
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH
KHOA TÀI CHÍNH NHÀ NƯỚC
TIỂU LUẬN
ĐỀ TÀI 1:
TÓM LƯỢT LÝ THUYẾT VỀ MỐI QUAN HỆ
GIỮA LẠM PHÁT VÀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ
GV hướng dẫn: Trương Minh Tuấn
Nhóm thực hiện: 22
Tháng 11/2012

2
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH
KHOA TÀI CHÍNH NHÀ NƯỚC
TIỂU LUẬN
ĐỀ TÀI 1:
TÓM LƯỢT LÝ THUYẾT VỀ MỐI QUAN HỆ
GIỮA LẠM PHÁT VÀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ
GV hướng dẫn: Trương Minh Tuấn
Nhóm thực hiện: 22
Lê Ngọc Diệp STT: 10 MSSV:
Lê Thị Mừng STT: 77 MSSV:
Nguyễn Thanh Thủy STT: 130 MSSV: 33121021658
Tháng 11/2012

3
I. Đặt vấn đề
Tăng trưởng kinh tế và lạm phát là hai vấn đề lớn cơ bản của kinh tế vĩ mô, lạm
phát và tăng trưởng kinh tế có một quan hệ chế ước lẫn nhau và lạm phát chỉ có thể ở
một mức nhất định mới phù hợp cho tăng trưởng kinh tế. Có thể nói, trong rất nhiều
các nhân tố ảnh hưởng tới tăng trưởng kinh tế thì lạm phát giữ một vai trò rất to lớn.
Tuy nhiên, không phải trong mọi trường hợp và ở mọi giai đoạn phát triển kinh tế, các
lý thuyết về lạm phát và tăng trưởng kinh tế đều đúng tuyệt đối. Lạm phát trong trường
hợp cụ thể sẽ có ảnh hưởng ở những mức độ và khía cạnh khác nhau. Do vậy, việc xem
xét sự ảnh hưởng của lạm phát trong điều kiện cụ thể của quá trình đổi mới kinh tế ở
Việt Nam được đặt ra bức xúc, từ đó có những biện pháp kịp thời kiểm soát lạm phát
để đảm bảo tăng trưởng kinh tế của Việt Nam trong những chặng đường tiếp theo. Từ
những lý do trên, nhận thấy tầm quan trọng của vấn đề trong khuôn khổ của môn học,
chúng tôi muốn đi sâu, tìm hiểu vấn đề với đề tài:“ Tóm lượt lý thuyết về mối quan hệ
giữa lạm phát và tăng trưởng kinh tế”.
II. Giới thiệu
1) Lạm phát
Từ những lý thuyết về lạm phát cũng như thực tế cho thấy có rất nhiều cách
hiểu và định nghĩa khác nhau về lạm phát giữa các trường phái kinh tế, các luận thuyết
về lạm phát của các nhà kinh tế học trong và ngoài nước xưa và nay.
Theo Các Mác “Lạm phát là tình trạng khối lượng tiền giấy tràn đầy các kênh
lưu thông tiền tệ vượt qua các nhu cầu kinh tế thực tế, làm cho tiền tệ mất giá, là
phương tiện phân phối lại thu nhập quốc dân…”. Ông cho rằng lạm phát là bạn đường
của chủ nghĩa tư bản. Ngoài việc bóc lột người lao động bằng giá trị thặng dư, chủ
nghĩa tư bản còn gây ra lạm phát để bóc lột người lao động một lần nữa, do lạm phát
làm tiền lương thực tế của người lao động giảm xuống.
J. M. Keynes và trường phái tiền tệ ở Đức và Mỹ thì quan niệm: Lạm phát là sự
vi phạm quá trình tái sản xuất nằm trong lĩnh vực lưu thông tiền tệ…, là sự phát hành

4
tiền quá mức tạo ra cầu dư thừa thường xuyên…
L.V. Chandeler, D.C. Cliner với trường phái lạm phát giá cả thì khẳng định:
Lạm phát là sự tăng giá hàng bất kể dài hạn hay ngắn hặn, chu kỳ hay đột xuất.
G.G. Matrukhin( Liên Xô) lại cho rằng: Trong đời sống tổng mức giá cả tăng
trước hết thông qua việc tăng giá không đồng đều ở từng nhóm hàng hoá dẫn đến việc
tăng trưởng mức giá cả nói chung. Do đó có thể xem sự mất giá của đồng tiền là lạm
phát. Ông cũng chỉ rõ: Lạm phát đó là hình thức tràn trề tư bản một cách tiềm tàng (tự
phát hoặc có dụng ý) là sự phân phối lại sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân thông
qua giá cả của các khu vực của quá trình tái sản xuất xã hội, các ngành kinh tế và các
giai cấp, các nhóm dân cư xã hội.
Ở mức bao quát hơn, P.A. Samuelson và W.D. Nordhaus trong cuốn “Kinh tế
học” cho rằng lạm phát xảy ra khi mức giá cả chung và chi phí tăng lên…
Tuy nhiên xuất phát từ góc độ nào thì những quan niệm trên đều toát lên đặc tính cơ
bản chung về lạm phát là hiện tượng lượng tiền lưu thông tăng vượt quá sự tăng trưởng
hàng hóa sản xuất ra. Hiện tượng này dẫn đến giá cả của hầu hết các hàng hoá trong
nền kinh tế không ngừng tăng lên. Đây có thể coi là khái niệm nguyên bản về lạm
phát.
2) Phân loại lạm phát.
- Lạm phát một con số mỗi năm (lạm phát vừa phải): Là loại lạm phát xảy ra
khi giá cả tăng chậm và tỉ lệ lạm phát chỉ ở mức một con số hay dưới 10%/năm. Đây là
mức lạm phát mà nền kinh tế chấp nhận được, với mức lạm phát này tác động kém
hiệu quả của lạm phát là không đáng kể.
- Lạm phát hai con số mỗi năm (lạm phát phi mã): Khi giá cả đã bắt đầu tăng
đến hai con số mỗi năm. Ở mức lạm phát hai chữ số thấp (11, 12, 13%/năm), nói
chung những tác động tiêu cực của chúng là không đáng kể, nền kinh tế vẫn có thể
chấp nhận được. Nhưng khi tỷ lệ tăng giá ở mức hai con số cao, lạm phát sẽ trở thành
kẻ thù của sản xuất và thu nhập vì nhưng tác động tiêu cực của chúng là không nhỏ.

5
Lạm phát hai chữ số trở thành mối đe doạ đến sự ổn định của nền kinh tế.
- Siêu lạm phát: Tuỳ theo quan niệm của các nhà kinh tế, ngoài các loại lạm
phát trên đây còn có lạm phát ba chữ số. Nhiều người coi các loại lạm phát này là siêu
lạm phát vì chúng có tỷ lệ lạm phát rất cao và tốc độ tăng rất nhanh. Với siêu lạm phát,
những tác động tiêu cực của chúng đến đời sống và đến nền kinh tế trở nên rất nghiêm
trọng: kinh tế suy sụp một cách nhanh chóng, thu nhập thực tế của người lao động
giảm mạnh.
3) Tăng trưởng kinh tế
Tăng trưởng kinh tế là một trong những vấn đề cốt lõi của lý luận về phát triển
kinh tế. tăng trưởng và phát triển kinh tế là mục tiêu hàng đầu của tất cả các nước trên
thế giới, là thước đo chủ yếu về sự tiến bộ mỗi giai đoạn của một quốc gia.
Tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng thu nhập hay sản lượng được tính cho toàn bộ
nền kinh tế trong một thời kỳ nhất định( thường là một năm). Tăng trưởng kinh tế có
thể biểu thị bằng số tuyệt đối ( quy mô tăng trưởng) hoặc bằng số tương đối (tỷ lệ tăng
trưởng) – đó là tỷ lệ phần trăm giữa sản lượng tăng thêm của thời kỳ nghiên cứu so với
mức sản lượng của thời kỳ trước đó hoặc kỳ gốc.
Tăng trưởng kinh tế còn được xem xét dưới góc độ chất lượng. chất lượng tăng
trưởng kinh tế được thể hiện ở sự phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững của nền kinh
tế, thể hiện qua các đặc điểm sau:
- Tốc độ tăng trưởng cao và được duy trì trong một thời gian dài.
- Phát triển có hiệu quả thể hiện qua năng suất lao động, năng suất tài sản cao
và ổn định. Hiệu quả sử dụng vốn (ICOR) phù hợp, và đóng góp của nhân tố năng suất
tổng hợp (TFP) cao.
- Cơ cấu chuyển dịch kinh tế theo hướng nâng cao hiệu quả, phù hợp với thực
tiễn nền kinh tế trong mỗi thời kỳ
- Nền kinh tế có tính cạnh tranh cao
- Tăng trưởng kinh tế đi đôi với đảm bảo hài hòa đời sống kinh tế xã hội

