TIỂU LUẬN:
XU HƯỚNG PHÁT TRIỂN CỦA NƯỚC
TA HIỆN NAY DƯỚI ÁNH NG TƯ
TƯỞNG PHÁT TRIỂN XÃ HỘI CỦA
PH.ĂNGGHEN
Trong hệ thống luận của cỏc nhà sỏng lập chủ nghĩa Mỏc, tưởng phát triển
hội của Ph.Ăngghen hết sức độc đáo, không chỉ thể hiện một cách đặc sắc quan
điểm duy vật về lịch sử, cũn chỉ ra sự vận động của những quy luật khách quan
chi phối đời sống hội và con đường nhận thức chúng một cách đúng đắn. Theo tư
tưởng này, lịch sử hội trong tính tổng thcủa bao giờ cũng phát triển theo
hướng là kết quả hợp thành của các xu hướng vận động hiện tồn theo nguyên tắc
hỡnh bỡnh hành lực. Dưới ánh sáng tư tưởng phát triển xó hội của Ph.Ăngghen, xu
hướng phát triển chung của đời sống kinh tế xó hội nước ta hiện nay chính là hướng
hợp thành của sự hợp lực giữa hai xu hướng phát triển bản định hướng hội
chủ nghĩa và khuynh hướng tự phát tư bản chủ nghĩa, trong đó định hướng xó hội chủ
nghĩa đóng vai trũ chi phối, chủ đạo.
S hiện thực hóa những tưởng đại của các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác, từ Cách
mạng tháng Mười Nga, đó làm thay đổi toàn b lịch sử thế giới và đưa nhân loại bước
vào thời kỳ quá độ từ chủ nghĩa bản lên chnghĩa hội. Trong hệ thống luận
hoàn bị của cỏc ông, tưởng phát triển hội của Ph.Ăngghen hết sức độc đáo,
không chỉ thể hiện một ch đặc sắc quan điểm duy vật v lịch sử, mà cũn chỉ ra s
vận động của những quy luật khách quan chi phối đời sống xó hội và con đường đúng
đắn để nhận thức chúng.
Đối với các nhà sáng lập chủ nghĩa c, lịch schẳng qua chỉ sự hoạt động ca
con người đang theo đuổi những mục đích nhất định. Nhưng mục đích của con người,
về thực chất, chỉ những hỡnhnh cụ thể phản ỏnh những lợi ch thiết thõn của họ.
Như thế, chính sự hoạt động nhằm thực hiện c lợi ích của bản thân mà con người đó
làm ra lịch sử. Tuy nhiờn, trong đời sống hội, con người, một mặt, với cách một
nhân riêng lẻ, bao giờ ng nguyện vọng, ham muốn riêng tạo ra những lợi
ích riêng; nhưng mặt khác, mỗi con người bao giờ cũng thành viên của một cộng
đồng hội nhất định, do đó, họ vừa sản phẩm của hoàn cảnh lịch schung của
cộng đng, vừa buộc phải tồn tại một cách hũa hợp, thớch nghi với cộng đồng mà bản
thân họ một thành viên. Đúng là, con người chỉ con người trong quan hệ xó hội.
Ngoài đời sống hội, con nời không cũn con người nữa. Như thế, con người
vừa là chủ thể làm ra lịch sử lại vừa là sản phẩm của lịch sử.
Con người làm ra lịch sử, nhưng tiến trỡnh lịch sử xó hội khụng phải sản phẩm chủ
quan của những ý chớ cỏ nhõn riờng lẻ, mà luụn tuõn theo những quy luật khỏch quan
vốn cú của chớnh lịch sử. Ph.Ăngghen khẳng định: “Con người m ra lịch sử của
mỡnh – vụ luận lịch sử này diễn ra như thế nào bằng cách là mỗi người theo đuổi
những mục đích riêng, mong muốn một cách ý thức, chớnh kết quả chung của
vụ s những ý muốn tỏc động theo nhiều ớng khác nhau đó và của những nh
hưởng muôn vẻ của những ý muốn đó vào thế giới bên ngoài đó tạo nờn lịch sử”(2).
ễng chỉ rừ, trong lịch sử hội, nhõn tố hoạt động hoàn toàn chnhững con ni
có ý thức, hành động có suy nghĩ hay có nhiệt tỡnh và theo đuổi những mục đích nhất
định, cho nên không g diễn ra lại khụng cú ý định tự giác, không mc đích
mong muốn... Thế nhưng, theo ông, xét một cách tổng thể, ít khi người ta thực hiện
được điều người ta mong muốn; trong phần lớn các trường hợp, những mục đích
người ta mong muốn thường xung đột u thuẫn với nhau. Vỡ thế, những
xung đột của vô snhững nguyện vọng nh động riêng biệt đó tạo ra trong lĩnh
vực lch sử một tỡnh trạng hoàn toàn giống tỡnh trạng ngự trị trong giới tự nhiờn
khụng ý thức. Những mục đích của hành động những mục đích mong muốn;
song kết quthực tế của những hành động đó lại hoàn toàn không phải những kết
quả mong muốn, hoặc có thể khi kết quả đó, lúc đầu, hỡnh như cũng phù hợp với mục
đích mong muốn thỡ cuối cựng, lại dẫn tới những hậu quả hoàn toàn khỏc những hậu
quả mà ni ta mong muốn(3).
Như vậy, theo Ph.Ăngghen, do mỗi người theo đuổi những mục đích riêng của mỡnh
đó dẫn đến chỗ là, nhiều khi, chính hoạt động của họ lại xung đột với nhau và cản trở
nhau trong việc thực hiện những mục đích riêng tư. Như thế, một mặt, nó cản trở nhau
trong việc thực hiện mục đích của cá nhân mỡnh; mặt khác, nú tạo ra một “trỡnh trạng
hỗn loạn vụ ý thức như những lực lượng mù quáng trong tự nhiên” và như thế, cỏi
bề ngoài, ta luụn cảm giỏc “ngu nhiờn hỡnh như cũng chi phối cả những skiện
lịch sử”. Tuy nhiên, từ sự phân tích sâu sắc này, Ph.Ăngghen đó khẳng định: “Ở đâu
sự ngẫu nhiên hỡnh như tác động ngoài mặt thỡ đấy, tính ngẫu nhiên ấy luôn
luôn bị chi phối bởi những quy luật nội ti bị che đậy; vấn đchỉ pt hin ra
những quy luật đó”(4).
Như vậy, do hoạt động nhằm thực hiện những lợi ích của mỡnh, con người đó làm ra
lịch sử. Nhưng, tiến trỡnh lịch sử ấy lại là sự tương tác biện chứng giữa hoạt động chủ
quan của mi nhân riêng lnhững mối quan hệ hội khỏch quan của chớnh
họ, cộng đồng họ tạo ra mt cách ý thức hay không ý thức. nhiên, nếu chỉ
đơn thuần như thế thỡ tathể hỡnh dung lịch sử thường vận động một cách hỗn loạn
luôn bcác lực lượng ngẫu nhiên dẫn dắt. Thực ra thỡ khụng phải như vậy. Tiến
trỡnh lịch sử hội luụn diễn ra một cỏch tất yếu và ng luụn được dẫn dắt bởi
những quy luật khách quan vốn có của nó. Như vậy, những xu thế tất yếu khách quan
của sự vận động lịch sử đó hỡnh thành và diễn ra như thế nào?
Về điều y, Ph.Ăngghen đó chra một cỏch sõu sắc: “...lịch sử diễn ra theo cỏch
kết quả cuối cựng luụn luụn thu được từ những xung đột của nhiều ý chriờng biệt,
hơn nữa, mỗi ý chớ trong số đó trở thành cái nhưhiện lại chính là nhờ rất nhiều
điều kiện sống đặc biệt. Như vậy, có một số vô tận những lực giao nhau, một nhóm vô
tận những hỡnh bỡnh hành, và vỡ sđan chéo y mà xuất hiện một hợp lực - skiện
lịch sử. Kết quả này lại thể coi sản phẩm của một lực tác động như mt chỉnh
thể, một cỏch vụ ý thứcv ý chớ. Chớnh vcỏi một người này muốn thỡ lại
gặp phải tỏc động chống lại của bất kỳ người nào khác, và kết quả cuối cùng xuất
hiện một cái mà chẳng ai mong muốn. Như vậy, lịch sử, như nó đó diễn ra từ trước
đến nay, diễn ra giống như một qtrỡnh lịch sử tự nhiờn vthực chất phục tựng
cũng những qui luật vận động như nhau. Nhưng từ một tỡnh huống ý chớ của
những con nời riêng biệt, mà mỗi người trong shọ mong muốn cái cấu tạo
thể và những hoàn cảnh bên ngoài, xét tới cùng, hoàn cảnh kinh tế (hoặc hoàn
cảnh nhân của chính người đó, hoặc hoàn cảnh hội chung) lụi cuốn, và những ý
chớ này khụng đạt được cái chúng muốn, nhưng hũa nhập thành một cỏi trung
bỡnh, thành mt hợp chung, - vthế vẫn khụng thể kết luận rằng những ý chớ ấy
bằng khụng. Ngược lại, mỗi ý chí đều tham gia vào hợp lực do đó đều nằm trong
hợp lực đó ”(5).
Như vậy, sphát triển của toàn bộ lịch sử nói chung, của từng giai đoạn lch sử i
riêng, theo Ph.Ăngghen, không phát triển theo nguyện vọng riêng của một nm
hội nào, càng khụng phỏt triển theo nguyện vọng riờng của một nhân nào,
trong tính tổng thể của mỡnh, lịch sử (hay xó hội) bao giờ ng phỏt triển theo hướng
kết quả hợp thành của các xu hướng vận động hiện tồn theo nguyên tắc hỡnh bỡnh
hành lực. Trong đó, mọi xu hướng vận động khác nhau đều góp phần tạo nên xu
hướng vận động chung của lịch sử. Tất nhiên, những xu hướng vận động mạnh mẽ
ảnh hưởng sâu sắc đến mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế - hội bao giờ cũng trở
thành đầu tàu”, thành động lực quyết định xu hướng phát triển chung của toàn xó hội
tại thời điểm lịch sử nhất định. Chính xu hướng vn động này tạo ra sự định hướng
phát triển chung của toàn bộ đời sống - kinh tế xó hội.
Rừ ràng, theo sự phõn tớch của Ph.Ăngghen, ta thấy, từ chỗ là động lực quyết định s
hoạt động của từng nhân riêng lẻ, lợi ích trở thành động lực thúc đẩy sự hoạt động
của các nhóm, các tập đoàn, các cộng đồng hội, tạo nờn cỏc xu hướng vn động
chung của một hội nhất định. Như vy, để nhận diện những xu hướng vận động
khác nhau của một hội nhất định, qua đó, nhận thức đúng xu hướng vận động
chung của toàn hội tại một thời điểm lịch snhất định, ta phải bắt đầu bằng việc
xem xét các quan hệ kinh tế hiện thực để trên cơ sđó, thấy được các quan hệ lợi ích
cụ thể. Đúng nPh.Ăngghen khẳng định, “chúng ta tự làm nên lịch scủa chúng ta,
nhưng, thứ nhất, chúng ta m ra lịch svới những tiền đề những điều kiện rất xác