intTypePromotion=3

Tiểu luận: Quan điểm về con người trong triết học Tây Âu thời kỳ phục hưng và cận đại

Chia sẻ: Mhvghbn Mhvghbn | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:12

0
308
lượt xem
93
download

Tiểu luận: Quan điểm về con người trong triết học Tây Âu thời kỳ phục hưng và cận đại

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Tiểu luận: Quan điểm về con người trong triết học Tây Âu thời kỳ phục hưng và cận đại nhằm trình bày về điều kiện kinh tế - xã hội Thời kì Phục hưng của các nước Tây Âu là giai đoạn lịch sử quá độ từ xã hội phong kiến sang xã hội tư bản (thế kỷ X V - VI), bắt đầu h ình thành phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa. Tính chất quá độ đó biểu hiện trên tất cả các mặt của đời sống kinh tế, chính trị - xã hội, văn hoá tư tưởng thời kì này.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Tiểu luận: Quan điểm về con người trong triết học Tây Âu thời kỳ phục hưng và cận đại

  1. Tiểu luận QUAN ĐIỂM VỀ CON NGƯỜI TRONG TRIẾT HỌC TÂY ÂU THỜI KỲ PHỤC HƯNG VÀ CẬN ĐẠI 1
  2. A. LỜI MỞ ĐẦU Cùng với sự t ìm h iểu tự nhiên và cuộc sống xã hộ i, kể từ kh i loài người ra đ ời, một vấn đề luôn được đặt ra là tìm h iểu ch ính bản thân mình. Ngay từ thời kỳ t iền t riết học, vấn đ ề này đã được đề cập qua các tôn giáo nguyên thủy, các truyền thuyết, thần thoại, sử thi, anh hùng ca và việc thờ cúng tổ tiên . Đó là nh ững quan niệm còn mang nặng tính thần bí, siêu hình. Triết học Hy Lạp cổ đại xu ất hiện vào thế kỷ VI Trước Công Nguyên đã đánh dấu bước phát t riển mới của tư tưởng con người, từ cảm nhận vũ t rụ t rực quan đ ến thế giới quan mang t ính khá i quát, t rừu tượng của tư duy. Các trường phá i triết học Hy Lạp giai đoạn này có nh iều quan điểm khác nhau, song đều rất quan tâm đến bản chất, nguồn gốc của thế giới, vạn vật và con ng ười. Bước vào thời kỳ chiếm hữu nô lệ, các nhà triết học quan tâ m nhiều hơn đến vấn đề s inh vật, con người và linh hồn con người. Vào thế kỷ VII và VI TCN, phái duy vật sơ khai cho rằng con người là một bộ ph ận của tự nh iên, hòa đồng với tự nh iên và vũ trụ. Bên cạnh đó, trường phái Pytago mở đầu cho khuynh hướng triết học duy tâm Hy Lạp cổ đại, quan n iệm rằng linh hồn con ng ười là bất tử, ch ỉ tạ m t rú trong cơ thể các sinh vật và con người. Còn các nhà nguyên tử lu ận thì lại cho rằng sự sống không phải do thần thánh tạo ra mà cấu tạo từ nguyên tử và linh hồn cũng mang tính vật chất. Điểm qua các quan điểm của Xôcrát , Platôn, tác g iả khẳng đ ịnh triết học Hy Lạp đạt tới đỉnh cao nhất ở thời Arixtốt. Ông khẳng định “linh hồn là b ản nguyên của cơ thể sống..., của vận động”. Bước sang thời kỳ thứ hai, đặc điểm nổi bật cần phải chú ý đó là sự h ình thành của một tôn g iáo mới: Cơ đố c g iáo và trở thành quốc giáo ngay trong thời kỳ đế quốc La mã. Về cơ bản, hệ thống quan đ iểm triết học của Cơ đốc giáo về con người tập trung nói về sự sáng tạo ra thế 2
