ÐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ÐẠI HỌC NÔNG LÂM -------------- QUÁCH VĂN LUÂN

Tên đề tài:

TÌM HIỂU NHẬN THỨC CỦA NGƯỜI DÂN VỀ MÔI TRƯỜNG

TRÊN ĐỊA BÀN XÃ HỒNG TIẾN, THỊ XÃ PHỔ YÊN,

TỈNH THÁI NGUYÊN

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo : Chính quy

Chuyên ngành : Khoa học môi trường

Khoa : Môi trường

Khóa học : 2015 - 2019

Thái Nguyên, năm 2019

ÐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ÐẠI HỌC NÔNG LÂM --------------

QUÁCH VĂN LUÂN

Tên đề tài:

TÌM HIỂU NHẬN THỨC CỦA NGƯỜI DