Tiểu luận triết học: Tư tưởng triết học của Nho giáo và sự ảnh hưởng của nó đến đời sống văn hóa tinh thần của người Việt

Chia sẻ: Hgfch Hgfch | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:23

0
318
lượt xem
143
download

Tiểu luận triết học: Tư tưởng triết học của Nho giáo và sự ảnh hưởng của nó đến đời sống văn hóa tinh thần của người Việt

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Tiểu luận triết học: Tư tưởng triết học của Nho giáo và sự ảnh hưởng của nó đến đời sống văn hóa tinh thần của người Việt nhằm trình bày về khái quát tư tưởng triết học của Nho giáo, những tư tưởng cơ bản của triết học Nho giáo và ảnh hưởng của nó đến đời sống văn hóa tinh thần của người Việt. Để nắm vững nội dung chi tiết mời các bạn cùng tham khảo tài liệu.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Tiểu luận triết học: Tư tưởng triết học của Nho giáo và sự ảnh hưởng của nó đến đời sống văn hóa tinh thần của người Việt

  1. GVHD: TS. Bùi Văn Mưa Đề tài: Nho giáo BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM CAO HỌC KHÓA K19 …………………... ...…..………………. TIỂU LUẬN MÔN TRIẾT HỌC Đề tài: TƢ TƢỞNG TRIẾT HỌC CỦA NHO GIÁO VÀ SỰ ẢNH HƢỞNG CỦA NÓ ĐẾN ĐỜI SỐNG VĂN HÓA TINH THẦN CỦA NGƢỜI VIỆT GVHD : TS BÙI VĂN MƢA SVTH : Cao Thị Xuân Tâm LỚP : CHK19- ĐÊM 1 Tp Hồ Chí Minh, tháng 3 năm 2010 SVTH :Cao Thị Xuân Tâm_Lớp: Đ1K19 Trang 1
  2. GVHD: TS. Bùi Văn Mưa Đề tài: Nho giáo LỜI MỞ ĐẦU Nói đến nền văn minh cổ đại Trung Quốc thì quả là rộng lớn. Biết bao nhiêu hệ tư tưởng xuất hiện và tồn tại mãi cho đến ngày nay. Từ thuyết âm dương ngũ hành, học thuyết của Khổng Tử, Lão tử... Thế nhưng trong các học thuyết ấy, không ai có thể chối cãi được rằng học thuyết Nho gia là có vị trí quan trọng hơn hết trong lịch sử phát triển của Trung Quốc nói chung và các nước Đông Nam Á nói riêng. Kể từ lúc xuất hiện từ vài thế kỷ trước công nguyên cho đến thời nhà Hán (Hán Vũ Đế) Nho giáo đã chính thức trở thành hệ tư tưởng độc tôn và luôn luôn giữ vị trí đó cho đến ngày cuối cùng của chế độ phong kiến. Điều đó đã chứng minh rõ ràng: Nho giáo hẳn phải có những giá trị tích cực đặc biệt, nếu không sao nó có thể có sức sống mạnh mẽ đặc biệt đến vậy. Hiện diện trong nhiều thế kỷ như một mô hình tổ chức và quản lý xã hội mang tính chất chính thống, một phương thức hoạt động và phát triển văn hóa đóng vai trò chủ đạo, Nho giáo đã để lại ảnh hưởng sâu đậm của nó trong lịch sử và văn hóa Việt Nam, những ảnh hưởng vẫn tiếp tục tác động tới đời sống xã hội Việt Nam sau thế kỷ XIX. Là một giá trị ngoại sinh được tiếp nhận và vận dụng như một học thuyết chính trị để xây dựng và bảo vệ đất nước, một hệ thống chuẩn mực gíup tổ chức và quản lý xã hội, Nho giáo sau thời Bắc thuộc cũng được khuôn nắn lại về nội dung và cơ cấu rồi trên cơ sở đó trở thành một yếu tố vừa góp phần thực hiện vừa góp phần phản ảnh tiến trình lịch sử Việt Nam. Tìm hiểu Nho giáo với con đường phát triển và ảnh hưởng văn hóa của nó trong lịch sửViệt Nam là góp thêm dữ kiện vào việc nghiên cứu lịch sử Việt Nam nói chung cũng như lịch sử Nho giáo nói riêng. SVTH :Cao Thị Xuân Tâm_Lớp: Đ1K19 Trang 2
  3. GVHD: TS. Bùi Văn Mưa Đề tài: Nho giáo CHƢƠNG I: TƢ TƢỞNG TRIẾT HỌC CỦA NHO GIÁO I. KHÁI QUÁT VỀ TRIẾT HỌC NHO GIÁO 1. Khái niệm: Nho giáo, còn được gọi là Khổng giáo, là một hệ thống đạo đức, triết lý và tôn giáo do Khổng Tử phát triển để xây dựng một xã hội thịnh trị. Nho giáo rất phát triển ở các nước châu Á là Trung Quốc, Nhật Bản, Triều Tiên, và Việt Nam. Những người thực hành theo các tín điều của Nho giáo được gọi là các nhà Nho. 2. Lịch sử hình thành và phát triển: 2.1. Lịch sử hình thành: Nho giáo là một giáo lý đạo đức cơ bản xuất xứ ở Trung Quốc vào thế kỷ 6 và 5 trước CN. Dựa trên những cơ cấu và sự tụ tập nó đã phổ biến lâu đời trong xã hội Trung Quốc, chẳng hạn hệ thống gia tộc và sự thờ cúng ông bà tổ tiên, Nho giáo đã trở thành hệ thống tư tưởng có ảnh hưởng lớn nhất ở Trung Quốc, cùng tồn tại với Phật giáo và Lão giáo qua nhiều thế kỷ. Nho giáo do Khổng Tử sáng lập và được mở rộng bởi hai học trò của mình là Mạnh Tử và Tuân Tử vào thế kỷ thứ 4 và 3 trước CN. Vào năm 221 trước CN, mở đầu thời đại đế quốc, nhà Tần đàn áp những người theo Đạo Nho không chút thương xót. Nhưng đế chế này chỉ tồn tại 15 năm, triều đại kế tiếp, nhà Hán lại nâng cao Nho giáo hơn bất kỳ tông phái nào khác, biến nó trở thành quốc giáo. Vào triều đại nhà Hán, đạo Nho trở thành cơ sở giáo dục của Trung Quốc, một vị trí mà nó nắm giữ cho đến đầu thế kỷ 20. Sự sụp đổ của nhà Hán vào cuối thế kỷ thứ 2 trước CN và thời kỳ hỗn loạn xảy ra sau đó đem lại sự suy sụp tạm thời vận mệnh của Nho giáo. Nó cũng bị thử thách trong những thế kỷ tiếp theo sau đó vì Phật giáo và Lão giáo đem lại khuynh hướng tâm linh đối với đời sống của mọi người mà Nho giáo không hỗ trợ được. Tuy nhiên, Nho giáo đáp lại bằng cách mở ra một số phong trào phục hưng ở các triều đại Đường và Tống (thế kỷ 7-13 CN) với sự thành công vang dội, phong trào này được người Phương Tây biết đến là “Tân Nho giáo” do Chu Hi diễn giải, được chính quyền chấp nhận như là một học thuyết chính thống và được tồn tại lâu dài ở các triều đại nhà Minh và nhà Thanh (thế kỷ 14–20). Sau khi thiết lập nền Cộng Hòa Trung Quốc vào năm 1912, phong trào cộng sản đối nghịch với Nho giáo nên nó được xem là kẻ thù của sự tiến bộ. Tuy thế, trong những năm gần đây, chính quyền Trung Quốc trở nên thoải mái hơn, chủ yếu do bởi mối liên kết mật thiết của Nho giáo với hệ thống gia đình và nó đặt nặng về kỷ luật và trật tự xã hội. Mặc dù ngày nay chế độ phong kiến và đế quốc đã bị quét sạch nhưng giáo lý của đạo Nho vẫn còn tác động vào tâm hồn của người dân Trung Quốc. SVTH :Cao Thị Xuân Tâm_Lớp: Đ1K19 Trang 3
  4. GVHD: TS. Bùi Văn Mưa Đề tài: Nho giáo 2.2. Các giai đoạn phát triển: Nho giáo nguyên thủy Thời Xuân Thu, Khổng Tử đã san định, hiệu đính và giải thích bộ Lục kinh gồm có Kinh Thi, Kinh Thư, Kinh Lễ, Kinh Dịch, Kinh Xuân Thu và Kinh Nhạc. Về sau Kinh Nhạc bị thất lạc nên chỉ còn năm bộ kinh thường được gọi là Ngũ kinh. Sau khi Khổng Tử mất, học trò của ông tập hợp các lời dạy để soạn ra cuốn Luận ngữ. Học trò xuất sắc nhất của Khổng Tử là Tăng Sâm, còn gọi là Tăng Tử, dựa vào lời thầy mà soạn ra sách Đại học. Sau đó, cháu nội của Khổng Tử là Khổng Cấp, còn gọi là Tử Tư viết ra cuốn Trung Dung. Đến thời Chiến Quốc, Mạnh Tử đưa ra các tư tưởng mà sau này học trò của ông chép thành sách Mạnh Tử. Từ Khổng Tử đến Mạnh Tử hình thành nên Nho giáo nguyên thủy, còn gọi là Nho giáo tiền Tần (trước đời Tần), Khổng giáo hay "tư tưởng Khổng-Mạnh". Từ đây mới hình thành hai khái niệm, Nho giáo và Nho gia. Nho gia mang tính học thuật, nội dung của nó còn được gọi là Nho học; còn Nho giáo mang tính tôn giáo. Ở Nho giáo, Văn Miếu trở thành thánh đường và Khổng Tử trở thành giáo chủ, giáo lý chính là các tín điều mà các nhà Nho cần phải thực hành. Hán Nho Đến đời Hán, Đại Học và Trung Dung được gộp vào Lễ Ký. Hán Vũ Đế đưa Nho giáo lên hàng quốc giáo và dùng nó làm công cụ thống nhất đất nước về tư tưởng. Và từ đây, Nho giáo trở thành hệ tư tưởng chính thống bảo vệ chế độ phong kiến Trung Hoa trong suốt hai ngàn năm. Nho giáo thời kỳ này được gọi là Hán Nho. Điểm khác biệt so với Nho giáo nguyên thủy là Hán Nho đề cao quyền lực của giai cấp thống trị, Thiên Tử là con trời, dùng "lễ trị" để che đậy "pháp trị". Tống Nho Đến đời Tống, Đại Học, Trung Dung được tách ra khỏi Lễ Ký và cùng với Luận ngữ và Mạnh Tử tạo nên bộ Tứ Thư. Lúc đó, Tứ Thư và Ngũ Kinh là sách gối đầu giường của các nhà Nho. Nho giáo thời kỳ nay được gọi là Tống Nho, với các tên tuổi như Chu Hy (thường gọi là Chu Tử), Trình Hạo, Trình Di. (Ở Việt Nam, thế kỷ thứ 16, Nguyễn Bỉnh Khiêm rất giỏi Nho học nên được gọi là "Trạng Trình"). Phương Tây gọi Tống Nho là "Tân Khổng giáo". Điểm khác biệt của Tống Nho với Nho giáo trước đó là việc bổ sung các yếu tố "tâm linh" (lấy từ Phật giáo) và các yếu tố "siêu hình" (lấy từ Đạo giáo) phục vụ cho việc đào tạo quan lại và cai trị. 3. Các đại biểu tiêu biểu: 3.1. Khổng Tử: Khổng Tử (còn gọi là Khổng Phu Tử (551 – 479 TCN)) là một nhà tư tưởng, nhà triết học xã hội nổi tiếng người Trung Hoa, các bài giảng và triết lý của ông có ảnh hưởng rộng lớn đối với đời sống và tư tưởng của các nền văn hóa Đông Á. Triết học của ông nhấn mạnh trên cá nhân và cai trị bằng đạo đức, sự chính xác của những mối quan hệ xã hội, sự công bằng và sự trung thực. Các giá trị đó đã có được tầm ảnh hưởng lớn trên mọi học thuyết khác ở Trung Quốc như Pháp gia hay SVTH :Cao Thị Xuân Tâm_Lớp: Đ1K19 Trang 4
  5. GVHD: TS. Bùi Văn Mưa Đề tài: Nho giáo Đạo gia trong suốt triều đại nhà Hán. Các tư tưởng của Khổng Tử đã được phát triển thành một hệ thống triết học được gọi là Khổng giáo. Khổng giáo được một người Italia là Matteo Ricci đưa vào Châu Âu, ông cũng là người đầu tiên La tinh hoá tên Khổng Tử thành "Confucius". Tư tưởng của ông còn được xem là một tôn giáo lớn của loài người, nhất là dân tộc Trung Hoa. Các bài giảng của Khổng Tử được nghiên cứu chủ yếu qua cuốn Luận Ngữ, một tập hợp những "mẩu chuyện cách ngôn ngắn", được biên soạn nhiều năm sau khi ông qua đời. Trong gần 2.000 năm ông được cho là người biện soạn hoặc tác giả của Ngũ Kinh, chẳng hạn như Kinh Lễ (soạn giả), và Biên niên sử Xuân Thu (tác giả). 3.2. Mạnh Tử: Mạnh Tử (372–289 trước công nguyên; có một số tài liệu khác ghi là: 385– 303/302 TCN) là nhà triết học Trung Quốc và là người tiếp nối Khổng Tử. Mạnh Tử, tên là Mạnh Kha, tự là Tử Dư, sinh vào đời vua Liệt Vương, nhà Chu, quê gốc ở đất Trâu, thuộc nước Lỗ, nay là thành phố Trâu Thành, tỉnh Sơn Đông, Trung Quốc. Ông mồ côi cha, chịu sự nuôi dạy nghiêm túc của mẹ là Chương thị (người đàn bà họ Chương). Chương thị sau này được biết tới với cái tên Mạnh mẫu (mẹ của Mạnh Tử). Mạnh mẫu đã ba lần chuyển nhà để Mạnh Tử được ở trong môi trường xã hội tốt nhất cho việc học tập, tu dưỡng. Thời niên thiếu, Mạnh Tử làm môn sinh của Tử Tư, tức là Khổng Cấp, cháu nội của Khổng Tử. Vì vậy, ông chịu ảnh hưởng sâu sắc từ các tư tưởng Khổng giáo. Mạnh Tử là đại biểu xuất sắc của Nho giáo thời chiến quốc, thời kỳ nở rộ các nhà tư tưởng lớn với các trường phái như Pháp gia, Du thuyết, Nho gia, Mặc gia...(thời kỳ bách gia tranh minh) và cũng là thời kỳ mà các tập đoàn phong kiến tranh giành, xâu xé lẫn nhau gây ra các cuộc chiến tranh liên miên, dân tình vô cùng khổ sở . Tư tưởng của Mạnh Tử phát triển thêm tư tưởng của Khổng Tử nhưng ông không tuyệt đối hóa vai trò của ông vua như Khổng Tử, ông chủ trương dân vi quý, xã tắc thứ chi, quân vi khinh, ông cũng là người đưa ra thuyết tính thiện của con người rằng con người sinh ra đã là thiện rồi nhân chi sơ bản tính thiện, tư tưởng này đối lập với thuyết tính ác của Tuân Tử rằng nhân chi sơ bản tính ác. Ông cho rằng "kẻ lao tâm trị người còn người lao lực thì bị người trị". Học thuyết của ông gói gọi trong các chữ "Nghĩa", "Trí", "Lễ", "Tín". Ông đem học thuyết của mình đi truyền bá đến vua chúa các nước chư hầu như Tề Tuyên Vương (nước Tề), Đằng Văn Công (nước Đằng), Lương Huệ Vương (nước Nguỵ)...nhưng không được áp dụng. Về cuối đời ông dạy học và viết sách, sách Mạnh Tử của ông là một trong những cuốn sách quan trọng của Nho giáo. Ông được xem là ông tổ thứ hai của Nho giáo và được hậu thế tôn làm "Á thánh Mạnh Tử" (chỉ đứng sau Khổng Tử). SVTH :Cao Thị Xuân Tâm_Lớp: Đ1K19 Trang 5
  6. GVHD: TS. Bùi Văn Mưa Đề tài: Nho giáo 3.3. Tuân Tử: Tuân Tử (313 TCN – 235 TCN) là một nhà Nho, nhà tư tưởng của Trung Hoa vào cuối thời Chiến Quốc. Tuân Tử tên Huống , tự Khanh, cũng tự Tôn Khanh. Đời Hán đặt tên sách của Tuân Tử là "Tôn Khanh Tử", sang thời Đường mới đổi lại xưng hô "Tuân Tử". Tuân Tử người nước Triệu, sanh vào năm nào không được rõ, chỉ biết "Niên giám Tuân Tử", bắt đầu ghi chép sự tích của Người từ năm Triệu Huệ Văn Vương nguyên niên, và mất vào năm thứ 25 Sở Khảo Liệt Vương. Đại để là, trước 40 tuổi, Tuân Tử chuyên tâm về việc trau dồi học vấn, khoảng trước sau 50 tuổi đi du hành qua các nước, từ 60 tuổi trở đi, những năm đầu làm huyện lệnh Lan Lăng của nước Sở, những năm sau thì mở lớp dạy học, y như Khổng Tử, Mạnh Tử thuở trước. Đúng vào năm 50 tuổi, Tuân Tử đến nước Tề. Tuy được người Tề hết sức kính nể, đã trước sau ba lần cử làm "Tế tửu” , một danh hiệu vinh dự trong buổi "quốc yến", nhưng rốt cuộc chẳng được trọng dụng. Sau khi rời Tề sang Tần, Tuân Tử được gặp tể tướng Phạm Tuy. Lúc đó Tần là một cường quốc, thường ỷ thế mạnh đe dọa chư hầu. Phạm Tuy hỏi cảm nghĩ của khách ra sao, đối với Tần. Đáp lại câu hỏi đó, trước hết, Tuân Tử ca ngợi Tần là một nước có tập tục tốt, núi non đẹp, hơn nữa là quan lại dốc lòng vì dân, triều đình làm việc mau mắn. Nhưng tiếp theo thì vuốt mặt chẳng nể mũi, thẳng lời phê bình nước Tần hãy còn khiếm khuyết đạo Nho. Chiếu theo tiêu chuẩn của Tuân Tử thì, thiếu đạo Nho tức là thiếu Lễ nghĩa, mà lễ nghĩa là linh hồn của quốc gia. Tuân Tử khen điều hay, chê điều dở của Tần một cách thẳng thắn, chẳng ngại mếch lòng ai như vậy là thái độ nhận chân nghiêm túc, phải là phải, trái là trái của con người Nho học. Song cũng vì thế, nên Tuân Tử đã thiếu dịp may thi thố tài đức, thực hiện lý tưởng chính trị của mình, đành phải trở về cố quốc. Ở Triệu là nơi nước nhà, Tuân Tử từng biện luận phép dụng binh với Lâm Vũ Quân, trước mặt Triệu Hiếu Thành Vương. Lâm Vũ Quân dựa vào nguyên tắc "xuất kỳ bất ý, công kỳ bất bị" của Tôn Tử binh pháp, cho ràng kẻ dùng binh giỏi, bao giờ cũng "quyền mưu thế lợi " và "công đoạt biến trá", nghĩa là không từ bỏ bất cứ thủ đoạn gian trá nào. Ngược lại, Tuân Tử có quan điểm khác hẳn, Người nhấn mạnh kẻ giỏi về quân sự là biết "thiện phụ dân", tức là dựa vào sức mạnh của dân một cách hiệu quả. Tuân Tử cho rằng, được dân ủng hộ mới nắm chắc phần thắng, cho nên "thiện phụ dân", là cái vốn quý nhất của người điều khiển chiến tranh. Tiếc thay, ngay tại bản quốc cũng không đắc chí Tuân Tử lại tái xuất ngoại, sang nước Sở. Tại Sở, Tuân Tử được Xuân Thân Quân bổ làm huyện lệnh huyện Lan Lăng, rồi từ đó định cư luôn tại chỗ, không trở về cố quốc nữa. Vào những năm cuối cùng, lúc tuổi về già, Tuân Tử mở trường tư thục dạy học và viết sách, sáng lập ra học phái Lan Lăng, tạo dựng phong khí thư hương cho xứ này. Từ đó, học trò Lan Lăng hay lấy chữ "Khanh" đặt tự, để kỷ niệm thầy Tuân Tử. Người đời sau hay hiểu một cách tổng quát là, lúc về già, Khổng Tử cùng Mạnh Tử đều cáo lão về vườn, lập ngôn và trước tác. Thật ra, bảo trọng Khổng - Mạnh lập ngôn là đúng, nhưng viết sách vị tất đã đúng. Riêng Tuân Tử, trong thời gian ở Lan Lăng, chẳng những đã lập ngôn, mà còn SVTH :Cao Thị Xuân Tâm_Lớp: Đ1K19 Trang 6
  7. GVHD: TS. Bùi Văn Mưa Đề tài: Nho giáo lập thư nữa. Ba mươi ba thiên trong cuốn sách mà Tuân Tử đã viết, là một bộ tác phẩm, có hệ thống tư tưởng hoàn chỉnh nhất của phái Nho học thời Chu - Lân. (Nói như vậy, không có nghĩa là cuốn "Tuân Tử" ngày nay, hoàn toàn do một tay Tuân Tử viết ra, bởi cổ tịch nào cũng có phần tả thêm, hoặc ít hoặc nhiều ngôn luận của các nhà Nho đời sau). Tuy rằng, trong triết lý tư tưởng của Tuân Tử, có một số khác biệt với Khổng - Mạnh, nhưng về lập trường căn bản của Người đối với thế sự, nhất là thái độ khẳng định giá trị lý tưởng chính trị của nhà Nho, thì chẳng có khác gì với Khổng - Mạnh. Có lẽ cũng vì thế mà cuộc đời của Tuân Tử cũng chẳng khác chi mấy, so với Khổng Tử và Mạnh Tử. II. NHỮNG TƢ TƢỞNG CƠ BẢN TRONG TRIẾT HỌC NHO GIÁO : 1. Các tác phẩm kinh điển của Nho giáo : Các sách kinh điển của Nho giáo đều hình thành từ thời kỳ Nho giáo nguyên thủy. Sách kinh điển gồm 2 bộ: Tứ Thư và Ngũ Kinh. Hệ thống kinh điển đó hầu hết viết về xã hội, về những kinh nghiệm lịch sử Trung Hoa, ít viết về tự nhiên. Điều này cho thấy rõ xu hướng biện luận về xã hội, về chính trị, về đạo đức là những tư tưởng cốt lõi của Nho gia. 1.1. Tứ Thƣ : Là bốn quyển sách kinh điển của văn học Trung Hoa được Chu Hy thời nhà Tống lựa chọn làm nền tảng cho triết học Trung Hoa và Khổng giáo. Chúng bao gồm : Đại học : Sách Đại học dùng để dạy cho học trò từ 15 tuổi trở lên, khi bước vào bậc đại học, dạy cho biết cách xử sự ở đời để lớn lên ra gánh vác việc nước. Theo các Nho gia, sách Đại Học do Tăng Tử làm ra để diễn giải các lời nói của Khổng Tử. Mục đích và tôn chỉ của sách này là nói về đạo quân tử, trước hết phải sửa cái đức của mình cho sáng tỏ để mọi người noi theo, làm sao cho đến chổ chí thiện. Muốn được vậy, phải sử dụng Bát điều mục (tám điều) : cánh vật, trí tri, thành ý, chính tâm, tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ. Cái gốc của đạo quân tử là sự “tu thân”. Cho nên trong sách Đại học có câu : “Tự thiên tữ dĩ chí ư thứ nhân, nhứt thị giai dĩ tu thân vi bổn” (Nghĩa là : “từ vua cho đến thường dân, ai ai cũng đều lấy sự sửa của mình làm gốc”). Trung Dung : Sách Trung Dung do Tử Tư làm ra. Tử Tư, cháu nội của Khổng Tử, là học trò của Tăng Tử, thọ được cái học tâm truyền của Tăng Tử. Trong sách Trung Dung, Tử Tư dẫn những lời của Không Tử nói về đạo “trung dung”, tức là nói về cách giữ cho ý nghĩ và việc làm luôn luôn ở mức trung hòa, không thái quá, không bất cập và phải cố gắng ở đời theo nhân, nghĩa, lễ, trí, tín, cho thành người quân tử, để cuối cùng thành thánh nhân. SVTH :Cao Thị Xuân Tâm_Lớp: Đ1K19 Trang 7
  8. GVHD: TS. Bùi Văn Mưa Đề tài: Nho giáo Cả hai quyển sách Đại Học và Trung Dung trước đây là những thiên trong Kinh Lễ, sau các Nho gia đời Tống tách riêng ra làm hai quyển để hợp với sách Luận Ngữ và Mạnh Tử thành bộ Tứ Thư. Luận Ngữ : là sách sưu tập ghi chép lại những lời dạy của Khổng Tử và những lời nói của người đương thời. Sách Luận Ngữ gồm 20 thiên, mỗi thiên đều lấy chữ đầu mà đặt tên, và các thiên không có liên hệ với nhau. Đọc sách này, người ta hiểu được phẩm chất tư cách và tính tình của Khổng Tử, nhất là về giáo dục, ông tỏ ra là người thấu hiểu tâm lý của từng học trò, khéo đem lời giảng dạy thích hợp với từng trình độ, từng hoàn cảnh của mỗi người. Như có khi cùng một câu hỏi mà ông trả lời cho mỗi người một cách. Luận Ngữ dạy đạo quân tử một cách thực tiễn, miêu tả tính tình đức độ của Khổng Tử để làm mẫu mực cho người đời sau noi theo. Mạnh Tử : Sách Mạnh Tử là bộ sách làm ra bởi Mạnh Tử và các môn đệ của ông như : Nhạc Chính Khắc, Công Tôn Sửu, Vạn Chương… ghi chép lại những điều đối đáp của Mạnh Tử với các vua chư hầu, giữa Mạnh Tử và các học trò cùng với những lời phê bình của Mạnh Tử về các học thuyết khác như : học thuyết của Mặc Tử, Dương Chu. Sách Mạnh Tử gồm 7 thiên, chia làm 2 phần : Tâm học và Chính trị học. Tâm học : Mạnh Tử cho rằng mỗi người đều có tính thiện do Trời phú cho. Sự giáo dục phải lấy tính thiện đó làm cơ bản, giữ cho nó không mờ tối, trau dồi nó để phát triển thành người lương thiện. Tâm là cái thần minh của Trời ban cho người. Như vậy, tâm của ta với tâm của Trời đều cùng một thể. Học là để giữ cái Tâm, nuôi cái Tính, biết rõ lẽ Trời mà theo chính mệnh. Nhân và nghĩa vốn có sẵn trong lương tâm của người. Chỉ vì ta đắm đuối vào vòng vật dục nên lương tâm bị mờ tối, thành ra bỏ mất nhân nghĩa. Mạnh Tử đề cập đến khí Hạo nhiên, cho rằng nó là cái tinh thần của người đã hợp nhất với Trời. Chính trị học : Mạnh Tử chủ trương : Dân vi quý, xã tắc thứ chi, quân vi khinh. Đây là một tư tưởng rất mới và rất táo bạo trong thời quân chủ chuyên chế đang thịnh hành. Mạnh Tử nhìn nhận chế độ quân chủ, nhưng vua không có quyền lấy dân làm của riêng cho mình. Phải duy dân và vì dân. Muốn vậy, phải có luật pháp công bằng, dẫu vua quan cũng không được vượt ra ngoài pháp luật đó. Người trị dân, trị nước phải chăm lo việc dân việc nước, làm cho đời sống của dân được sung túc, phải lo giáo dục dân để hiểu rõ luật pháp mà tuân theo, lấy nhân nghĩa làm cơ bản để thi hành. Chủ trương về chính trị của Mạnh Tử vô cùng mới mẽ và táo bạo, nhưng rất hợp lý, làm cho những người chủ trương quân chủ thời đó không thể nào bắt bẻ được. Có thể đây là lý thuyết khởi đầu để hình thành chế độ quân chủ lập hiến sau này. SVTH :Cao Thị Xuân Tâm_Lớp: Đ1K19 Trang 8
  9. GVHD: TS. Bùi Văn Mưa Đề tài: Nho giáo 1.2. Ngũ Kinh : Ngũ Kinh là năm quyển kinh điển trong văn học Trung Hoa dùng làm nền tảng trong Nho giáo. Năm quyển này đều được Khổng Tử soạn thảo, gồm có: Kinh Thi: sưu tập các bài thơ dân gian có từ trước Khổng Tử, nói nhiều về tình yêu nam nữ. Khổng Tử san định thành 300 thiên nhằm giáo dục mọi người tình cảm trong sáng lành mạnh và cách thức diễn đạt rõ ràng và trong sáng. Một lần, Khổng Tử hỏi con trai "học Kinh Thi chưa?", người con trả lời "chưa". Khổng Tử nói "Không học Kinh Thi thì không biết nói năng ra sao". Kinh Thư: ghi lại các truyền thuyết, biến cố về các đời vua cổ có trước Khổng Tử. Khổng Tử san định lại để các ông vua đời sau nên theo gương các minh quân như Nghiêu, Thuấn chứ đừng tàn bạo như Kiệt, Trụ. Kinh Lễ : ghi chép các lễ nghi thời trước. Khổng Tử hiệu đính lại mong dùng làm phương tiện để duy trì và ổn định trật tự. Khổng Tử nói: "Không học Kinh Lễ thì không biết đi đứng ở đời". Kinh Dịch : nói về các tư tưởng triết học của người Trung Hoa cổ đại dựa trên các khái niệm âm dương, bát quái,... Đời Chu, Chu Văn Vương đặt tên và giải thích các quẻ của bát quái gọi là Thoán từ. Chu Công Đán giải thích chi tiết nghĩa của từng hào trong mỗi quẻ gọi là Hào từ. Kinh Dịch thời Chu gọi là Chu Dịch. Khổng Tử giảng giải rộng thêm Hoán từ và Hào từ cho dễ hiểu hơn và gọi là Thoán truyện và Hào truyện. Kinh Xuân Thu : ghi lại các biến cố xảy ra ở nước Lỗ, quê của Khổng Tử. Khổng Tử không chỉ ghi chép như một sử gia mà theo đuổi mục đích trị nước nên ông chọn lọc các sự kiện, ghi kèm các lời bình, sáng tác thêm lời thoại để giáo dục các bậc vua chúa. Ông nói, "Thiên hạ biết đến ta bởi kinh Xuân Thu, thiên hạ trách ta cũng sẽ ở kinh Xuân Thu này". Đây là cuốn kinh Khổng Tử tâm đắc nhất. (Xuân thu có nghĩa là mùa xuân và mùa thu, ý nói những sự việc xảy ra.) Ngoài ra còn có Kinh Nhạc: do Khổng tử hiệu đính nhưng về sau bị thất lạc, chỉ còn lại một ít làm thành một thiên trong Kinh Lễ gọi là Nhạc ký. Như vậy lục kinh chỉ còn lại ngũ kinh. SVTH :Cao Thị Xuân Tâm_Lớp: Đ1K19 Trang 9
  10. GVHD: TS. Bùi Văn Mưa Đề tài: Nho giáo 2. Nội dung cơ bản của Nho giáo : Cốt lõi của Nho giáo là Nho gia. Đó là một học thuyết chính trị nhằm tổ chức xã hội. Để tổ chức xã hội có hiệu quả, điều quan trọng nhất là phải đào tạo cho được người cai trị kiểu mẫu - người lý tưởng này gọi là quân tử. Để trở thành người quân tử, con người ta trước hết phải "tự đào tạo", phải "tu thân". Sau khi tu thân xong, người quân tử phải có bổn phận phải "hành đạo". 2.1. Tu thân: Khổng Tử đặt ra một loạt Tam Cương, Ngũ Thường, Tam Tòng, Tứ Đức... để làm chuẩn mực cho mọi sinh hoạt chính trị và an sinh xã hội. Tam Cương và Ngũ Thường là lẽ đạo đức mà nam giới phải theo. Tam Tòng và Tứ Đức là lẽ đạo đức mà nữ giới phải theo. Khổng Tử cho rằng người trong xã hội giữ được Tam Cương, Ngũ Thường, Tam Tòng, Tứ Đức thì xã hội được an bình. Tam Cương: Tam là ba; Cương là giềng mối; Tam Cương là ba mối quan hệ: Quân thần (vua tôi), Phụ tử (cha con), Phu thê (chồng vợ).  Quân thần: Trong quan hệ vua tôi, vua thưởng phạt công minh, tôi trung thành một dạ.  Phụ tử: Trong quan hệ cha con, cha nuôi dạy con cái, con cái hiếu kính vâng phục cha và khi cha già thì phải phụng dưỡng.  Phu thê: Trong quan hệ chống vợ, chồng yêu thương và công bình với vợ, vợ vâng phục và chung thủy giữ tiết với chồng. Ngũ Thường: Ngũ là năm; Thường là hằng có; Ngũ Thường là năm điều phải hằng có trong khi ở đời, gồm: Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín.  Nhân: Lòng yêu thương đối với muôn loài vạn vật. Khổng tử nói: "Giàu và sang, người ta ai cũng muốn, nhưng chẳng phải đạo mà được giàu sang thì người quân tử chẳng thèm. Nghèo và hèn, người ta ai cũng ghét, nhưng nếu chẳng phải lỗi đạo mà phải nghèo hèn thì người quân tử chẳng bỏ. Người quân tử mà bỏ đức nhân thì làm sao được gọi là quân tử? Người quân tử dù trong một bữa ăn cũng không làm trái điều nhân, dù trong lúc vội vàng cũng theo điều nhân".  Nghĩa: Cư xử với mọi người công bình theo lẽ phải. Khổng tử nói: "Cách xử sự của người quân tử, không nhất định là phải như vầy mới được, không nhất định như kia là không được, cứ hợp nghĩa thì làm".  Lễ: Sự tôn trọng, hòa nhã trong khi cư xử với mọi người. Khổng tử nói: "Người quân tử học rộng về thi thư, tự ước thúc bằng lễ, như vậy có thể không trái với đạo lý".  Trí: Sự thông biết lý lẽ, phân biệt thiện ác, đúng sai. Khổng tử nói: "Người không có đức nhân thì không thể ở lâu trong cảnh khốn cùng, cũng không thể ở lâu trong cảnh hoan lạc. Người có đức nhân vui lòng làm điều nhân, người SVTH :Cao Thị Xuân Tâm_Lớp: Đ1K19 Trang 10
  11. GVHD: TS. Bùi Văn Mưa Đề tài: Nho giáo thông minh sáng suốt biết rằng đức nhân có lợi cho mình và cho người nên làm điều nhân".  Tín: Giữ đúng lời, đáng tin cậy. Khổng tử nói: "Người mà không có tín thì không hiểu sao thành người được (hoặc làm nên việc gì được). Cũng như xe lớn không có đòn nghê (đòn gỗ ngang để buộc trâu); xe nhỏ không có đòn ngột (đòn gỗ cong để buộc ngựa) làm sao mà đi được?". Tam Tòng: Tam là ba; Tòng là theo. Tam tòng là ba điều người phụ nữ phải theo, gồm: "tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử".  Tại gia tòng phụ: nghĩa là, người phụ nữ khi còn ở nhà phải theo cha.  Xuất giá tòng phu: lúc lấy chồng phải theo chồng,  Phu tử tòng tử: nếu chồng qua đời phải theo con". Tứ Đức: Tứ là bốn; Đức là tính tốt. Tứ Đức là bốn tính nết tốt người phụ nữ phải có, là: Công - Dung - Ngôn - Hạnh.  Công: khéo léo trong việc làm.  Dung: hòa nhã trong sắc diện.  Ngôn: mềm mại trong lời nói.  Hạnh: nhu mì trong tính nết. Người quân tử phải đạt ba điều trong quá trình tu thân : Đạt Đạo: Đạo có nghĩa là "con đường", hay "phương cách" ứng xử mà người quân tử phải thực hiện trong cuộc sống. Đạt đạo trong thiên hạ có năm điều: “đạo vua tôi, đạo cha con, đạo vợ chồng, đạo anh em, đạo bạn bè”, tương đương với "quân thần, phụ tử, phu phụ, huynh đệ, bằng hữu". Đó chính là Ngũ thường, hay Ngũ luân. Trong xã hội cách cư xử tốt nhất là "trung dung". Tuy nhiên, đến Hán Nho ngũ luân được tập chung lại chỉ còn ba mối quan hệ quan trọng nhất được gọi là Tam thường hay còn gọi là Tam tòng. Đạt Đức: Quân tử phải đạt được ba đức: "nhân - trí - dũng". Khổng Tử nói: "Đức của người quân tử có ba mà ta chưa làm được. Người nhân không lo buồn, người trí không nghi ngại, người dũng không sợ hãi" (sách Luận ngữ). Về sau, Mạnh Tử thay "dũng" bằng "lễ, nghĩa" nên ba đức trở thành bốn đức: "nhân, nghĩa, lễ, trí". Hán Nho thêm một đức là "tín" nên có tất cả năm đức là: "nhân, nghĩa, lễ, trí, tín". Năm đức này còn gọi là Ngũ thường. Biết Thi, Thƣ, Lễ, Nhạc: Ngoài các tiêu chuẩn về "đạo" và "đức", người quân tử còn phải biết "Thi, Thư, Lễ, Nhạc". Tức là người quân tử còn phải có một vốn văn hóa toàn diện. SVTH :Cao Thị Xuân Tâm_Lớp: Đ1K19 Trang 11
  12. GVHD: TS. Bùi Văn Mưa Đề tài: Nho giáo 2.2. Hành đạo: Sau khi tu thân, người quân tử phải hành đạo, tức là phải làm quan, làm chính trị. Nội dung của công việc này được công thức hóa thành "tề gia, trị quốc, bình thiên hạ". Tức là phải hoàn thành những việc nhỏ - gia đình, cho đến lớn - trị quốc, và đạt đến mức cuối cùng là bình thiên hạ (thống nhất thiên hạ). Kim chỉ nam cho mọi hành động của người quân tử trong việc cai trị là hai phương châm: Nhân trị: Nhân là tình người, nhân trị là cai trị bằng tình người, là yêu người và coi người như bản thân mình. Khi Trọng Cung hỏi thế nào là nhân thì Khổng Tử nói: "Kỷ sở bất dục, vật thi ư nhân - Điều gì mình không muốn thì đừng làm cho người khác" (sách Luận ngữ). Nhân được coi là điều cao nhất của luân lý, đạo đức, Khổng Tử nói: "Người không có nhân thì lễ mà làm gì? Người không có nhân thì nhạc mà làm gì?" (sách Luận ngữ). Chính danh: Chính danh là mỗi sự vật phải được gọi đúng tên của nó, mỗi người phải làm đúng chức phận của mình. "Danh không chính thì lời không thuận, lời không thuận tất việc không thành" (sách Luận ngữ). Khổng tử nói với vua Tề Cảnh Công: "Quân quân, thần thần, phụ phụ, tử tử - Vua ra vua, tôi ra tôi, cha ra cha, con ra con" (sách Luận ngữ). Đó chính là những điều quan trọng nhất trong các kinh sách của Nho giáo, chúng được tóm gọi lại trong chín chữ: tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ. Và đến lượt mình, chín chữ đó chỉ nhằm phục vụ mục đích cai trị mà thôi. Quân tử ban đầu có nghĩa là người cai trị, người có đạo đức và biết thi, thư, lễ, nhạc. Tuy nhiên, sau này từ đó còn có thể chỉ những người có đạo đức mà không cần phải có quyền. Ngược lại, những người có quyền mà không có đạo đức thì được gọi là tiểu nhân (như dân thường). SVTH :Cao Thị Xuân Tâm_Lớp: Đ1K19 Trang 12
  13. GVHD: TS. Bùi Văn Mưa Đề tài: Nho giáo CHƢƠNG II: SỰ ẢNH HƢỞNG CỦA NHO GIA ĐẾN ĐỜI SỐNG VĂN HOÁ TINH THẦN NGƢỜI VIỆT NAM. I. QUÁ TRÌNH THÂM NHẬP, PHÁT TRIỂN VÀ NHỮNG ĐẶC ĐIỂM CỦA NHO GIÁO TẠI VIỆT NAM 1. Quá trình thâm nhập và phát triển Hán Nho đã được các quan lại trung Hoa như Tích Quang, Nhâm Diên, Sĩ Nhiếp ra sức truyền bá vào Việt Nam từ đầu Công nguyên. Tuy nhiên đây là thứ văn hóa do kẻ xâm lược áp đặt cho nên suốt cả giai đoạn chống Bắc thuộc, Nho giáo chưa có chỗ đứng trong xã hội Việt Nam. Đến năm 1070, với sự kiện Lý Thánh Tông cho lập Văn Miếu thờ Chu Công, Khổng Tử mới có thể xem là Nho giáo được tiếp nhận chính thức. Chính vì vậy mà Nho giáo ở Việt Nam chủ yếu là Tống Nho chứ không phải Hán Nho, Đường Nho hay Minh Nho, Thanh Nho. Đời Trần, Chu Văn An đào tạo được khá đông học trò. Các nhà Nho những lớp đầu tiên này ra sức bài xích Phật giáo để khẳng định chỗ đứng của mình. Tuy nhiên cho đến gần cuối đời Trần, Nho giáo vẫn chưa được chấp nhận rộng rãi. Trong cuộc kháng chiến 10 năm chống quân Minh, các nhà Nho Việt Nam tập hợp dưới cờ Lê Lợi đã có những đóng góp to lớn. Sự lớn mạnh của Nho giáo Việt Nam (điều kiện chủ quan) cùng với nhu cầu cải cách quản lý đất nước (điều kiện khách quan) đã dẫn đến việc triều Lê đưa Nho giáo thành quốc giáo. Sự phát triển của Nho giáo chuyển sang giai đoạn mới: Nho giáo độc tôn. Từ đó, Nho giáo thịnh suy theo bước thăng trầm của triều đình: Thời Lê sơ thì Nho giáo thịnh, chí sỹ đua nhau đi thi để ra làm việc nước. Thời Lê mạt thì Nho giáo suy, nhiều nhà Nho xuất sắc (như Nguyễn Bỉnh Khiêm) lui về ở ẩn. Nhà Nguyễn lên cầm đầu, địa vị Nho giáo một lần nữa lại được khẳng định để rồi mất hẳn khi phải đối mặt với văn hóa phương Tây. Nét độc đáo của văn hóa Việt Nam là khi tiếp thu cái ngoại lai, nó tiếp nhận từng yếu tố riêng lẻ và Việt Nam hóa để rồi cấu tạo lại theo cách của mình. Nho giáo Việt Nam là một hệ thống như thế. Nhà nước phong kiến Việt Nam chủ động tiếp nhận Nho giáo chính là để khai thác những yếu tố là thế mạnh của Nho giáo, thích hợp cho việc tổ chức và quản lý đất nước. Trước hết, nhà nước quân chủ Việt Nam, đặc biệt là các triều Lê và Nguyễn, đã học tập rất nhiều ở cách thức tổ chức triều đình và hệ thống pháp luật của người Trung Hoa. Thứ hai, hệ thống thi cử để tuyển chọn người tài bổ dụng vào bộ máy cai trị đã được triều đình phong kiến Việt Nam áp dụng ngay từ đầu triều Lý, hoàn thiện dần vào thời Trần và hoàn thiện vào thời Lê. Từ kỳ thi đầu tiên (năm 1075) đến kỳ thi cuối cùng của lịch sử khoa cử phong kiến (1919), trong vòng 844 năm có tất cả 185 khoa thi với 2.875 người đỗ, trong đó có 56 Trạng nguyên (nhà Nguyễn không lấy đỗ Trạng nguyên). SVTH :Cao Thị Xuân Tâm_Lớp: Đ1K19 Trang 13
  14. GVHD: TS. Bùi Văn Mưa Đề tài: Nho giáo Thứ ba, khi mà chữ cổ đã mai một và mất hẳn, thì người Việt đã dùng chứ Hán (thường gọi là chữ Nho – chữ của Nho gia) làm văn tự chính thức trong văn tự hành chính. Trên cơ sở chữ Hán, từ cuối thời Bắc thuộc, người Việt đã tạo ra chữ Nôm (chữ của người Nam) dùng trong sáng tác văn chương. Thời Tây Sơn, vua Quang Trung Nguyễn Huệ đã mở rộng ra, sử dụng chữ Nôm cả trong lĩnh vực hành chính và giáo dục. 2. Sự hấp thu Nho Giáo ở Việt Nam: Nho giáo có một lịch sử hình thành và phát triển lâu dài hằng mấy nghìn năm và phát triển vừa bề sâu vừa bề rộng. Bề rộng là từ một vùng của cả Trung Quốc, quê hương của nó, rồi ảnh hưởng tới Triều Tiên, Việt Nam, Nhật Bản. Bề sâu là các giai đoạn lịch sử của nó, giai đoạn sau thường phong phú hơn giai đoạn trước hoặc vì phải thích nghi với điều kiện xã hội mới, hoặc vì phải đấu tranh và làm giàu với các luồng tư tưởng tín ngưỡng khác sinh ra từ nội địa hoặc nhập vào từ nước ngoài. Có nhà khoa học chú trọng đến “tính không hoàn chỉnh” của nó; nó không phải nhất thành bất biến; nó chuyển biến luôn và hãy xem đó là một sức sống của Nho giáo. Khả năng chuyển biến mà vẫn giữ bản sắc là một điều, một tính đặc biệt của Nho giáo. Cho nên, có Nho giáo trước Khổng Tử (Hạ Thương- đầu Chu); có Nho giáo của Khổng Tử và môn đệ trực tiếp; có Nho giáo thời Hán mà á thánh nổi tiếng là Đổng Trọng Thư; sang Đường, Nho giáo và Phật giáo đấu tranh mà chung sống (chưa kể rằng từ Xuân Thu Chiến Quốc đến đó có bao nhiêu nhà tranh tiếng với nhau). Rồi thời Tống, có Nho giáo của nó với những bậc á thánh lừng danh như Nhị Trình, Chu Tử v.v… Sĩ phu Việt Nam đi học thì tự gọi là đến cửa Khổng sân Trình. Đã một thuở, sĩ phu Việt Nam xem Khổng Mạnh, Hán Nho, Tống Nho “ba vì” của Nho giáo, sau đó không có đỉnh nào cao hơn. Lịch sử Nho giáo ở Trung Quốc lâu dài như thế và dân tộc Việt Nam đã bị thu hút vào văn minh văn hoá Trung Quốc cũng từ lâu đời. Nhưng hãy nhận thấy rằng Nho giáo không phải đã thống trị tinh thần văn hoá Việt Nam dài như cái bề dài của lịch sử Việt Nam đâu. Cái gốc của sự khác biệt giữa Nho giáo Việt Nam với Nho giáo Trung Quốc bắt đầu từ chỗ đó. Suốt thời Hạ Thương và lâu sau hơn nữa, nước Văn Lang của tộc người Lạc Việt ở miền sông Hồng đã thành một thực tế lịch sử rồi. Ngay cả nhà Chu cũng chưa hề với tay tới đất nước của vua Hùng, của lạc hầu, lạc tướng, lạc dân. Nhà Tần khi đã thôn tính lục quốc thì có sai quân mon men xuống miền xa lạ cực nam tiếp giáp với Văn Lang, Âu Lạc, nhưng bị đánh bật ngay. Vậy thuở ấy làm gì ở nước ta có hơi hám Nho giáo tuy ở phương bắc đức Khổng cùng môn đồ đã làm nhiệm vụ sáng lập Khổng giáo rồi. Đến phiên nhà Hán được dựng lên ở Trung Nguyên, rồi nam tiến, sáp nhập Nam Việt của họ Triệu, mà Nam Việt của họ Triệu thì đã đánh chiếm Âu Lạc rồi, từ đó bắt đầu thời kỳ gọi là bắc thuộc của lịch sử dân tộc Việt Nam, không còn Văn Lang, Âu Lạc nữa, nước ta trở thành Giao chỉ, Giao Châu, An Nam đô hộ phủ của SVTH :Cao Thị Xuân Tâm_Lớp: Đ1K19 Trang 14
  15. GVHD: TS. Bùi Văn Mưa Đề tài: Nho giáo Hán, Đường, Ngô… suốt thời gian dài qua ngàn năm. Đến thế kỷ 10 sau công nguyên mới dứt Nam Hán. Trong đoạn giữa và đoạn sau của thời kỳ bắc thuộc này, chắc đã có những nhà cai trị và có nhiều nhân sĩ bắc phương lánh nạn, tránh loạn chạy xuống châu Giao tìm nơi nương náu và sống bằng nghề dạy học, thì từ đó Nho giáo mới có những hạt giống đầu tiên ở xứ Đại Việt này, cũng từ đó đã vào xứ ta những tư tưởng như Đạo giáo của Trung Quốc, như Phật giáo của Ấn Độ, mấy giáo này lắm lúc trộn lẫn với Nho giáo mà thường dễ thâm nhập dân gian hơn là Nho giáo. Cần chú ý rằng, so với Phật và Đạo, thì trong phạm vi thời bắc thuộc, Nho giáo rất ít được đi vào các tầng lớp xã hội bản xứ, có lẽ bởi vì muốn học Nho thì cần phải biết chữ Hán mà chữ Hán thì khó học lắm, còn theo Phật, theo Đạo thì chỉ cần có cái lòng tin, mà tín ngưỡng dân gian không phải xa xăm gì lắm với Phật giáo, “quyền năng và phù phép” đạo giáo. Lý do chính cắt nghĩa được vì sao trải Tiền Hán đến Nam Hán, người Việt Nam rất ít thấm Nho giáo là ở chỗ Nho giáo dính liền với nhà cai trị, với kẻ cầm quyền ngoại bang. Thời dài bắc thuộc đó ít có những người Việt học thành đạt ở Trường An, trái lại thì có rất đông nhà sư và phật tử tổ chức tham gia các cuộc khởi nghĩa đánh đổ chính quyền đô hộ. Lịch sử ghi danh của chỉ một nhà khoa bảng Việt đỗ đạt ở Trường An mà giữ chức gác cổng thành nên bực tức về Nam hợp tác với Lý Bí khởi nghĩa. Các triều đại đầu tiên của Việt Nam độc lập đều xa lạ với Nho giáo hay là không gần gũi với Nho giáo. Đã vào đầu thiên niên kỷ thứ hai rồi. Ở các triều đình này, không phải nhà Nho mà nhà sư (Phật hay Đạo) đóng vai trò chính. Phật giáo khi ấy là quốc giáo. Nhà Lý xuất xứ từ cửa Phật. Các vua Trần là người sáng lập Thiền Tông Việt Nam, Nho giáo chưa có thế lực lớn. Nhưng khi đã có một chính quyền phong kiến tập trung, ở bên cạnh Trung Quốc, thì sớm hay muộn, từ từ hay mau chóng, cũng chính thức du nhập Nho giáo bởi vì Nho giáo là một cách trị quốc đã tỏ ra hữu hiệu từ cả ngàn năm. Nó cũng là một cách hay để tu thân, tề gia, tạo được sự an bình trong xã hội. Cho nên từ Lý đã thấy nhà vua lập Văn Miếu thờ Khổng Tử và tiền hiền ở Thăng Long. Trong lúc Phật giáo còn là quốc giáo thì suốt Lý Trần thực lực của Nho giáo và Nho gia ở triều đình và trong dân càng ngày càng phát triển như một tất yếu lịch sử Việt Nam. Nho giáo sẽ chiếm lĩnh vai trò chủ đạo trong nhà nước Việt Nam độc lập, từ triều Lê (thế kỷ 15) sau khi tầng lớp Nho sĩ dân tộc đã lập công lớn trong cuộc kháng chiến dài 20 năm đánh đuổi quân Minh xâm lược. Bình Ngô Đại Cáo của Nguyễn Trãi, Lê Lợi, về mặt văn hoá chính trị, có thể được xem là cái vương miện để trao cho Nho giáo Việt Nam. Nho giáo thống lĩnh tư tưởng văn hoá Việt Nam từ thế kỷ 15 đến thế kỷ 19, suốt hai triều đại Lê Nguyễn. Xét về mặt nguồn gốc lịch sử thì Nho giáo ở Việt Nam, cũng tựa như Nho giáo ở các nước Á Đông khác, là một nhánh Nho giáo mà gốc là Nho giáo Trung Quốc. Có thể nhận thấy rằng Nho giáo (hay bất cứ giáo nào) du nhập một nước có văn hiến thì phải uốn mình theo văn hoá nước đó; vừa uốn mình theo, vừa đóng góp vào nhiều hay ít, cụ thể như thế nào tuỳ khả năng tiếp thu SVTH :Cao Thị Xuân Tâm_Lớp: Đ1K19 Trang 15
  16. GVHD: TS. Bùi Văn Mưa Đề tài: Nho giáo và sáng tạo của dân tộc. Tiếp thư mà không sáng tạo thì cả văn hoá và dân tộc đều sẽ mất. Việt Nam tiếp thu Nho giáo bắc phương mà sáng tạo Nho giáo của mình chứ không phải chỉ sao chép thuộc lòng Khổng Mạnh, Hán Nho, Tống Nho. Thời giờ ít, sáng tạo không nhiều, nhưng không phải không đặc sắc. Nếu phải kể hết những ý kiến của nhà Nho Việt Nam vừa khác biệt với Nho Trung Quốc, thì, trước nay biết bao nhiêu mà kể. Chỉ kể một số điều cơ bản mà thôi, những điều khác biệt cơ bản thuộc cái lõi “bất biến” của Nho giáo. Nhưng trong mọi sự biến chuyển, điều chính, làm giàu, qua tất cả các cái biến đó, tất có những cái bất biến, có những điều chung nhất của Nho giáo mà cánh Nho nào, nhà Nho nào, ở đâu, lúc nào cũng phải công nhận, không công nhận thì không phải là Nho nữa. Cái bất biến, cái lõi, cái chung cơ bản đó là Cương Thường và với Cương Thường là: bát điều mục, cửu trù, chánh danh, tuỳ thời, nhân trị, quân tử và tiểu nhân. Nhà Nho gọi là chân lý vĩnh cửu, cũng gọi là đạo, “thiên địa chi thường hình, cổ kim chi thông nghị”, “thiên địa bất biến đạo diệt bất biến”. Đó là loại mắt biến đạo diệt bất biến”. Đó là loại mắt kính mà tất cả hay là hầu hết các nhà Nho bất kỳ thời nào, bất kỳ nơi nào, đều phải mang vào để nhìn mọi hiện thực, để xét mọi sự việc. Phân biệt thế nào đi nữa thì Nho giáo Việt Nam cũng vẫn là Nho giáo. Đã qua rồi cái thời mà ai ai cũng tìm thấy Nho giáo nói chung, ở Nho giáo Việt Nam nói riêng, những nguyên nhân quan trọng của sự lạc hậu, của sự thất bại trước sự xâm lược của thực dân Tây phương. Trễ tràng hơn Trung Quốc, càng trễ tràng hơn Nhật Bản, nhà Nho Việt Nam sẽ đứng lên phê phán “bốn nguyên nhân căn bản đã ngăn cản sự tiến bộ của dân tộc Việt Nam”, bốn nguyên nhân đó thuộc về bản chất của Nho giáo gốc và của Nho giáo Việt Nam; ấy là: thứ nhất: tư tưởng nội hạ ngoại di, xem mình mới là văn minh, xem nước ngoài, người ngoại là mọi rợ. Thực ra, đó vốn không phải là tư tưởng tự hào của Việt Nam mà là tư tưởng tự cao tự đại của phong kiến Hán tộc, ta bị lây đó thôi. Thứ nhì, đó là tư tưởng gọi là “trọng vương khinh bá”, đó là một giáo điều tai hại của Nho giáo bắc phương mà ta nuốt trỏng, nó đề cao đạo học mà xem nhẹ khoa học; nó xem rằng “vương” là “vì nghĩa”, chỉ vì nghĩa, còn “lợi” là bá, bá là thấp hèn. Thứ ba là tưởng “xưa hơn nay”, “xưa đúng nay sai”. Thứ tư là “trọng quan khinh dân” không thấy trong kinh điển Nho giáo như ba cái trên, mà nhiễm sâu trong quan trường cao và thấp; óc đua nhau đi học để làm quan trước hết là do cái học Nho giáo mà ra. Mãi đến khi chẳng những triều đỉnh Huế đầu hàng Pháp mà phong trào kháng chiến Cần Vương do sĩ phu lãnh đạo cũng bị đánh bại rồi thì các cụ mới tỉnh giấc Nam Kha, mới đề ra “Văn minh tân học sách”, mới đả phá những giáo điều Nho giáo tai hại, thì đã trễ mất rồi, nước mất rồi! Một nguyên nhân lớn của sự mất nước Việt Nam cuối thế kỷ 19 chính là bản chất bảo thủ của Nho giáo. Tính chất bảo thủ ấy của Nho giáo Việt Nam thời Tự Đức không bị đẩy lùi, đánh đổ trước vì thuở ấy không có giao lưu văn hoá, kinh tế chính trị với các nước ngoài, trí giả tuy đông mà hầu hết bị nhốt trong xó nhà, trong sách kinh điển thời Chu, thời Hán, thời Tống; nhân dân vẫn yêu nước như trước mà nước thì thiếu SVTH :Cao Thị Xuân Tâm_Lớp: Đ1K19 Trang 16
  17. GVHD: TS. Bùi Văn Mưa Đề tài: Nho giáo hẳn một tầng lớp thị dân có thể làm chỗ dựa cho các điều trần cải cách được thực hiện kịp thời. Chiến tranh thế giới lần thứ nhất hạ màn thì một ngôi sao mới bắt đầu mọc lên ở chân trời Việt Nam. Nguyễn Ái Quốc xuất hiện, phát tích từ một gia đình Nho giáo khoa bảng, từ một tỉnh Nho học truyền thống. Với Nguyễn Ái Quốc, chủ nghĩa Mác Lênin du nhập Việt Nam, phát triển và thành công lạ lùng và đẹp đẽ, không phải bằng sự vượt qua và giữ lại, noi theo cách phương Tây, là bằng một phủ định biện chứng các khối lượng khổng lồ những tri thức truyền thống tích tụ bao đời trong đó Nho giáo là bộ phận quan trọng hàng đầu. Suốt thời đại Hồ Chí Minh, trên nước Việt Nam, tất nhiên có nhiều cuộc phê bình Nho giáo, đã thêm rõ phân tiêu cực phải bỏ đi và phần tích cực còn trọng dùng, nhưng ở đây chưa hề xảy ra một cuộc vận động nào bài Nho, đã Khổng cả. II. ĐẶC ĐIỂM RIÊNG BIỆT VÀ SỰ ẢNH HƢỞNG NHO GIÁO ĐẾN SỰ PHÁT TRIỂN CỦA XÃ HỘI VIỆT NAM 1. Đặc điểm riêng biệt của Nho giáo Việt Nam Có nhiều yếu tố của Nho giáo khi vào Việt Nam đã bị biến đổi cho phù hợp với truyền thống của văn hóa dân tộc. Chữ nghĩa có thể vẫn thế, nhưng cách hiểu đã khác đi nhiều. Xã hội các quốc gia cổ vùng Trung Nguyên, với gốc gác du mục của mình luôn đầy biến động. Bởi vậy, Nho giáo muốn tạo nên một xã hội ổn định. Tuy nhiên ở Trung Hoa, các triều đại phong kiến chỉ dùng Nho giáo để giữ yên ngai vàng (giữ ổn định trong đối nội), còn với bên ngoài thì luôn chủ trương bành trướng (phát triển trong đối ngoại). Đối với Việt Nam nông nghiệp, ước mong về một cuộc sống ổn định, không xáo trộn là một truyền thống lâu đời. Ở Việt Nam, nhu cầu duy trì sự ổn định không chỉ có ở dân mà ở cả triều đình, không chỉ trong đối nội mà cả trong đối ngoại. Các cuộc chiến tranh mà người Việt Nam từng thực hiện đều mang tính tự vệ, với phong kiến Trung Hoa cũng thế mà đối với người Chiêm Thành cũng thế. Để duy trì sự ổn định, làng xã Việt Nam đã tạo nên sự lệ thuộc của cá nhân vào tập thể cộng đồng bằng cách phân biệt dân chính cư – dân ngụ cư, cộng đồng hóa lĩnh vực hôn nhân; sử dụng hữu hiệu bộ máy dư luận. Tương tự, muốn duy trì sự ổn định của quốc gia, nhà nước Nho giáo đã tạo ra sự phụ thuộc của bộ máy quan lại vào nhà cầm quyền bằng hai biện pháp: Biện pháp kinh tế là “nhẹ lương nặng bổng”: Quan lại xưa sống không bằng lương mà chủ yếu bằng bổng do dưới nộp lên và lộc do trên ban xuống – cuộc sống được bao cấp theo lối ban ơn. Biện pháp tinh thần là “trọng đức khinh tài”: Khai thác truyền thống trọng đức của văn hóa nông nghiệp (mà “đức” là khái niệm rất chủ quan, mập mờ), nhà nước Nho giáo buộc quan lại không thể hành động mà không tính đến dư luận. Yếu tố quan trọng thứ hai là việc trọng tình người. Vì trọng tình vốn là truyền thống lâu đời của văn hóa phương Nam, cho nên khi tiếp nhận Nho giáo, người Việt SVTH :Cao Thị Xuân Tâm_Lớp: Đ1K19 Trang 17
  18. GVHD: TS. Bùi Văn Mưa Đề tài: Nho giáo Nam đã tâm đắc với chữ “Nhân” hơn cả. Nhân là lòng thương người: Bán mình là hiếu, cứu người là nhân (Truyện Kiều). “Nhân” gắn liền với “Nghĩa”: Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân” (Nguyễn Trãi). Đối với người bình dân, “nhân đồng nghĩa với “Tình”. Các chữ nhân tình, nhân ngãi (biến âm của nhân nghĩa), nhân duyên trong tiếng Việt đã trở lại nói về tình yêu trai gái. Khả năng đồng hóa Nho giáo một cách mãnh liệt thể hiện qua bài ca dao dí dỏm: Mình về ta chẳng cho về, Ta nắm vạt áo ta đề bài thơ, Bài thơ ba chữ rành rành: Chữ trung, chữ hiếu, chữ tình là ba, Chữ trung là để phần cha, Chữ hiếu phần mẹ, đôi ta chữ tình! Trong Nho giáo Việt Nam, việc trọng tình được bổ sung bằng truyền thống dân chủ của văn hóa nông nghiệp (vốn có trong Nho giáo nguyên thủy, nhưng đến Hán Nho đã bị loại trừ). Chính nhờ tính dân chủ ấy mà khi Nho giáo Trung Hoa thâm nhập vào Việt Nam nó đã được “làm mềm” đi, không quá hà khắc. Nhờ truyền thống dân chủ ấy mà Nho giáo Việt Nam, dù có giữ vị trí độc tôn nhưng cũng không dám loại trừ Phật giáo và hủy bỏ cái gốc Việt Nam là đạo Mẫu. Tiếp thu chữ “hiếu” của Nho giáo, người Việt Nam đặt nó trong mối quan hệ bình đẳng với cả cha và mẹ: Công cha như núi Thái Sơn, Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra, Một lòng thờ mẹ kính ca, Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con. Thứ ba là tư tưởng “Trung quân”. Nho giáo rất coi trọng tư tưởng “trung quân” còn tư tưởng yêu nước thì không đề cập đến: quan lại Trung Hoa và võ sỹ Nhật Bản đều coi việc trung thành với “minh quân”, “minh chúa”, “Thiên Hoàng” làm trọng, sẵn sàng xả thân vì họ. Trong khi đó thì ở Việt Nam tiếp thu tư tưởng “trung quân” Nho giáo trên cơ sở tinh thần yêu nước và tinh thần dân tộc sẵn có, khiến cho cái trung quân đó đã bị biến đổi và gắn liền với ái quốc. Khi xuất hiện mâu thuẫn giữa vua và đất nước, dân tộc thì đất nước, dân tộc là cái quyết định. Thứ tư là xu hướng trọng văn. Chính vì chịu ảnh hưởng của văn hóa nông nghiệp phương Nam nên Nho giáo nguyên thủy rất coi trọng văn, trọng kẻ sỹ. Tuy nhiên Trung Hoa có trọng thì quan văn cũng chỉ ngang hàng với quan võ. Ở các nhà nước Đông Nam Á, chữ Dũng vẫn được coi trọng nhưng ở những mức độ khác nhau: Trong quân đội Tưởng Giới Thạch, 5 đức tính được đề cao là Trí-Tín-Nhân- Dũng-Trực; trong quân đội Triều Tiên thời Silla thì đề cao Trung-Hiếu-Tín-Nhân- Dũng; còn trong quân đội Nhật thì ca ngợi Trung-Lễ-Dũng-Tín-Kiêm. Thứ bậc “sỹ- nông-công-thương”có ở cả Việt Nam và Nhật Bản, nhưng trong khi “sỹ” ở Việt Nam là văn sỹ thì ở Nhật Bản lại là võ sỹ. Ở Việt Nam, văn được coi trọng hơn hẳn võ: Tuy luôn phải đối phó với chiến tranh, nhưng người Việt Nam ít quan tâm đến các kỳ thi võ mà chỉ ham học chữ, thi văn: Một kho vàng không bằng một nang chữ. Người Việt Nam nhìn thấy ở Nho giáo một công cụ văn hóa, một con đường làm nên nghiệp lớn: Chẳng tham ruộng cả ao liền, Tham vì cái bút cái nghiên anh đồ; Anh về lo học chữ Nhu, Chín trăng em đợi, mười thu em chờ Thứ năm là thái độ đối với nghề buôn. Nho giáo Trung Hoa khuyến khích làm giàu nếu nó không trái với lễ: “Phú quý mà có thể cầu được thì dù làm kẻ cầm roi đánh xe hầu người, ta cũng làm” (Luận ngữ). Làm giàu không chỉ nên, mà còn là SVTH :Cao Thị Xuân Tâm_Lớp: Đ1K19 Trang 18
  19. GVHD: TS. Bùi Văn Mưa Đề tài: Nho giáo trách nhiệm của người cai trị: Mạnh Tử từng bàn đến các vấn đề trao đổi hàng hóa, giá cả, chính sách thu thuế chợ, thuế đường…; ông nói: “người ta có hằng sản mới có hằng tâm”. Chính vì vậy mà ở Trung Hoa, Nho giáo không hề cản trở nghề buôn phát triển. Trong khi đó thì ở Việt Nam với văn hóa nông nghiệp đậm nét, với tính cộng đồng và tính tự trị, lại có truyền thống khinh rẻ nghề buôn. Nó đã bám rễ vào suy nghĩ và tình cảm mỗi người, khiến cho nghề buôn trong lịch sử Việt Nam không thể phát triển được; nó còn được khái quát thành quan niệm mang tính chính thống: dĩ nông vi bản, dĩ thương vi mạt và đường lối trọng nông khinh thương. “Truyền thống” này khiến cho Việt Nam nông nghiệp vốn đã âm tính lại càng duy trì được sự ổn định lâu dài, tránh mọi nguy cơ đồng hóa. Và còn một số điểm khác biệt nữa: Ngũ thường của Nho giáo Việt Nam khác với Nho giáo gốc người Việt Nam đưa chữ nghĩa lên hàng đầu và đặt thêm chữ đại ở trước, thành đại nghĩa, đại nghĩa là cứu nước. Chưa kể rằng trí giả và nhân dân Việt Nam tuy rất trung lễ mà đề cao chữ dũng, hơn hết nhân nghĩa trí dũng là ở đầu lưỡi và ở trong tâm của người Việt Nam. Trong bát điều mục của Nho giáo gốc, nhà Nho Việt Nam không biết từ hồi nào đã tháo gỡ khái niệm “bình thiên hạ” đi rồi, chỉ để lại thành ý, chính tâm, tu thân, tề gia mà thôi… Sở dĩ Nho giáo được Việt Nam dỡ ra, cải biến cho phù hợp với hoàn cảnh và truyền thống của mình, rồi cấu trúc lại một cách tài tình như thế là vì giữa Nho giáo Trung Hoa và văn hóa Việt Nam vốn có những nét tương đồng. Những nét tương đồng đó không phải là ngẫu nhiên. Đó không phải là cái gì khác mà chính là những tinh hoa của nền văn hóa nông nghiệp phương Nam mà Nho giáo nguyên thủy đã tiếp thu. Thành ra, khi vào Việt Nam, Nho giáo luôn phảng phất cái nét “vừa quen vừa lạ” rất đặc biệt. 2. Ảnh hƣởng của Nho giáo Trung Hoa đến nền văn hóa truyền thống của Việt Nam: Nho giáo thống lĩnh tư tưởng văn hóa Việt Nam từ thế kỷ 15 đến thế kỷ 19, suốt hai triều đại Lê Nguyễn. Nho giáo Việt Nam về cơ bản là sự tiếp thu Nho giáo Trung Quốc, nhưng không còn giữ nguyên trạng thái nguyên sơ của nó nữa mà có những biến đổi nhất định. Quá trình du nhập và tiến tới xác lập vị trí Nho giáo trong đời sống xã hội Việt Nam cũng là quá trình tiếp biến văn hóa hết sức sáng tạo của người Việt Nam trong suốt chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước, góp phần tạo nên tính đa dạng, nhưng thống nhất và độc đáo của văn hóa Việt Nam. SVTH :Cao Thị Xuân Tâm_Lớp: Đ1K19 Trang 19
  20. GVHD: TS. Bùi Văn Mưa Đề tài: Nho giáo Ảnh hưởng của Nho giáo đến sự phát triển của xã hội cổ đại Việt Nam : 2.1. Tích cực : Nho giáo với hệ thống tư tưởng chính trị của mình đã góp phần xây dựng các nhà nước phong kiến trung ương, tập quyền vững mạnh, góp phần xây dựng một hệ thống quản lý thống trị xã hội chặt chẽ, nâng cao sức mạnh quân sự và kinh tế quốc gia. Nho giáo rất coi trọng trí thức, coi trọng học hành. Khổng Tử là người “học nhi bất yếm, hối nhân bất nguyện”. Hàng nghìn năm qua, nhà nước Việt Nam đều lấy Nho học - Nho giáo làm nền tảng lý luận để tổ chức nhà nước, pháp luật và đặc biệt là giáo dục. Nội dung giáo dục của Nho giáo là dạy đức và dạy tài vẫn còn có ý nghĩa. Nho giáo coi trọng đức là coi trọng cách làm người, coi trọng con người là yếu tố quyết định. Giáo dục Nho giáo góp phần nâng cao văn hóa con người đặc biệt về văn hóa, sử học, triết học. Với phương châm “học nhi ưu tắc sĩ”, học để có thể tìm ra một nghề nghiệp mới và nâng cao vị trí xã hội của bản thân là động lực hiếu học trong nhân dân. Hiếu học là đặc điểm của Nho giáo. Hiếu học đã trở thành truyền thống văn hóa Á Đông trong đó có Việt Nam. Nho giáo hướng quản đạo quần chúng nhân dân vào việc học hành, tu dưỡng đạo đức theo Ngũ Thường “Nhân, Lễ, Nghĩa, Trí, Tín” làm cho xã hội ngày càng phát triển văn minh hơn. Nho giáo góp phần xây dựng mối quan hệ xã hội rộng rãi hơn, bền chặt hơn, có tôn tri trật tự… vượt quá phạm vi cục bộ là các làng xã, thô, ấp hướng tới tầm mức quốc gia, ngoài ra nó góp phần xây dựng mối quan hệ gia đình bền chặt hơn, có tôn ty hơn… nhờ tuân theo Ngũ Luân “Vua-tôi, cha-con, chồng-vợ, anh-em, bạn-bè”. Nho giáo vốn đặt mối quan hệ vua tôi ở vị trí cao nhất trong năm quan hệ giữa người với người. Các Nho sĩ Việt Nam cũng nhấn mạnh mối quan hệ này, xây dựng tinh thần trung quân, ái quốc nhưng không mù quáng trung quân mà vẫn đặt ái quốc lên hàng đầu. Họ đòi hỏi nhà vua trước hết phải trung thành với tổ quốc và trung hậu với nhân dân. Nhân nghĩa trong Khổng giáo là tình cảm sâu sắc, nghĩa vụ thiêng liêng của bề tôi đối với nhà vua, của con đối với cha, của vợ đối với chồng, nhưng đối với Nguyễn Trãi và các trí thức Việt Nam thì điều cốt yếu của nhân nghĩa là phải đem lại cho nhân dân cuộc sống thanh bình, và đội quân chính nghĩa phải nhằm tiêu diệt những quân tàn bạo. 2.2. Tiêu cực : Không như Nho giáo Trung Hoa, tuy không coi trọng thương nghiệp nhưng cũng không phản đối. Nho giáo Việt Nam quá coi trọng nông nghiệp mà bài xích thương nghiệp, quá chú trọng đến tự sản, tự tiêu mà quên đi sự trao đổi mua bán, kềm hãm tính năng động, sáng tạo dẫn đến quan liêu, bảo thủ trong cả kinh tế lẫn chính trị. Trong những giai đoạn đầu của chế độ phong kiến, nó tạo sự ổn định, phát SVTH :Cao Thị Xuân Tâm_Lớp: Đ1K19 Trang 20

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

Đồng bộ tài khoản