  3. giới của đ ức Chúa Trời, về tội tổ tông của con người, sự chuộc tội, sự chăn dắt của Chúa đối vớ i con người, sự phục sinh s au kh i chết ở thế giới bên kia. Cần phải nhắc đến ha i tên tuổ i mở đầu cho thời kỳ từ Phục hưng đến thời kỳ cận đại là Ni-cô -lai Kuzan và Ni-cô-lai Cô-péc-ních. Kuzan là người đ ầu tiên kịch liệt phê phán giáo lý thời Trung cổ, mở đầu cho thời kỳ Phụ c hưng . Con ng ười - theo ông - là sản phẩm tố i cao và tinh túy nhất t rong sự sáng tạo của Thượng đế - Con người (Deus - Human ). Nố i tiếp Ku zan , Cô -péc-n ích đã làm đảo lộn hoàn toàn nhận thức đ ương thời bằng thuyết nhật tâm. Vào thế kỷ X IV - X V, các nhà nhân văn chủ nghĩa Ý đã làm đảo lộn vũ t rụ quan v à nhân s inh quan của Ki tô g iáo : con người không lấy Thượng đế mà là ch ính mình làm trung tâm và thước đo của tất cả mọi vật. Bước vào thế kỷ XVI, những nhà tư tưởng tiến bộ mong muốn xây dựng một xã hội mới phồn v inh, th ịnh vượng, đem lại h ạnh phúc cho tất cả mọ i người. Tuy vẫn chỉ là những quan niệm mang tính chất không t ưởng nhưng những tư t ưởng này đã mang đậm tính chất nh ân văn sâu sắc. 3
  4. B. NỘ I D UN G I. ĐIỀU KIỆ KINH TẾ - XÃ HỘ I VÀ ĐẶC ĐIỂM C ỦA TRIẾT HỌ C N TÂY ÂU THỜ I KÌ P HỤC HƯNG VÀ CẬN ĐẠI I.1. Điều kiện kinh tế - xã hội Thời kì Phục hưng của các nước Tây Âu là giai đoạn lịch sử quá độ từ xã hội phong kiến sang xã hội tư bản (thế kỷ X V - VI), bắt đầu h ình thành phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa. Tính chất quá độ đó biểu hiện trên tất cả các mặt của đời sống kinh tế, chính trị - xã hội, văn hoá tư tưởng thời kì này. Về kinh tế: Bắt đầu từ thế kỉ XV, ở Tây Âu, chế độ phong kiến vớ i nền sản xuất nhỏ và các đạo lu ật hà khắc Trung cổ đã bước vào th ời kì tan rã. Nhiều công t rường thủ công xuất hiện, ban đầu ở Ita lia, sau đó lan sang A nh, Pháp và các nước khác, thay thế cho nền kinh tế tự nh iên kém phát triển. Sự phát triển của kinh tế tư bản chủ nghĩa thúc đẩy sự ph át triển của khoa học, kĩ thuật. Nh iều công cụ lao động được cải t iến v à hoàn thiện. Với việc sáng chế ra máy kéo sợi và máy in đ ã làm cho công nghiệp dệt, công ngh ệ ấn loát đặc b iệt phát triển, nhất là ở Anh. Sự khám phá và chế tạo hàng loạt đồng hồ cơ học đã g iúp cho con người có thể sản xuất có kế hoạch , t iết kiệm th ời gian và tăng năng suất lao động. Những phát kiến về đường biển, tìm ra những miền đất mới, phát hiện ra châu Mỹ... càng tạo điều kiện phát triển cho nền sản xuất theo hướng tư bản chủ nghĩa. Thương mại, th ị trường trao đổ i hàng hoá giữa các nước được mở rộng; giao lưu quốc tế đ ược tăng cường, nh ờ đó mà các nước phát triển sớm nh ư A nh, Pháp, Tây Ban Nha... thi nhau xâm chiếm thuộc địa để mở rộng việc khai thác thiên nhiên và thị trường tiêu thụ hàng hoá. Về xã hội: Đồng thời vớ i sự phát triển của sản xuất và thương nghiệp , trong xã hộ i Tây Âu thời kì này, sự phân hoá g iai cấp ngày càng 4
  5. rõ rệt. Tầng lớp tư sản xuất hiện gồm các chủ xưởng công trường thủ công, xưởng thợ, thuyền buôn... Vai trò và v ị trí của họ t rong kinh tế và xã hội ngày càng lớn . Hàng lo ạt nông dân từ nông thôn di cư ra thành thị, trở thành người làm thuê cho các công t rường, xưởng thợ. Họ tham gia vào lực lượng lao động xã hội mới, làm hình thành g iai cấp công nhân. Các tầng lớp xã hộ i t rên đại diện cho một n ền sản xuất mới, cùng v ới nông dân đấu tranh chống chế độ phong kiến đang suy tàn . Về văn hoá, t ư t ưởng: Cùng với sự phát t riển về kinh tế và xã hội, khoa học kĩ thuật và tư tưởng thời kì Phục h ưng cũng đạt được sự phát triển mạnh mẽ. Các nhà tư tưởng thời Phục hưng đã phê phán mạnh mẽ các giáo lý Trung cổ. Mở đầu là nhà triết học ng ười ph ía Nam n ước Đức, Nicô lai Ku zan (1401-1464). Tiếp đó là các nhà kho a học - triết học như Nicô lai Côpecnich (1475-1543) người Ba Lan; Lêôna đơ Vanhxi (1452- 1519) - nhà danh hoạ, nhà toán học, cơ học , kĩ sư người Italia; Gioocđanô Brunô (1548-1600) người Italia; Galilêô Galilê (1564-1642) người Ita lia. Trong số những thành tựu khoa học tự nhiên có ảnh hưởng to lớn đ ến nhận thức duy vật về thế g iới, nổi t rội hơn cả là thuyết nhật tâm của Nicô lai Côp ecn ich (1475-1543), nhà bác học v ĩ đạ i người Ba Lan. Nicô lai Côpecnich đã đứng trên lập trường của triết học duy vật để bác bỏ thuyết địa tâm do Ptôlêmê (người Hy Lạp ) đề xuất từ thế kỷ thứ II, một giả thuyết sai lầm coi quả đất là trung tâm của hệ mặt trời và vũ trụ. Thuyết nhật tâm củ a Nicôlai Côpecn ich đã giáng một đòn nặng nề vào thế giới quan tôn giáo, thần học. Giả thuyết của ông là một cuộc cách mạng trên trời, báo trước một cuộc cách mạng trong lĩnh vực các quan hệ xã hội sắp xảy ra. Trong thời đ ại Phục h ưng , các nhà tư tưởng tư sản đ ã bênh vực triết học duy vật, vận dụng nó để chống lại chủ nghĩa kinh viện và thần học Trung cổ. Cuộc đấu tranh của chủ nghĩa duy vật chống chủ nghĩa duy tâm thường được biểu h iện dưới hình th ức đặc thù là khoa họ c chống tôn 5
  6. giáo , tri thức thực nghiệm đối lập với những lập luận kinh v iện . Cuối cùng, sự chuyên ch ính của g iáo hộ i và s ự thống trị của chủ nghĩa kinh viện Trung cổ đã không ngăn được sự phát t riển bước đầu của khoa học thực nghiệm và triết học duy vật - tiền đề cho nh ững thành tựu mới và những đặc điểm mới củ a triết học trong các thế kỷ tiếp theo. Thời kì cận đại là thời kì phát triển rực rỡ của Tây  u trên tất cả các mặt của đời sống xã hội. Đó là sự phát triển tiếp tục của chủ nghĩa tư bản, của khoa học và tư tưởng, t rong đó có chủ nghĩa duy vật triết học, nhưng với những đặc đ iểm mới. Khác với thời kì Phục hưng , thời cận đại (thế kỷ XVII-XVIII) ở các nước Tây  u là thời kì giai cấp tư sản đã giành được thắng lợi về chính t rị t rước giai cấp phong kiến. Ba cuộc cách mạng tư sản lớn đã nổ ra và thành công: Cách mạng tư sản Hà Lan cuối thế kỷ X VI ; Cách mạng tư sản Anh (1642-1648); Cách mạng tư sản Pháp (1789-1794). Đây cũng là thời kì phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa được xác lập và trở thành phương thức sản xu ất thống trị Tây Âu. Nó tạo đã tạo ra những vận hội mới cho khoa học, kĩ thuật phát triển mà trước hết là khoa học tự nhiên, trong đó cơ học đã đạt tới trình độ là cơ sở cổ đ iển. Đặc đ iểm của khoa học t ự nhiên thời kì này là khoa học tự nhiên - thực nghiệm. Đặc trưng ấy tất yếu dẫn đến thói quen nhìn nhận đối tượng nhận thức trong sự trừu tượng tách rời, cô lập, không vận động, không phát t riển, nếu có nói đến vận động thì chủ yếu là vận động cơ giới, máy móc. Đó là nguyên nhân chủ yếu làm cho triết học duy vật thời kỳ này mang nặng t ính máy móc siêu hình. I.2. Đặc đi ểm của triế t học Tây Âu thời Phục hưng và Cận đại Chính những điều kiện kinh tế - chính t rị và kho a học tự nhiên thời cận đại đã quy đ ịnh nh ững đặc t rưng về mặt triết học thời kì này: Thứ nhất, đây là thời kì thắng lợi của chủ nghĩa duy vật đối với chủ nghĩa duy tâm, của những t ư tưởng vô thần đối với hữu thần luận. 6
  7. Thứ hai, chủ nghĩa duy vật thời kì này mang hình thức của chủ nghĩa duy vật siêu h ình , máy móc. Ph ương pháp siêu hình thống trị, phổ biến trong lĩnh vực tư duy triết học v à khoa học. Thứ ba, đ ây là th ời kì xuất h iện những qu an điểm t riết học t iến bộ về lĩnh vực xã hội, nhưng nh ìn chung vẫn ch ưa thoát khỏ i quan điểm duy tâm trong việc g iải thích xã hộ i và lịch sử. Những đặc điểm ấy thể hiện rõ nét trong quan niệm của một số triết gia, đ iển h ình như B.Xp inôda, Ph.Bêcơn . T.Hôpxơ, R.Đêcactơ, G.Lamett ri, Đ.Điđơrô, P.Hônbách, G.G.Rutxô. Thứ tư, trước sự phát t riển mạnh mẽ của t ư tưởng duy vật vô thần của thời cận đ ại, chủ nghĩa duy tâm và thần học buộc phả i có những cải cách nhất định. Nhu cầu ấy được phản ánh đặc b iệt t rong triết họ c duy tâm chủ quan của nhà triết học thần học người A nh G.Beccơli. II. Q UAN NIỆM VỀ CON NGƯỜ I TRONG TRIẾT HỌ C THỜ I KÌ PHỤC HƯNG VÀ CẬN ĐẠI QUA MỘ T SỐ TRIẾT GIA TIÊU BIỂU II.1. Phra nxis Bêcơn (1561-1621) Phranxis Bêcơn (Francis Bacon) là nhà triết học vĩ đại thời cận đại. C.Mác co i Ph.Bêcơn là ông tổ của chủ nghĩa duy vật Anh và khoa học thực nghiệm. Bắt đầu t ừ Ph.Bêcơn , lịch sử t riết học Tây  u bước sang một giai đoạn ph át t riển mới với những màu sắc riêng. Ph.Bêcơn co i con người là sản phẩm cuả tạo hoá , do vậy khoa học về con người cũng là khoa học về t ự nhiên. Tiếp thu quan n iệm của Arixtốt về con người, Ph.Bêcơn ch ia linh hồn thành các dạng " linh hồn thực vật", "linh hồn động vật", " linh hồn lý t ính". Hai phần đầu thuộc về linh hồn cảm tính, có cả ở th ực vật và động vật. Trong con ng ười, linh hồn cảm t ính là một dạng chất lỏng , pha loãng trong cơ thể. Chúng vận động theo các dây thần kinh , t ựa như các đường ống, tác động lên các giác quan, điều khiển chức năng sống của cơ thể. Bộ phận linh hồn này có thể bị huỷ hoạ i cùng cơ thể khi con người chết đi. Linh hồn lý t ính có 7
  8. nguồn gốc từ Thượng đế. Đó là một kh ả năng kì diệu mà chúa đã ban cho con người, mang t ính thần thánh. Vì con ng ười có cả hai dạng linh hồn nên con người vừa rất gần với động vật lại vừa có cái gì đó siêu phàm, và do đó, bản chất con người không cho phép con người theo lập t rường hoàn toàn vô thần. Con ng ười cần có tôn giáo để vượt qua những lúc con người mềm yếu, bất lực. Tôn giáo mang lại cho con người niềm t in nhưng nhà thờ không được phép dùng các biện pháp chống lại các nhà vô thần, không được cản t rở các hoạt động khoa học, nghệ thuật của con người. Nhìn chung, quan niệm t rên của Ph.Bêcơn thể hiện sự thoả hiệp giai cấp tư sản A nh thời đó v ới các vấn đề tôn giáo. II.2. Tômát Hôpxơ (1588-1679) Tômát Hôpxơ (Tho mas Hobbs) là nhà triết học nổi tiếng, đại biểu của chủ nghĩa duy vật Anh thế kỷ XVII, người có công cụ thể hoá và phát triển nh iều quan niệm duy vật của Ph.Bêcơn. Theo T.Hôpxơ, vấn đề trung tâm củ a triết học là vấn đề con người. Các tác phẩm Về con người (1658), Về ng ười công dân (1642)...của ông đều bàn về vấn đề này. Từ việc coi con người vừa là một thực thể tự nhiên, vừa là một thực thể đạo đức và tinh thần , ông chia triết học thành triết học tự nh iên và triết học đạo đức, h ay còn gọ i là triết học xã hộ i. Con ng ười, theo T.Hôp xơ là một th ực thể thống nhất giữa tính tự nhiên và t ính xã hộ i. Về bản t ính tự nh iên , mọi người khi sinh ra đều như nhau, sự khác nhau nhất định giữa họ không lớn . Nhưng con người ai cũng có khát vọng và nhu cầu riêng của mình. Đ ây là tiền đề đ ể con người làm điều ác. Mỗi ng ười đều ích kỉ, vì lợi ích riêng của mình mà có thể chà đạp tất cả. "Con người là một động vật độc ác và ranh ma hơn cả chó sói, gấu và rắn". Mỗi người hành động trước tiên là "vì t ính ích kỉ yêu bản thân mình chứ không phải vì xã hộ i, không phải v ì lợi ích của người khác". Vì thế mà đẩy loài ng ười đến chiến tranh liên miên, gây ra bao nhiêu đau khổ và chết chóc. Công lý và kho a học về pháp quyền, b ởi 8
  9. vậy, luôn luôn bị bác bỏ b ởi nh ững ngò i bút và thanh kiếm. Th eo T.Hôpxơ, bản tính tự nhiên của con ng ười đó là tính ích kỉ; t rạng thái xã hội mà con người sống là "một cuộc chiến tranh của tất cả chống lại tất cả". Tuy nh iên , theo T.Hôp xơ, "trạng thái tự nh iên" t rên đây của con người ngày nay không còn nữa; nó tồn tại một cách t rọn vẹn ở th ời nguyên thuỷ xa xưa. Tư tưởng của T.Hôp xơ được Đácuyn áp dụng v ào thế giớ i động vật và phát hiện ra quy luật đấu tranh sinh tồn và chọn lọc tự nhiên của các loài sinh vật . Sau đó những người theo chủ nghĩa Đácuyn xã hộ i t ruyền b á, áp dụng trở lại xã hộ i. Quam niệm của T.Hôp xơ mặc dù ch ưa đánh g iá đúng mức đặc trưng riêng của loài ng ười so với loài vật, chưa thấy được bản tính xã hội, tính nhân loại củ a con người, nhưng nó mang những yếu tố hợp lý nhất định : Một mặt , nó cho thấy sự tương đồng nào đó g iữa lo ài người v à loài vật, mặt khác, nó chỉ ra rằng, ch ính lợi ích của các cá nhân là một trong những động lực trực t iếp của hoạt động của con người và phát triển của xã hội. II.3. Rơnê Đêcáctơ (1596-1654) Rơnê Đêcáctơ (Rene Descartes) là nhà t riết học, nhà bách khoa toàn thư v ĩ đạ i người Pháp . Có thể nói, cùng với Ph.Bêcơn, "Đêcáctơ đã tạo ra một cuộc cách mạng trong lịch sử tư tưởng triết học" Tây  u cận đại. Ông khẳng định , con người đ ược cấu thành từ linh hồn và th ể xác. Theo quan điểm nh ị nguyên luận , ông hoàn toàn tách b iệt thể xác và linh hồn, coi chúng có nguồn gốc t ừ hai th ực thể tư duy và quảng t ính hoàn toàn tách biệt . Ông coi linh hồn con người là một thực thể mà bản chất của nó là tư duy, tồn tại không cần đ ến và không phụ thuộc v ào bất kì một sự vật vật chất nào. Linh hồn là bất diệt , nó không b ị phân huỷ khi con người chết. Con người có được là do Thượng đế ghép linh hồn vào 9
  10. thể xác. Cơ thể con người là chỗ trú ch ân tạm thời của linh hồn khi anh ta sống. II.4 . Giooc Beccơli (1685-1753) Giooc Beccơ li (Georg e be rkeley ) là nhà t riết học nổi tiếng người Anh, đại biểu điển h ình của chủ nghĩa duy tâm chủ quan. Cũng như các nhà duy tâm khác, G.Beccơli quan n iệm con người bao gồm linh hồn và thể xác; linh hồn là cái quyết đ ịnh. Thể xác thuộc về các vật thể tự nhiên, tức các cảm giác. Do vậy, thể xác tồn tại được là nhờ linh hồn cảm nhận nó . Thể xác phải tuân theo cái gậy chỉ huy của linh hồn. Đối với linh hồn con người, G.Beccơli cho rằng , "tồn tại nghĩa là cảm nhận". Có nghĩa là linh hồn chỉ tồn tại khi nó cảm nhận các sự vật khác mà trước hết là cảm nhận thể xác của con người. II.5. Điđơrô và các nhà triết học Khai s áng Pháp thế kỉ XVIII Triết học Khai sáng Ph áp thế kỷ XVIII là một g iai đoạn phát triển quan trọng trong tiến t rình phát triển t ư t ưởng triết học Tây  u và thế giới. Triết học Khai sáng Pháp thế kỷ X VIII là sự kế tục và phát triển mới về chất các khuynh h ướng t ư t ưởng bài t rừ siêu h ình học thế kỉ XVII, cũng như đánh giá lại các giá trị tuyền thống. Nó bắt đầu từ việc phê phán không thương tiếc các quan niệm cũ về thế giới và con người. Ch ính vì vậy mà triết học Khai sáng Pháp có nộ i dung cơ bản là duy vật, tiến bộ, nó đề cập nhiều đến tiến bộ xã hộ i, t ự do của con ng ười... Cùng với sự hưng th ịnh của văn hoá Pháp thờ i kì này, trên lĩnh vực tư tưởng có nhiều nhà khai sáng, họ vừa là các nhà triết học, v ừa là những người uyên bác về nh iều lĩnh v ực văn hoá, nghệ thuật, kho a học. Tiêu biểu là Sáclơ Đờ Môngtexkiơ (1689-1775), Ph răngxoa Mari Vônte (1694-1778), Giăng Giắc Rutxô (1712-1778), Đen i Đ iđrô (1713-1784), Giu len Ôphrơ Lamett ri (1709-1751), Hônbách (1729-1789), Henvêtiúyt 10
  11. (1715-1771)... Ở đây chỉ đề cập đến tư t ưởng t riết học của các nhà duy vật vô thần Pháp mà người giữ vai trò lãnh đạo là Đ.Điđrô . Đ.Điđrô cho rằng con người được cấu thành từ thể xác và linh hồn. Thể xác và linh hồn thống nhất hữu cơ với nhau. Linh hồn không có nguồn gốc từ chúa mà là một tổng thể các hiện tượng tâm lý. Bản thân nó cũng là đặc tính của vật chất. Ông viết : "Không có cơ thể con người thì nó (tức linh hồn ) không là cái gì cả. Tô i khẳng định rằng, không có cơ thể con người thì không thể giải thích được cái gì cả". Ông nhấn mạnh, cơ thể con người là khí quan vật chất củ a tư duy, ý thức cũng như mọi quá t rình tâm lý của anh ta. Ông đã nh ận thấy, nhân cách con người là sản phẩ m của hoàn cảnh môi t rường xung quanh nh ưng chưa hiểu được rằng , bản thân môi t rường và ho àn cảnh đó cũng là sản phẩm của hoạt động con người, và vì vậy , cả con người lẫn hoàn cảnh sống của nó đều mang t ính lịch sử. Đây cũng là h ạn chế chung của các triết học trước Mác. 11
  12. C. KẾT LUẬN Nhìn chung quan điểm về con người trong triết học Tây Âu thời phục hưng v à cận đại còn có một số hạn ch ế cơ bản là phiến diện trong ph ương pháp tiếp cận lý giải các vấn đề triết học về con người, cũng do vậy trong thực tế lịch sử đã tồn tại lâu dài quan niệm trừu tượng về bản chất con người và nh ững quan niệm phi thực t iễn trong lý giải nhân sinh , xã hội cũng như phương pháp hiện thực nhằm giải phóng con người. Và những hạn chế đó đã được khắc phục và vượt qua bởi quan niệm duy vật biện ch ứng của triết họ c Mác – Lên in về con người. \ Danh sách nhóm 3: NGUYỄN THỊ THU HƯƠNG PHẠ M HỒNG HẠNH TRƯƠNG AN H TUẤN DƯƠNG THỊ THU HƯƠNG TẠ THỊ HƯƠNG BOU SITHA PHẠM HỒNG TIẾN VÂN 12

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản