thu
thuế cho cấp địa pơng. Các t chức siêu quc gia, chẳng hn n Ngân hàng Thế giới (2000) hoc
OECD (2002a, 2002b), h tr phân cấp tài khóa các nước Đông Âu, cho rằng mt di chuyển theo
ớng phân cấp hơn sẽ thúc đẩy pt triển kinh tế ng như hiệu qu ca khu vực công. Báo cáo của
Ngân hàng Thế gii khi bước o thế k 21 ghi lại rằng mong mun vvic tquyết định và chuyển
giao quyền lực đng lực chính "định hình thế gii, trong đó phát trin sẽ được xác định và thực
hin"1 trong thập niên đầu của thế k y.
Một s thuyết khác vnh vi của chính ph đxuất trong các tài liệu tài chínhng thúc đẩy
githuyết cho rng phân cấp tài ka th hn chế quy của khu vực ng. Oates (1972) lập luận
rằng chính quyền địa pơng có thông tin vsở thích ca người dân tt hơn so vi chính ph liên
bang và trung ương, nghĩa phân cấp trong việc cung cấp hàng hóa ng chong chúng sẽ hiệu
quhơn cung cấp tập trung. Tuy nhiên, ông ng lưu ý rằng trong khi hàng hóa công đáp ứng tt hơn
nhu cầu của ni dân (phù hợp vi Tiebout1956), tăng nhu cầu trong nước đối vi các dịch v ng
thlàm tăng quy mô của khu vực ng (Oates1985). Trong việc giới thiệu giả thuyết Leviathan ni
tiếng ca h, Brennan và Buchanan (1980 , p.185) thừa nhn rng "tổng can thip ca chính ph trong
nn kinh tế n nh n, các yếu t khác không đi, thì mức đ các loại thuế và chi phí được phân
cấp lớn hơn". Chính ph diễn t khi ti đa hoá ngun thu, các tác giả, và các tài liệu tiếp theo vsự lựa
chn ng, cho rằng, miễn căn cứ tính thuế linh đng, phân cấp tài khóa các cấp chính quyền tham
gia vào cạnh tranh về thuế, do đó hạn chế sự đc quyền ca Leviathan v thuế. Tuy nhiên, mô hình
cho thấy khi mt số cấp chính quyền đc lp định ra mức thuế của h, trên sở thuế chung (ví dụ,
chia scơ sthuế), kết hợp (tng hp) thuế suất cân bng của hai cấp chính quyền đti đa a ngun
thu sẽ cao n so vi ngun thu ti đa hóa t lệ thuế ca chính ph duy nhất (Flowers1988; Shughart
Tollison 1991; Keen 1995; Wrede1996; Keen và Kotsogiannis2004). T ht vậy, không sự đng
thuận thuyết v mi quan h giữa pn cấp tài khóa và quy mô của khu vực nhà nước tnhng
người đặt câu hi v hình Leviathan cũng pc tho cho thấy pn cấp th không dẫn đến mt
1 World Development Report on Entering the 21st Century quoted by Ebel and Yilmaz (2002, p. 3).
Phân cp tài khóa và quy mô Chính phủ-Nhóm 8 Trang3
khu vực ng gn gàng hơn, đó là hiệu ứng fly-paper (giấy bẫy rui) ni tiếng và vấn đ hàng hóa tiêu
ng chung (để xem chi tiết hơn,x xem Jin và Zou2002 , trang 273-274).
Theo nghiên cứu thực nghiệm Oates (1972 , 1985 ), nhiều tài liệu đã cố gng để kiểm tra tác động
của việc pn cấp trên quy của chính ph. Tuy nhiên, kết qu là không thuyết phc (xem Feld et
al. 2003, mt tài liệu nghiên cứu đầy đ). Kết qu của tài liệu này cho thy quy mô ca chính ph
thường được đánh giá trên khía cạnh ngun thu thuế hoặc chi tiêu chính ph, trong khi hầu hết các ch
s phân cấp tài khóa ngun gc tThng kê T ài chính ca Chính ph (GFS) do Qu Tiền tquc
tế (IMF), thì được xác định trên cơ smt khía cạnh của phân cấp, nghĩa là, các địa phương chia sẻ
ngun thu hoặc chi phí của chính ph. Tuy nhiên, các chsố tài chính thông thường đánh giá quá cao
mức đ phân cấp tài ka hoặc tự ch tài chính trong hầu hết các nước, như vậy h không kiểm
soát tài khoản nắm giữ bi chính quyền địa pơng trên căn cứ t lệ tính thuế (Stegarescu 2004). Phân
cấp chi tiêu không giao quyền hạn vthu thuế địa phương tương ứng th không to ra sự cạnh
tranh thuế hạn chế hành vi của Leviathan. Phân cấp tài khóa được tài tr bi ngun chung, như là tr
cấp hoặc chia sẻ ngun thu được kiểm soát bi T rung Ương (tức là, sự mt cân bằng theo chiều dc),
th ảnh hưởng ngược lại, bằng cách phá v các liên kết giữa lợi ích được hưởng và các loi thuế
phải np. Phân cấp có th hn chế hoặc tăng cường sự pt triển của chính ph, tùy thuc vào bn cht
của việc phân cấp (Rodden 2003). Mt vài tài liu dựa trên thông tin tcác nước OECD (2001)-
(Organization of Economic Co-oporation and Development-T chức hợp tác và phát triển kinh tế),
tính đến kiểm st chính quyền địa phương trên căn cứ tính thuế hoc tlệ trong các nước chuyển đi
Châu Âu (Ebel và Yilmaz 2002) và mt số nước OECD (Rodden 2003 Meloche et al.2004). Nhiều
nghiên cứu trong số những nghiên cứu này kết luận rằng quyn tch tài khóa dẫn đến các quc gia
nh n trong khi các khoản tr cấp tác động tích cực đối với quy mô của khu vc công. Tuy
nhiên, Jin và Zou (2002), trong mt nghiên cứu sử dng dữ liệu bảng trên 32 quc gia, cho thấy phân
cấp tài ka nh hưởng kc nhau đến quy ca chính ph, địa pơng và cả hai.
Theo tài liệu này, các bài báo hiện nay tập trung vào những nh hưởng của phân cấp tài khóa trên
quy chính ph sử dng mt d liệu bng ca các nước châu Âu. Điều này tạo tnh mt đóng góp
đc đáo cho sự hiểu biết vmi quan hgiữa phân cp tài khóa và quy mô ca chính ph liên quan
đến mt số khía cạnh c thể. Theo tác gi, đây bài báo đu tiên kết hợp chbáo ca OECD phân cấp
ngun thu2 với thước đo của sự mt cân bng theo chiều dc, cho mt mẫu gồm 15 quc gia EU. Tác
gisử dng mt hình dliệu bảng chịu tác đng vthi gian không gian đđưa vào khoản chi
tiêu chính ph ththay đi chậm theo thời gian th mt số mi tương quan giữa chi tiêu
2 Tác giả sử dng d liệu của Stegarescu (2004) trong đó sử dng các (1999) cách tiếp cận OECD t ch ngun thu của chính
quyền đa phương. Stegarescu mở rộng s lượng các quc gia và mở rộng d liệu đđạt đưc mt bảng dữ liệu tập hợp đầy
đ.
Phân cp tài khóa và quy mô Chính phủ-Nhóm 8 Trang4
ng ca các nước. Tác giả ước tính ccác mối quan hdài hạn giữa phân cấp và chi tiêu ng và mt
hình sai s đphân bit tác đng ngắn hạn và dài hạn của phân cấp. Theo tác giả, đây cũng là bài
báo đầu tiên phân tích các tác đng ca phân cấp trên toàn bộ quy mô ca chính ph, quc gia và địa
phương, bằng cách tách biệt các tác đng dài hn ca việc phân cấp tcác đng lực ngn hạn. Các đối
s liên quan pn cấp cho quy ca chính ph th được hiểu tt nht như đcập đến điểm cân
bng dài hạn.
Đầu tiên, tác gi c nhận mức đ cao duy t trong chi tiêu công ở các nước châu Âu. Có sự
tương tác vmức chi tiêu công giữa các cp và chính ph 15 quc gia EU. Tác giả ng thấy rằng
phân cấp ảnh hưởng đến toàn b, cả quy địa phương và chính ph ng như tác đng của phân cấp
trên quy ca mi cp chính quyền ph thuc vào bản chất ca sự chuyển giao quyn lực. V lâu
dài, chúng ta thấy rng quyn tch thuế ca chính quyền địa phương tăng nhiều n thì tương ứng
vic giảm của chính ph, dẫn đến chính ph tng hp lớn hơn. Tác giả cũng thấy rng sự mt cân bng
theo chiều dọc có xu hướng làm tăng quy mô ca các địa phương, chính ph và toàn bộ quc gia.
Bài viết y được cấu trúc n sau. Phần tiếp theo tóm tắt các nghiên cứu thực nghiệm. T rong
mc 3, tác giả trình bày các đc điểm k thuật thc nghiệm và dữ liệu. Các kết quđược trình bày
trong mc 4 và 5. Phần cui cùng là kết luận.
2. TNG Q UAN C ÁC NGHIÊN CỨU T C ĐÂY
Hầu hết các nghiên cứu thc nghim vphân quyn và quy mô chính ph được kiểm định bởi
Bren-Nan githuyết Buchanan Leviathan (xem Feld et al. 2003, tóm tắt thuyết hoàn chỉnh).
Trong bài báo y, tác gichtho luận các kiểm định vcác cấp đ quc gia. Đu tiên, Oates (1972
,trang 209-213 ) đánh gcác nghiên cứu thực nghiệm của giả thuyết phân cấp trên hơn 57 quc gia.
Ông đã sử dng t trng ngun thu thuế trong thu nhập quc gia như đại diện cho quy mô của chính
ph, trong khi t lệ ngun thu thuế của chính ph trung ương trên tng ngun thu thuế được sử dng
đ đo lường quyền lực ca CP trung ương. Ông ta thu đưc mt mi quan htiêu cực giữa chỉ số
quyn lực ca CP trung ương với quy chính ph, nhưng kết qu dường như không nhiều ý
nghĩa khi ông kiểm st thu nhập. Edhaie (1994) chỉ trích nghiên cứu ca Oates, cho rng mi quan h
giữa ngun thu thuế và chi tiêu nên được xem xét đng thi trong quá trình pn cấp. Ông thấy rằng,
trong mt mẫu của 30 quc gia năm 1987 và 1977, sphân cấp đng thời ca thuế Chính ph và
quyn hạn chi tiêu xu hướng làm giảm quy mô khu vực công. Thế nhưng, một số nghiên cứu tìm
thy mt tác đng tích cực đáng kvmặt thng kê của quy mô chính ph : nghiên cứu ca Stein
(1999) cho 19 quc gia châu M La tinh tnăm 1990 đến năm 1995, Heil (1991) nghiên cứu 22
quc gia OECD và 39 quc gia ca IMF.
Phân cp tài khóa và quy mô Chính phủ-Nhóm 8 Trang5
Một s nghiên cứu cho rằng phân cấp tài khóa thhạn chế hoặc tăng cường sự phát triển ca
chính phủ, tùy thuc vào loại phân cấp. Phân cấp chi tiêu không đi kèm với sức mạnh thu thuế ca
địa pơng skhông tạo ra thuế cạnh tranh kiềm chế hành vi ca Leviathan. Và phân cấp được tài
trbởi ngun ph biến, chẳng hạn như tr cấp hoặc chia sthu nhập được kiểm soát bởi trung ương,
th ảnh ởng ngược lại bằng cách phá vcác liên kết giữa thuế phải np và lợi ích được hung.
Hơn nữa, theo hình Brennan Leviathan Buchanan, hthng các khoản tr cấp th được hiểu
như mt hình thức tha thun thông đồng giữa các chính quyền địa phương đphá vnhững tác
đng hn chế ca pn cấp tài khóa ( Feld et al. 2003). JinandZou(2002), da trên IMF GFS (Thng
Tài chính Chính ph ) d liệu của 17 nước ng nghip và 15 ớc đang phát triển, thấy rng phân
cấp chi tiêu và sự mất cân bằng theo chiều dc làm tăng quy mô ca tng khu vực công, trong khi
ngun thu tpn cấp tạo ra kết qungược li. H cũng cho thấy phân cấp tài khóa nhữngnh
ởng khác nhau đi vi quy mô của chính quyn địa phương, trung ương và toàn quc gia. Phân cấp
ngun thu đưc cho rằng đ tăng quy chính quyền địa phương thì giảm chính quyền trung
ương ít n, dn đến làm quy mô tn quc gia nh hơn. Ebel và Yilmaz (2002) và Fiva (2006) sử
dng chsố mi ca phân cấp tài ka dựa trên phân loi các nước OECD (1999), nó cung cấp thêm
thông tin vngun thu thuế và vchia sẻ quyền lực, qua đó chính quyền địa phương có quyn kiểm
soát đáng kể. Ebel và Yilmaz (2002) thấy rằng quyn tch thuế địa phương tác động tiêu cực
đáng kđến quy mô của khu vực ng trong 10 quc gia chuyển tiếp cho giai đoạn 1997-1999, trong
khi sử dng dữ liệu trên 18 quc gia OECD, Fiva (2006) cho thấy rằng quyền tch thuế địa phương
vấn đcho cả quy mô tng thvà thành phần của chi tiêu chính ph. Mt mô hình ước nh sai s
ECM cho mt dliệu bảng, được thiết lp t 59 quc gia t năm 1978 và năm 1997, Rodden (
2003 ) thy rằng phân cấp được đo lường bằng ngun thu của địa phương, có c đng tiêu cc
đến phát trin của chính phủ, trong khi phân cấp i khóa được đo bng chuyển giao liên Chính
ph, thì ơng quan ch cc với s ng trưởng ca khu vc công. Cui cùng, Ashworth et al.
(2008) sdng dữ liệu bảng đphân biệt những ảnh hưởng dài hạn ngắn hạn ca việc phân cấp.
Kết qucho thấy sgia tăng số lượng ngun thu do chính ph địa phương dẫn đến mt sự sụp đ dài
hn trong quy mô ca Chính ph (ví d , t ng chi tiêu ng), trong khi các khoản tr cấp tác dụng
ngược lại .
3. PHƯƠ NG PHÁP NGHN CỨU
Trong bài báo này, tác giả kiểm tra xem phân cấp tài khóa ảnh hưởng đến quy mô ca chính
ph Các nước châu Âu. Các đặc điểm chung của mô hình thực nghiệm là: