intTypePromotion=3

Tiểu luận tiến sĩ kinh tế: Hoàn thiện tổ chức kiểm toán nợ công tại Việt Nam

Chia sẻ: Anh Ngoc | Ngày: | Loại File: DOC | Số trang:177

0
41
lượt xem
10
download

Tiểu luận tiến sĩ kinh tế: Hoàn thiện tổ chức kiểm toán nợ công tại Việt Nam

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Mục tiêu nghiên cứu của Tiểu luận là trên cơ sở hệ thống hóa các vấn đề lý luận về nợ công và những vấn đề cơ bản về kiểm toán nhà nước liên quan đến kiểm toán nợ công, tiểu luận đi sâu đánh giá tình hình nợ công và quản lý nợ công, tập trung phân tích thực trạng về tổ chức kiểm toán nợ công ở Việt Nam, có tham khảo kinh nghiệm một số nước trong việc tổ chức kiểm toán nợ công, từ đó đề xuất các giải pháp hoàn thiện tổ chức kiểm toán nợ công do Kiểm toán Nhà nước Việt Nam thực hiện.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Tiểu luận tiến sĩ kinh tế: Hoàn thiện tổ chức kiểm toán nợ công tại Việt Nam

  1. MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài  Nợ  công đã trở  thành một trong những vấn đề  quan trọng và rất phức  tạp trong nền kinh tế  của mỗi quốc gia cũng như  toàn cầu trong giai đoạn   hiện nay. Nền kinh tế thế giới đang phải gánh chịu những món nợ  khổng lồ  của các chính phủ  mà có thể  gây ra những tác động tiêu cực. Nhiều nước có  mức nợ công rất lớn đang phải đối mặt với nhiều khó khăn trong việc cân đối  tài chính và thực hiện các nghĩa vụ  trả nợ. Việt Nam cũng không phải ngoại   lệ với những món nợ công đang ngày càng gia tăng. Hiện nay, có nhiều mối lo   ngại về nợ công của Việt Nam như cơ cấu vay nợ, cơ chế quản lý, hiệu quả  sử  dụng và tích lũy trả  nợ. Các vấn đề  của nợ  công và bản thân các mối lo   ngại sẽ tạo ra những tác động tiềm tàng mà nếu không được xử lý sẽ  gây ra   những hệ lụy tiêu cực. Ở  Việt Nam những năm vừa qua, vấn đề  thu hút nguồn lực phục vụ  cho việc phát triển kinh tế  xã hội luôn có xu hướng phát triển mạnh. Hàng  năm, ngoài nguồn vốn NSNN phục vụ cho đầu tư phát triển thì nguồn vốn từ  vay, nợ  của Chính phủ  cũng không ngừng tăng lên đáp  ứng nhu cầu đầu tư  ngày càng cao của xã hội nói chung và của Chính phủ nói riêng. Đây là nguồn  vốn quan trọng và chiếm tỷ  trọng tương đối lớn trong tổng số  vốn đầu tư  hàng năm của nước ta. Ngoài ra, một phần nguồn vay, nợ  của Chính phủ  được sử dụng để bù đắp thâm hụt ngân sách hàng năm.  Vấn đề  đặt ra là, không chỉ  quan tâm tới việc thu hút nguồn lực mà  quan trọng hơn là phải tập trung quản lý, sử dụng có hiệu quả nguồn vay, nợ  của Chính phủ, tạo đà cho sự  phát triển kinh tế  đất nước và trực tiếp hoặc   gián tiếp thu hồi vốn để  có nguồn thanh toán cho các khoản nợ  này. Mặt  khác, việc vay, nợ luôn phải đặt trong bối cảnh của sự cân bằng và đảm bảo  
  2. 2 an ninh tài chính của quốc gia, cần phải luôn có sự  đánh giá các rủi ro phát  sinh từ các khoản nợ công để  có biện pháp phòng ngừa, ngăn chặn các cuộc   khủng hoảng tài chính. Một trong những nhiệm vụ  quan trọng của KTNN là thực hiện kiểm  toán các khoản nợ công trên cơ sở đó ngăn ngừa được các rủi ro phát sinh, từ  đó đề  ra các biện pháp quản lý các khoản nợ  công một cách tốt hơn. KTNN   Việt Nam đã trải qua 19 năm hoạt động, nhưng đến nay việc kiểm toán nợ  công vẫn còn nhiều hạn chế. Trên thực tế, KTNN chưa thực hiện một cuộc   kiểm toán độc lập đối với các khoản nợ công. Hàng năm, khi kiểm toán quyết  toán NSNN có đề  cập đến các khoản nợ công nhưng mới  ở  những nội dung  hết sức đơn giản, chưa xem xét trong tính tổng thể, toàn diện của nó. Nguyên   nhân cơ bản là do chưa xác định đầy đủ nội dung, trình tự và phương thức tổ  chức kiểm toán nợ công. Thực tế  đó đòi hỏi phải nghiên cứu một cách toàn diện cả  về  lý luận,  thực tiễn nhằm xác định nội dung, trình tự và phương thức tổ chức kiểm toán  đối với nợ công để phục vụ cho việc thực hiện nhiệm vụ của KTNN. Đây là  đòi hỏi cấp thiết đối cơ quan Kiểm toán Nhà nước hiện nay. Xuất phát từ  các lý do trên và thực tiễn liên quan đến công tác chuyên  môn đã thôi thúc tác giả lựa chọn đề  tài “Hoàn thiện tổ chức kiểm toán nợ   công tại Việt Nam” làm tiểu luận tiến sĩ kinh tế. 2. Tổng quan về tình hình nghiên cứu có liên quan Qua tìm hiểu tình hình nghiên cứu trong nước và ngoài nước liên quan  đến đề  tài “Hoàn thiện tổ  chức kiểm toán nợ  công tại Việt Nam ”, Tác giả  được biết đã có một số  công trình nghiên cứu đề  cập đến những vấn đề  lý   luận và thực tiễn liên quan đến nội dung nghiên cứu của đề  tài ở những góc   độ và giai đoạn khác nhau: 
  3. 3 ­ Về  nợ công và quản lý nợ  công: Có khá nhiều công trình nghiên cứu   về  nợ  công và quản lý nợ  công giúp cho tác giả kế  thừa một số  vấn đề  lý  luận về nợ công, đánh giá tình hình quản lý nợ công như: Nợ công và tính bền  vững ở Việt Nam: Quá khứ, hiện tại và tương lai (2013), nghiên cứu của Ủy   ban Kinh tế của Quốc hội và UNDP tại Việt Nam; TS.Vũ Đình Ánh “Khuyến  nghị  giải pháp hoàn thiện chính sách quản lý nợ  công  ở  Việt Nam giai đoạn  2011­2015 và tầm nhìn đến 2020” (đề tài nghiên cứu khoa học cấp Viện năm  2010); IMF & WB (2001), “Hướng dẫn quản lý nợ công”...  ­ Về tổ chức kiểm toán nợ công: Trước năm 2008, gần như chưa có bài viết hoặc công trình nghiên cứu   nào liên quan đến tổ chức kiểm toán nợ công tại Việt Nam. Năm 2008, Kiểm toán Nhà nước có đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ  về  “Tổ  chức kiểm toán các khoản vay nợ  của Chính phủ” do TS. Lê Đình  Thăng làm chủ  nhiệm. Tại thời điểm nghiên cứu, Đề  tài đã đề  cập khá cơ  bản về nợ Chính phủ và quản lý nợ  Chính phủ; những vấn đề  về  kiểm toán  nợ  Chính phủ; đồng thời đề  xuất một số  giải pháp tổ  chức kiểm toán nợ  Chính phủ. Tuy nhiên, Đề  tài mới tập trung nghiên cứu về  kiểm toán nợ  Chính phủ trong khi nợ công bao gồm nợ Chính phủ, nợ được chính phủ bảo   lãnh và nợ  chính quyền địa phương; Đề  tài thực hiện khi Luật quản lý nợ  công chưa ban hành, từ khi Luật quản lý nợ công được ban hành năm 2009, có   hiệu lực từ  ngày 01/01/2010 đến nay, công tác quản lý nợ  công đã có rất   nhiều thay đổi từ yêu cầu quản lý nợ, cơ quan quản lý nợ, cơ cấu nợ, cơ chế  quản lý nợ,...; công tác kiểm toán của Kiểm toán Nhà nước trong đó có kiểm  toán nợ  công từ  năm 2008 đến nay đã có những thay đổi đáng chú ý là việc  tăng cường kiểm toán hoạt động đối với các cuộc kiểm toán chuyên đề  và   nâng cao một bước về  kiểm toán nợ  công trong cuộc kiểm toán Quyết toán  ngân sách nhà nước hằng năm.
  4. 4 Năm 2010, Kiểm toán Nhà nước tổ chức Hội thảo Tổ chức kiểm toán  đối với việc quản lý và sử dụng các khoản nợ công. Tài liệu Hội thảo là các  bài viết đơn lẻ, nghiên cứu sâu về một số khía cạnh về quản lý và kiểm toán  nợ công do đó chưa có nghiên cứu tổng thể và đầy đủ  về  tổ  chức kiểm toán  nợ công. Ngoài ra, có một số  bài viết, công trình nghiên cứu đơn lẻ  về  một vài  nội dung cụ  thể  của nợ  công và kiểm toán nợ  công được công bố  trên các   Báo, Tạp chí và phương tiện thông tin đại chúng. Về tình hình nghiên cứu ngoài nước: Năm 2007, ASOSAI đã đưa ra các  khuyến nghị  về  kiểm toán nợ  công; năm 2009, cơ  quan sáng kiến phát triển   của INTOSAI đã tổ  chức hội thảo quốc tế liên quan đến kiểm toán nợ  công;  năm 2012, INTOSAI đã đưa ra các chỉ dẫn kiểm toán về nợ công. Các tài liệu  trên là các chỉ dẫn và khuyến nghị chung hoặc kinh nghiệm của một vài nước   trên thế  giới về  kiểm toán nợ  công nhưng chưa đề  cập nhiều đến tổ  chức  kiểm toán nợ  công. Đây là các tài liệu tham khảo có giá trị  trong quá trình  nghiên cứu lý luân về  kiểm toán nợ  công và kinh nghiệm một số  nước trên   thế giới về kiểm toán nợ công của Nghiên cứu sinh.    Từ  những vấn đề  trên cho thấy các nội dung liên quan đến tổ  chức  kiểm toán nợ  công còn ít được nghiên cứu và thiếu tính hệ  thống. Tác giả  chưa tìm thấy công trình nào nghiên cứu có hệ thống và chuyên sâu về vấn đề  này, vì vậy đề tài tiểu luận “Hoàn thiện tổ chức kiểm toán nợ công tại Việt   Nam” không chỉ mang tính cấp thiết mà còn mang tính độc lập. 3. Mục tiêu nghiên cứu Mục tiêu nghiên cứu của Tiểu luận là trên cơ sở hệ thống hóa các vấn  đề  lý luận về nợ công và những vấn đề  cơ bản về  kiểm toán nhà nước liên   quan đến kiểm toán nợ  công, tiểu luận đi sâu đánh giá tình hình nợ  công và   quản lý nợ công, tập trung phân tích thực trạng về tổ chức kiểm toán nợ công  ở Việt Nam, có tham khảo kinh nghiệm một số nước trong việc tổ chức kiểm 
  5. 5 toán nợ  công, từ  đó đề  xuất các giải pháp hoàn thiện tổ  chức kiểm toán nợ  công do Kiểm toán Nhà nước Việt Nam thực hiện. 4. Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu     4.1. Đối tượng nghiên cứu  Tiểu luận đi sâu nghiên cứu những vấn đề  lý luận và thực tiễn có liên  quan đến tổ chức kiểm toán nợ công nói chung do Kiểm toán Nhà nước Việt  Nam thực hiện với các nội dung cơ  bản là xác định căn cứ  kiểm toán, mục   tiêu kiểm toán, nội dung, quy trình, phương thức tổ chức kiểm toán nợ công. 4.2. Phạm vi nghiên cứu      Tiểu luận chỉ hệ thống hóa các vấn đề  cơ bản về nợ công, vai trò của  nợ  công và quản lý nợ  công cũng như  tình hình nợ  công trên thế  giới nói  chung và của Việt Nam nói riêng; những đặc điểm cơ  bản của nợ  công; xác   định vai trò của Kiểm toán Nhà nước trong kiểm toán nợ  công, các khuyến   cáo của INTOSAI đối với kiểm toán nợ  công; xác định yêu cầu đặt ra với   việc tổ  chức kiểm toán nợ  công; không đi sâu nghiên cứu về  thực trạng nợ  công và quản lý nợ  công của Việt Nam, cũng như  quy trình quản lý nợ, các  nghiệp vụ về nợ và các vấn đề liên quan đến cơ chế quản lý nợ công.... Đề tài đi sâu nghiên cứu tổ chức kiểm toán nợ công do Kiểm toán Nhà   nước Việt Nam thực hiện với thời gian từ năm 2001 đến năm 2012 đối với  các nội dung đã xác định trong đối tượng nghiên cứu, đánh giá thực trạng tổ  chức kiểm toán nợ công. Nghiên cứu kinh nghiệm tổ chức kiểm toán nợ công   của một số nước trên thế giới để rút ra các bài học cho Kiểm toán Nhà nước  Việt Nam.   Trên cơ  sở  đó đề  xuất các giải pháp và điều kiện nhằm hoàn  thiện tổ  chức kiểm toán nợ  công phù hợp với điều kiện cụ  thể  về  tổ  chức   kiểm toán nợ  công của Kiểm toán Nhà nước Việt Nam, trong đó tập trung  nghiên cứu về  căn cứ  kiểm toán nợ  công, mục tiêu, nội dung kiểm toán nợ  công, quy trình và phương thức tổ chức kiểm toán nợ công.
  6. 6 5. Phương pháp nghiên cứu  Đề tài sử dụng phương pháp nghiên cứu cơ bản, như: phương pháp duy  vật biện chứng và duy vật lịch sử, kết hợp với lôgíc học...; Sử dụng phương   pháp nghiên cứu tài liệu, tổng hợp, phân tích, hệ thống hoá; Sử dụng phương   pháp chuyên gia (phỏng vấn hoặc hội nghị) để  lấy ý kiến các chuyên gia về  lĩnh vực nghiên cứu. Sử dụng Hồ sơ các cuộc kiểm toán có liên quan của Cơ  quan KTNN trong phạm vi nghiên cứu, để  phân tích, đánh giá thực trạng tổ  chức kiểm toán nợ công trong giai đoạn hiện nay.  Để đạt được mục tiêu nghiên cứu đề ra, tác giả đã thực hiện phân tích  các nguồn tài liệu đã thu thập được về  kiểm toán quyết toán ngân sách nhà   nước, kiểm toán ngân sách địa phương, kiểm toán chuyên đề  quản lý và sử  dụng vốn trái phiếu Chính phủ, các cuộc kiểm toán sử  dụng vốn ODA,... và   từ rất nhiều các nguồn khác nhau như: Quan điểm của Đảng, chính sách, pháp   luật của Nhà nước liên quan đến phát triển kinh tế  xã hội, ngân sách Nhà   nước, nợ công và quản lý nợ công; các giáo trình, sách giáo khoa chuyên ngành  của một số trường đại học ở trong nước và các bài viết trên các báo, tạp chí  chuyên ngành có uy tín viết về nợ công và kiểm toán nợ công.  6. Những kết luận mới của Tiểu luận Là một đề  tài có tính tiên phong trong khoa học về  tổ  chức kiểm toán  nợ công, tiểu luận sẽ đóng góp hữu ích cho công tác nghiên cứu, đào tạo cũng  như góp phần nâng cao chất lượng kiểm toán nói chung và kiểm toán nợ công   nói riêng. Những đóng góp của tiểu luận thể  hiện trên những mặt chủ  yếu   sau: Một là, hệ  thống hóa các khái niệm, các vấn đề  lý luận cơ  bản về  nợ  công và kiểm  toán nợ  công; phân tích vai trò  của nợ  công và những  ảnh   hưởng trọng yếu của việc vay nợ  trong mối tương quan với yêu cầu phát   triển và nghĩa vụ trả nợ cũng như tác động tiêu cực có thể có trong tương lai; 
  7. 7 làm sáng tỏ mục tiêu, tầm quan trọng của quản lý nợ công. Qua đó, làm rõ yêu  cầu giám sát quản lý nợ công và vai trò của Kiểm toán Nhà nước trong kiểm   toán nợ công. Hai là, Tiểu luận đã phân tích làm sáng tỏ  vai trò của Kiểm toán Nhà  nước đối với nợ  công là xác nhận tính trung thực của thông tin trên các báo  cáo vay nợ, giúp cải thiện tính minh bạch và công khai các thông tin nợ  công  trong quản lý nợ  công; cảnh báo, khuyến cáo các khả  năng có thể  xẩy ra rủi   ro tài chính quốc gia giúp Quốc hội, Chính phủ  đánh giá tính bền vững của   các   khoản  nợ;   thông   báo  kịp   thời   cho  cơ   quan  có   thẩm  quyền   về   những   trường hợp bất thường và khả năng thâm hụt trong quản lý, sử dụng nợ công.   Tiểu luận đã tổng hợp đưa ra năm (05) khuyến cáo về kiểm toán nợ công của   INTOSAI. Qua đó, đưa ra các yếu tố  cần thiết trong tổ  chức kiểm toán nợ  công. Ba là, trên cơ sở tình hình chung về nợ công của các nước trên thế giới,   tình hình nợ  công và quản lý nợ  công của Việt Nam trong những năm gần  đây, Tiểu luận đã đánh giá thực trạng cơ sở pháp lý và căn cứ của kiểm toán   nợ  công, thực trạng mục tiêu, nội dung, quy trình và phương thức tổ  chức   kiểm toán nợ  công. Tiểu luận đưa ra bốn (04) kết quả  đạt được và ba (03)   tồn tại, trong đó qua 19 năm hoạt động, Kiểm toán Nhà nước vẫn chưa tiến  hành kiểm toán nợ công một cách đầy đủ, chưa có ý kiến kiến nghị có tính vĩ  mô, chưa có đánh giá giám sát về  cơ  cấu, chi phí,... để  hoàn thiện công tác   quản lý nợ công. Bốn là,  xuất phát từ  định hướng phát triển đất nước với vấn đề  nợ  công, định hướng phát triển Kiểm toán Nhà nước Việt Nam về kiểm toán nợ  công và kinh nghiệm kiểm toán nợ công của một số nước (Đức, Ucraina, Mỹ,  Mexico) cùng bài học rút ra cho Việt Nam, Tiểu luận đã đề  xuất chín (09)  giải pháp để hoàn thiện tổ chức kiểm toán nợ công. Trong đó, trọng tâm là:
  8. 8 (1) Hoàn thiện nội dung kiểm toán nợ  công bao gồm: Kiểm toán tính  trung thực hợp lý các báo cáo nợ  công; kiểm toán cơ  cấu vay nợ; kiểm toán   chi phí vay nợ; kiểm toán sử dụng các khoản vay; kiểm toán cấp bảo lãnh của   Chính phủ; kiểm toán tính tuân thủ, hiệu lực, hiệu quả của quản lý nợ  công;  kiểm toán việc thực hiện chức năng nhiệm vụ của cơ quan quản lý nợ công,.. (2) Hoàn thiện phương thức tổ  chức kiểm toán nợ  công, cụ  thể  là:  Kiểm toán các báo cáo thường niên về  nợ  công, kiểm toán theo chuyên đề,  kiểm toán theo từng dự  án, công trình cụ  thể  sử  dụng nợ  công. Tập trung   kiểm toán ở các cơ quan được giao nhiệm vụ quản lý nợ công (Bộ Tài chính,  Bộ Kế hoạch và đầu tư, Ngân hàng Nhà nước). Kiểm toán toàn diện theo chu   kỳ kép kín từ quá trình vay, giải ngân thanh toán và trả nợ. Năm là,  đề  xuất những điều kiện nâng cao hiệu quả  các nhóm giải  pháp: các cơ  quan Nhà nước cần tạo điều kiện về  môi trường pháp lý, cung   cấp thông tin đầy đủ, kịp thời, công khai minh bạch và hoàn thiện cơ  chế  quản lý nợ  công. KTNN cần có đội ngũ cán bộ  đáp  ứng yêu cầu,  ứng dụng  các phương pháp, kỹ  thuật kiểm toán tiên tiến và tổ  chức đơn vị  riêng về  kiểm toán hoạt động. 7. Kết cấu của đề tài Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục, phụ lục và Danh mục tài liệu   tham khảo, nội dung chính của đề tài được chia làm 3 chương: ­ Chương 1: Lý luận cơ bản về nợ công và tổ chức kiểm toán nợ công; ­ Chương 2: Thực trạng tổ chức kiểm toán nợ công do Kiểm toán Nhà  nước Việt Nam thực hiện;  ­ Chương 3: Định hướng và giải pháp hoàn thiện tổ chức kiểm toán nợ  công do Kiểm toán Nhà nước Việt Nam thực hiện. Chương 1 LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ NỢ CÔNG VÀ TỔ CHỨC KIỂM TOÁN NỢ  CÔNG
  9. 9 1.1. Nợ công và quản lý nợ công 1.1.1. Một số khái niệm cơ bản về nợ công Cho đến nay các khái niệm nợ  vẫn còn rất nhiều tranh luận, vấn đề  không phải là các nghiệp vụ  vay trả  như  thế  nào mà lại tập trung vào các  tranh luận xác định các khu vực vay nợ, và được tính như  thế  nào đối với  từng loại vay nợ; các khoản vay nợ tác động như thế nào đến vị thế  tài khoá  của quốc gia. Để hiểu rõ hơn về nợ công chúng ta xem xét một số khái niệm:   Khái niệm nợ: Theo các tài liệu hướng dẫn về  thống kê nợ  của các   định chế  tài chính quốc tế, “Nợ” là toàn bộ số dư còn lại tại một thời điểm  nhất định của các khoản vay mà một đối tượng nào đó có nghĩa vụ phải thanh   toán (cả gốc, lãi, phí và các chi phí khác có liên quan) vào một hoặc nhiều thời   điểm trong tương lai. Theo từ  điển kinh tế, tài chính, ngân hàng, do PGS.TS  Lê Văn Tề biên soạn, Nhà xuất bản chính trị quốc gia xuất bản năm 1996 thì  “nợ” là một số tiền do một cá nhân, xí nghiệp hoặc Chính phủ (bên mượn) nợ  người cho vay. Các khoản nợ phát sinh khi một cá nhân, tổ chức, v.v... tiêu xài   nhiều hơn khoản lợi tức có được hoặc khi họ  cố  tình đề  ra phương án vay   tiền để  mua một số  hàng hoá, dịch vụ  hoặc tích sản nào đó. Nợ  cá nhân có  thể  bao gồm: cầm cố, tín dụng trả  góp, vay ngân hàng và thấu chi. Nợ  của   Chính phủ  có thể  theo dạng các trái khoán dài hạn, trái phiếu ngắn hạn của   ngân khố. Nợ  Quốc gia hay chính xác hơn là nợ  nước ngoài của Quốc gia được   hiểu là toàn bộ  số  vay nợ  nước ngoài của khu vực công và khu vực tư  nhân  tại một thời điểm có trách nhiệm hoàn trả  trong một thời kỳ  nhất định. Nợ  nước ngoài  tại một thời điểm là số  dư  các nghĩa vụ  nợ  thực tế  (không kể  nghĩa vụ  dự  phòng) mà người vay phải thanh toán lãi và/hoặc gốc vào một  hoặc nhiều thời điểm trong tương lai, và là  nợ  của người cư  trú đối với  người không cư trú. Theo định nghĩa này, các khoản nợ được phát hành trong 
  10. 10 nước (ví dụ trái phiếu Chính phủ), không kể là bằng ngoại tệ hay nội tệ, nếu   do người không cư trú nắm giữ cũng được coi là “Nợ nước ngoài”. Căn cứ theo đối tượng là người vay, Nợ nước ngoài được phân thành: ­ Nợ nước ngoài của Chính phủ, ­ Nợ nước ngoài của khu vực công,  ­ Nợ nước ngoài của khu vực tư nhân.  Nợ  công là kết quả  của tình trạng bội chi NSNN, vừa có thể  là nguyên  nhân làm gia tăng bội chi NSNN trong tương lai. Hiện có nhiều quan điểm  khác nhau về xác định nợ công. Giáo sư Michael Parkin của Trường Quản Lý  Nhà Nước Kenedy thuộc đại học Harvard cho rằng nợ công là nợ  của Chính  phủ, là tổng số  tiền Chính phủ  đã vay mượn từ  các hộ  gia đình, các doanh   nghiệp trong nước và từ các chủ  thể khác ở nước ngoài. Nó phản ánh lượng   tích lũy của tất cả  các khoản bội chi ngân sách trong quá khứ  trừ  đi tất cả  những khoản thặng dư ngân sách trong quá khứ. Khái niệm này đứng trên giác  độ chủ thể đi vay và mối quan hệ giữa bội chi NSNN với nợ công để xem xét  vấn đề. Theo đó, NSNN càng bội chi, nợ  công sẽ  càng gia tăng. Tuy nhiên,  trên giác độ  nghĩa vụ  chi trả  thì khái niệm này chưa bao quát được những   khoản nợ  do các chủ  thể  khác vay nhưng được Chính phủ  bảo lãnh thanh  toán. Đây là vấn đề rất cần thiết khi bàn đến quản lý nợ công, đặc biệt là đối  với thực tiễn Việt Nam, các doanh nghiệp khó có khả  năng vay nước ngoài  nếu không được Chính phủ  bảo lãnh. Khi Chính phủ  bảo lãnh thanh toán thì  trách nhiệm thanh toán cuối cùng thuộc về  Chính phủ, nếu doanh nghiệp  không thanh toán được Chính phủ sẽ  phải trả nợ thay.  Đây là áp lực đối với  cân đối NSNN của năm phát sinh khoản thanh toán nợ. Hoặc, theo định nghĩa được đăng tải trên các trang web ( www.cia.gov;  www.ofina.gov;  www.wordnet.princeton.edu;  www.enwikipedia.org)  nợ   công  là   số   tiền   mà   chính   quyền   ở   tất   cả   các   cấp   (trung   ương,   liên   bang,   địa 
  11. 11 phương…) nợ  các chủ  thể  khác. Khái niệm này lại rất khái quát, và cũng  chưa làm rõ: các khoản nợ  của các doanh nghiệp thuộc khu vực công và tư,   mà được chính quyền bảo lãnh, có được xem là nợ công hay không?  Nợ  công xuất phát từ  nhu cầu chi tiêu của chính phủ; khi chi tiêu của   chính phủ lớn hơn số thuế, phí, lệ phí thu được, Nhà nước phải đi vay (trong   hoặc ngoài nước) để  trang trải thâm hụt ngân sách. Các khoản vay này sẽ  phải hoàn trả gốc và lãi khi đến hạn, Nhà nước sẽ  phải thu thuế tăng lên để  bù đắp. Vì vậy, suy cho cùng nợ công chỉ là sự lựa chọn thời gian đánh thuế:   hôm nay hay ngày mai, thế hệ này hay thế hệ khác. Vay nợ thực chất là cách   đánh thuế dần dần, được hầu hết chính phủ các nước sử dụng để tài trợ cho  các hoạt động chi ngân sách. Nợ  chính phủ  thể  hiện sự chuyển giao của cải   từ  thế  hệ  sau (thế  hệ  phải trả  thuế  cao) cho thế  hệ  hiện tại (thế  hệ được  giảm thuế). Nhìn nhận từ khía cạnh này có hai quan điểm cơ bản về nợ công.  Theo quan điểm truyền thống về nợ công, đại diện là Keynes, cho rằng,   việc vay nợ của chính phủ  làm giảm tiết kiệm của quốc gia và mức tích luỹ  vốn, vì số  thuế  cắt giảm được bù đắp bằng cách vay nợ  nên khuyến khích  thế  hệ  hiện tại tiêu dùng nhiều hơn, số  người thất nghiệp giảm đi mặc dù  lạm phát có thể cao hơn. Tuy nhiên, vay nợ  để  lại gánh nặng nợ  cho thế  hệ  tương lai; các thế  hệ  tương lai phải sống trong một quốc gia vay nợ n ước   ngoài lớn hơn và vốn tích luỹ từ nội bộ nhỏ hơn. Trái ngược với quan điểm truyền thống về  nợ  công, những người theo   quan điểm kinh tế  học vĩ mô cổ  điển (hình thành từ  thập niên 1970), đứng  đầu là Ricardo­Barro cho rằng, biện pháp cắt giảm thuế  được bù đắp bằng   nợ chính phủ không kích thích chi tiêu trong ngắn hạn, vì không làm tăng thu  nhập thường xuyên của các cá nhân mà chỉ  làm dịch chuyển thuế từ hiện tại   sang tương lai. Chính sách cắt giảm thuế và tài trợ bằng vay nợ sẽ không gây   ra những tác động thực sự  đối với nền kinh tế. Việc chấp nhận thâm hụt   giảm thu trong thời kỳ suy thoái, tăng thu trong giai đoạn hưng thịnh và vay nợ 
  12. 12 cũng là cách “lưu thông thuế” để  giảm thiểu những tác động tiêu cực của  thuế đối với chu trình kinh doanh. Theo định nghĩa của WB  và IMF, nợ  công là nghĩa vụ  nợ  của khu vực  công, bao gồm các nghĩa vụ nợ của:  ­ Chính phủ trung ương và các bộ; ­ Các cấp chính quyền địa phương; ­ Ngân hàng trung ương; ­  Các thể  chế  độc lập, nhưng nguồn vốn hoạt động của nó do NSNN  quyết định (trên 50% vốn thuộc sỡ hữu nhà nước) và trong trường hợp vỡ nợ  nhà nước phải trả nợ thay cho thể chế đó. Theo nghĩa hẹp nợ công bao gồm nghĩa vụ nợ của chính phủ trung ương   và các cấp chính quyền địa phương, và nợ  của các tổ  chức độc lập nhưng   được Chính phủ bảo lãnh thanh toán. Bảo lãnh là cam kết của Chính phủ với   người cho vay về  việc thực hiện nghĩa vụ  trả  nợ  trong trường hợp đến hạn  trả nợ mà người vay không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ  trả nợ. Tùy thuộc vào khuôn khổ thể chế và chính trị, quan niệm về nợ công và  phạm vi quản lý nợ  công của mỗi quốc gia cũng rất khác nhau. Trong Luật   quản lý nợ công của các nước đều thể hiện phạm vi quản lý nợ chính phủ và   nợ được chính phủ  bảo lãnh. Một số  nước xác định nợ  công còn có thêm nợ  chính quyền địa phương như: Đài Loan, Bungari, Rumani…, nợ  của doanh   nghiệp nhà nước phi tài chính như: Thái Lan, Macedonia.     Trong Luật Quản lý nợ  công năm 2009 của Việt Nam, nợ  công cũng  được quan niệm theo nghĩa hẹp. Nợ  công bao gồm nợ  chính phủ, nợ  được  Chính phủ bảo lãnh và nợ của chính quyền địa phương, trong đó: ­ Nợ chính phủ là khoản nợ phát sinh từ các khoản vay trong nước, nước  ngoài, được ký kết, phát hành nhân danh Nhà nước, nhân danh Chính phủ 
  13. 13 hoặc các khoản vay khác do Bộ  Tài chính ký kết, phát hành, uỷ  quyền phát   hành theo quy định của pháp luật. Nợ chính phủ không bao gồm khoản nợ do   Ngân hàng Nhà nước phát hành nhằm thực hiện chính sách tiền tệ  trong từng   thời kỳ.  ­ Nợ  được Chính phủ  bảo lãnh là khoản nợ  của doanh nghiệp, tổ  chức   tài chính, tín dụng vay trong nước, nước ngoài được Chính phủ bảo lãnh. ­ Nợ  chính quyền địa phương là khoản nợ  do  Ủy ban nhân dân tỉnh,  thành phố trực thuộc trung ương ký kết, phát hành hoặc uỷ quyền phát hành. Như vậy, về nguyên tắc, trường hợp Chính phủ không cấp bảo lãnh cho  khoản vay của doanh nghiệp nhà nước thì khoản vay đó không thuộc nợ công.   Trong trường hợp này, trách nhiệm của Chính phủ với tư cách là chủ  sở  hữu  của doanh nghiệp nhà nước đối với các khoản nợ  tự  vay, tự  trả  của doanh  nghiệp nhà nước chỉ  trong phạm vi vốn điều lệ  mà doanh nghiệp nhà nước   được cấp, tương tự đối với các loại hình công ty trách nhiệm hữu hạn, công  ty cổ phần khác. Các cuộc khủng khoảng tài chính – tiền tệ     ở  Mêhicô, Đông Á, Nga,  Brasil và đặc biệt là Achentina, Hy Lạp, Tây Ban Nha trong những năm gần  đây lại càng làm cho Chính phủ  của các nền kinh tế nhận thấy rằng:  ở mức   độ nhất định và trong bối cảnh nào đó Chính phủ cũng phải chịu trách nhiệm  đối với sự  vay mượn của khu vực tư bởi vì sự  vỡ  nợ  của khu vực này cũng   sẽ ảnh hưởng đến thứ tự xếp hạng tín nhiệm của quốc gia. Từ những phân tích trên và vì tầm quan trọng của việc xác định nợ công,  theo tôi, khi đưa ra khái niệm nợ công cần đáp ứng các yêu cầu sau: ­  Tính chính xác  nhằm tránh sự  mơ  hồ  và tranh cãi về  việc đưa vào  hoặc loại trừ những khoản mục đặc biệt.   ­ Tính rõ ràng giúp cho người sử dụng hiểu và phân tích bảng báo cáo  nợ công.
  14. 14  ­ Tính thống nhất về số liệu thống kê và ghi chép kế toán từ năm này  sang năm khác và giữa các quốc gia để so sánh và đánh giá. ­ Tính toàn diện để đảm bảo tất cả các khoản nợ đặc thù được kiểm   soát và quản lý.   ­  Tính thích hợp  trong  việc đưa vào hay loại trừ  một khoản nào đó  trong nợ  công cần phải dựa vào mục tiêu quản lý nợ  công và mục đích sử  dụng báo cáo nợ  công. Những định nghĩa khác nhau của nợ  công được sử  dụng cho các mục đích khác nhau. Chẳng hạn, báo cáo nợ  công phục vụ  cho   phân tích kinh tế vĩ mô và xác định nghĩa vụ thanh toán cuối cùng thì nợ công  là toàn bộ nợ của khu vực công. Còn nếu báo cáo nợ công được sử  dụng để  minh chứng tính trách nhiệm về  quản lý NSNN của Chính phủ  trước Quốc   hội thì định nghĩa nợ công sẽ hẹp hơn, chỉ bao gồm các khoản nợ của các cấp  chính quyền. Trong hướng  dẫn chung về  nợ  công được  phát hành bởi INTOSAI  tháng 5 năm 2000 đã định nghĩa nợ  công như  sau: “Khoản phải trả  hay các   cam kết khác được gánh chịu trực tiếp bởi các cơ quan công quyền như là: ­ Chính phủ trung  ương, hay một Chính phủ  liên bang, tuỳ  thuộc vào   thể chế chính trị của từng nước; ­ Các Chính phủ bang, tỉnh, đô thị, khu vực và địa phương khác; ­ Các doanh nghiệp, đơn vị kinh doanh do Nhà nước sở hữu hay quản lý;   ­ Các đơn vị Nhà nước khác. Khoản phải trả  hay các cam kết khác mà các cơ  quan Nhà nước phải   gánh vác với vai trò đại diện cho các doanh nghiệp tư  nhân hay các đơn vị   khác. 
  15. 15 Việc xử  lý đối với các khoản phải trả  của ngân hàng trung  ương tuỳ   thuộc vào địa vị rõ ràng của các ngân hàng và mức độ độc lập của chúng từ   Chính phủ trung ương”. Trong hướng dẫn của Uỷ ban nợ công của INTOSAI cũng bao hàm các  khoản nghĩa vụ  trả  nợ  không chắc chắn là nợ  công. Theo hướng dẫn, một   khoản nghĩa vụ hay cam kết có thể xem là nợ công nếu nó rơi vào các khoản  kể  trên và có thể  đo được. Hướng dẫn của INTOSAI đã bao hàm các khoản  nghĩa vụ  trả nợ  chưa chắc chắn là nợ  công một cách đặc biệt. Trong những   năm gần đây, mức độ các khoản nghĩa vụ trả nợ chưa chắc chắn đó tăng một  cách đáng kể trong một số nước. Trong nhiều nước các khoản nợ chưa chắc   chắn đó đã trở thành nợ thật. Vì vậy, nó được khuyến cáo rằng các khoản vay  được bảo lãnh bởi Chính phủ  nên là một phần của nợ công, hoặc là tổng số  hoặc chỉ trích dự phòng một phần nào đó.    Một cách thông lệ, các nước báo cáo nợ công và các thông tin tài chính  khác bởi bổn phận của họ  là thành viên của các định chế  tài chính quốc tế  như IMF và Ngân hàng Thế giới. Các thông tin nợ công được báo cáo tới các  tổ  chức này nên được biên soạn theo các quy định về  báo cáo của họ.  Đặc  biệt, các nghĩa vụ nợ của lĩnh vực công được báo cáo tới các tổ chức quốc tế  nên bao hàm tất cả  các nghĩa vụ  tài chính của Chính phủ  hình thành từ  việc   vay mượn trực tiếp hay việc bảo lãnh các khoản nợ  của các Doanh nghiệp   Nhà nước. Các nghĩa vụ  nợ  này có thể  phân loại thành nợ  trong nước và nợ  nước ngoài, dựa trên nơi cư trú của chủ nợ.  Hệ  thống báo cáo nợ  của WB (tháng 1/2000) định nghĩa nợ  khu vực  công (nợ công) như sau: Khu vực công bao gồm các loại thể chế sau đây:  ­ Chính phủ trung ương và các cơ quan của nó; ­ Chính quyền địa phương như bang, tỉnh và thành phố;
  16. 16 ­ Ngân hàng trung ương; ­ Các tổ  chức tự  chủ  (Các công ty tài chính và phi tài chính; các ngân   hàng thương mại, các đơn vị  công ích...) khi: Ngân sách của tổ  chức đó là do  Chính phủ  báo cáo phê duyệt; Chính phủ  sở  hữu hơn 50% số  cổ  phần có   quyền biểu quyết hay hơn phân nửa số  thành viên ban giám đốc là các đại  diện của Chính phủ; Khi vỡ nợ, nhà nước sẽ phải chịu trách nhiệm trả nợ của   tổ chức đó. Nợ tư nhân được nhà nước bảo lãnh là khoản nợ của một cá nhân hay  doanh nghiệp tư  nhân mà việc thanh toán trả  nợ  được bảo lãnh bởi một tổ  chức công theo như định nghĩa ở trên. Nợ  công bao gồm các nghĩa vụ  nợ  ngoài nước và nợ  trong nước do  Chính phủ trực tiếp vay hoặc bảo lãnh cho các đối tượng khác vay. Khu vực  công theo định nghĩa này được hiểu là bao gồm mọi đơn vị  thuộc Chính phủ  và mọi thể chế phi lợi nhuận, phi thị trường được các đơn vị Chính phủ kiểm  soát và tài trợ  phần lớn. Như  vậy, nợ công  ở  đây được hiểu là bao gồm nợ  Chính phủ trung ương, chính quyền địa phương và các thể chế độc lập phi lợi   nhuận được Chính phủ  tài trợ. Qua đây có thể  thấy nợ  công bao gồm các   khoản vay trong nước, vay nước ngoài của Chính phủ  trung  ương, Chính  quyền địa phương và các thể  chế  phi lợi nhuận, phi thị  trường thuộc Chính  phủ kiểm soát và tài trợ.  Nghĩa vụ nợ dự phòng (có tài liệu gọi là nghĩa vụ nợ bất thường hay nợ  tiềm  ẩn) không phải là nghĩa vụ  nợ  hiện tại mà là nghĩa vụ  tiềm tàng trong  tương lai. Các nghĩa vụ nợ này chưa được coi là “nợ” cho đến khi thể hiện rõ   và bị đòi phải trả (ví dụ  bảo lãnh Chính phủ  cho các doanh nghiệp vay nước   ngoài hoặc huy động vốn trong nước). Nghĩa vụ  nợ  dự  phòng không phải là  nợ trực tiếp nhưng cần phải được kiểm soát và giám sát chặt chẽ và trong khi   chúng chưa trở thành nghĩa vụ nợ hiển nhiên có thể theo dõi ghi chép ở dạng  
  17. 17 “khoản mục ghi nhớ” hoặc còn gọi là “hạch toán ngoại bảng” hay “dưới   dòng”. Hiện nay, khái niệm “Nghĩa vụ nợ dự phòng” còn chưa được biết đến   nhiều  ở  Việt Nam trong khi đó  ở  những nước có thực tiễn quản lý tốt, các  Chính phủ đều dành quan tâm rất lớn đối với việc tổ chức theo dõi, ghi chép,   dự  báo mức độ   ảnh hưởng đến NSNN và đưa vào khoản mục dự  phòng khi   xây dựng dự  toán NSNN để  có nguồn chi trả  khi nghĩa vụ  trả  nợ  phát sinh   trong năm ngân sách. Các nhà quản lý nợ cần xem xét các tác động của nợ bất  thường  đối với  vị  thế  tài  chính của Chính phủ, bao gồm khả  năng thanh   khoản chung, khi ra những quyết định về  vay mượn. Nợ  dự  phòng là những   quyền đòi về tài chính trong tương lai đối với Chính phủ, tuy chưa được hình   thành cụ thể, nhưng có thể gây ra trách nhiệm tài chính hoặc công nợ cụ thể  trong những điều kiện nhất định. Đó có thể  là các công nợ  biết trước (như  bảo lãnh của Chính phủ do một đơn vị nào đó trong nước cam kết đối với các   khoản vay ngoại hối, chương trình bảo hiểm của Chính phủ đối với mất mùa  hoặc thiên tai và những công cụ  như  quyền chọn bán đối với chứng khoán   Chính phủ) hoặc không biết trước, khi Chính phủ  không có nghĩa vụ  hợp  đồng phải cung cấp hỗ  trợ, nhưng (về sau) lại quyết định thực hiện khi cho   rằng chi phí của việc không can thiệp là không chấp nhận được (ví dụ  như  khi phải cứu giúp khu vực tài chính, các Doanh nghiệp nhà nước, hoặc Chính   quyền địa phương). Tuy nhiên, khác với hầu hết các nghĩa vụ  tài chính khác  của Chính phủ, Nghĩa vụ nợ dự phòng có độ bất ổn – chỉ phải thực hiện nếu  có một sự kiện nào đó diễn ra, và quy mô thanh toán tài chính phụ  thuộc vào   cấu trúc của cam kết. Kinh nghiệm cho thấy các công nợ bất thường như vậy   thường rất lớn, đặc biệt khi liên quan đến việc Chính phủ  tái vốn hóa hệ  thống ngân hàng, hoặc nghĩa vụ  của Chính phủ nảy sinh từ các chương trình  được thiết kế kém cỏi nhằm tư nhân hoá các tài sản Chính phủ. Nếu công nợ  bất thường được cơ cấu mà không có kiểm soát hoặc động viên phù hợp, thì   Chính phủ thường bị ảnh hưởng bởi rủi ro đạo đức, vì dự  phòng ban đầu có  
  18. 18 thể làm tăng khả năng những công nợ này biến thành hiện thực. Do đó, Chính   phủ cần phải cân đối giữa lợi ích của việc công bố và những hậu quả do rủi   ro đạo đức có thể nảy sinh đối với công nợ bất thường. Chính phủ cần kiểm   soát khả năng bị rủi ro khi tham gia vào các công nợ bất thường được dự báo,   và phải đảm bảo có đầy đủ thông tin về rủi ro liên quan đến những công nợ  như vậy. Ngoài ra, Chính phủ cũng phải nhận thức được các điều kiện có thể  gây ra các công nợ bất thường không được báo trước, như việc bóp méo chính  sách có thể  dẫn đến các biện pháp kém cỏi về  quản lý tài sản và công nợ  trong khu vực ngân hàng. Một số Chính phủ thấy rằng cần phải tập trung hoá  chức năng kiểm soát trên. Các nhà quản lý nợ  cần biết rõ về  công nợ  bất   thường được dự báo mà Chính phủ đã tham gia. Các cơ quan tài khoá cũng nên  cân nhắc khoản dự phòng ngân sách cho các tổn thất dự kiến do công nợ bất   thường được dự báo. Trong trường hợp không thể có được những dự toán có  thể tin cậy, cần tổng hợp trong phần ghi chú của bảng ngân sách hoặc trong  tài khoản tài chính của Chính phủ những thông tin có sẵn về chi phí và rủi ro   của công nợ bất thường hoặc những tiêu hao về thanh khoản, vì công nợ bất  thường có thể  thể hiện một rủi ro lớn đối với bảng cân đối của Chính phủ.  Chính phủ  cũng có thể  làm nhiều việc để  giảm những rủi ro liên quan đến  công nợ  bất thường bằng cách củng cố  việc quản lý và giám sát, đưa ra   những kế  hoạch bảo hiểm tiền gửi phù hợp, thực hiện cải cách điều hành  trong những doanh nghiệp khu vực công, cải thiện chất lượng các chính sách   pháp lý và quản lý kinh tế vĩ mô. Trong phạm vi đề  tài nghiên cứu này, tác giả  chỉ  tập trung nghiên cứu   về  kiểm toán nợ  công, trong đó  nợ  công bao gồm  nợ  Chính phủ, nợ  được  Chính phủ bảo lãnh và nợ của chính quyền địa phương . Đối với các nghĩa vụ  nợ  dự  phòng sẽ  chỉ  được đề  cập với những nội dung có liên quan đến nợ  công.   1.1.2. Các hình thức vay nợ công
  19. 19 1.1.2.1. Nợ Chính phủ a. Vay trong nước của Chính phủ Có nhiều hình thức phát hành công cụ  vay nợ  trong nước của Chính  phủ. Tuỳ  thuộc vào mục đích vay để  tài trợ  cho bù đắp thâm hụt ngân sách,   thực hiện các khoản vay theo mục tiêu của Chính phủ  hay của Quốc hội mà  phát hành các công cụ vay khác nhau. Có các hình thức vay nợ trong nước của  Chính phủ sau: (1) Tín phiếu kho bạc và Trái phiếu kho bạc ­ Tín phiếu kho bạc là loại trái phiếu Chính phủ có kỳ hạn dưới 01 năm  do Kho bạc Nhà nước phát hành nhằm phát triển thị  trường tiền tệ  và huy   động vốn để  bù đắp thiếu hụt tạm thời của Ngân sách Nhà nước trong năm   tài chính. ­ Trái phiếu Kho bạc là loại trái phiếu Chính phủ có kỳ hạn từ 01 năm   trở  lên, do Kho bạc Nhà nước phát hành để  huy động vốn bù đắp thiếu hụt   của Ngân sách Nhà nước hàng năm đã được Quốc hội quyết định. Căn cứ  yêu cầu của Ngân sách hàng năm, Vụ  NSNN đề  nghị  KBNN   thực hiện phát hành tín phiếu hoặc trái phiếu theo từng thời gian. NHNN đóng   vai trò đại lý tài chính trong các đợt đấu thầu tín phiếu kho bạc. Tín phiếu kho   bạc được phát hành với các thời hạn 31 ngày, 182 ngày, 273 ngày và 364 ngày.  Trái phiếu kho bạc có thời hạn 1, 2 và 5 năm và được phát hành theo các hình   thức: bán lẻ  qua hệ  thống KBNN; bảo lãnh phát hành; đại lý phát hành; đấu   thầu qua thị  trường chứng khoán. Cho đến nay mới chỉ  có một loại lãi suất  (lãi suất cố định) được áp dụng cho tất cả các kỳ hạn tín phiếu và trái phiếu   kho bạc. Cơ sở dữ liệu về tín phiếu và trái phiếu kho bạc được lưu giữ và xử  lý tại KBNN. (2) Trái phiếu công trình trung  ương: Trái phiếu công trình trung  ương   được KBNN phát hành nhằm huy động vốn theo quyết định của Thủ  tướng  Chính phủ, cho các dự án thuộc nguồn vốn đầu tư của ngân sách trung ương,   đã ghi trong kế  hoạch nhưng chưa được bố  trí ngân sách trong năm. Từ năm 
  20. 20 2003 đến nay, Việt Nam đã phát hành các đợt trái phiếu công trình trung ương   với lãi suất cố định, thời hạn 5 năm và 10 năm đối với trái phiếu bằng VNĐ,  thời hạn 5 năm đối với trái phiếu bằng Đô la Mỹ, trong đó chủ  yếu là trái   phiếu bằng VNĐ. Nguồn thu từ các đợt phát hành được sử dụng cho các công   trình giao thông và thuỷ  lợi quan trọng nằm trong kế hoạch đầu tư  của Nhà   nước. (3) Trái phiếu đầu tư: Trái phiếu đầu tư có kỳ hạn từ 01 năm trở lên do   các tổ  chức tài chính nhà nước, các tổ  chức tài chính tín dụng được Thủ  tướng Chính phủ chỉ định phát hành nhằm huy động vốn để đầu tư theo chính  sách của Chính phủ. Phương thức phát hành tương tự  như trái phiếu KBNN.   Hiện nay, Ngân hàng Phát triển (VDB) đang là tổ  chức được chỉ  định phát  hành trái phiếu đầu tư. Trong một số  trường hợp, KBNN cũng có thể  được  giao phát hành trái phiếu đầu tư thay mặt VDB. Tiền thu từ trái phiếu đầu tư  được theo dõi riêng và chỉ  sử  dụng cho những mục tiêu kinh tế  được Thủ  tướng Chính phủ  phê duyệt. Tổ  chức phát hành chịu trách nhiệm thanh toán  chi phí phát hành, lãi và gốc trái phiếu khi đến hạn. Ngân sách Nhà nước   thanh toán một phần hay toàn bộ  lãi suất hoặc cấp bù lãi suất cho tổ  chức   phát hành theo quyết định của Thủ  tướng Chính phủ  đối với từng mục tiêu  kinh tế cụ thể. Các giao dịch về trái phiếu đầu tư được ghi chép theo dõi tại  các tổ chức phát hành. (4) Công trái: Công trái là một loại trái phiếu Chính phủ được phát hành  cho những mục đích đặc biệt, chủ yếu là công trái xây dựng Tổ quốc và công   trái giáo dục được phát hành thông qua hệ  thống Kho bạc Nhà nước với lãi  suất cố định và thời hạn 5 năm. (5) Các hình thức huy động trong nước khác của Chính phủ: Là một số  hình thức vay tạm thời của NSNN như vay của Bảo hiểm Xã hội và một số  Quỹ tài chính khác trong quá trình cân đối và điều hành ngân sách  hàng năm.

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản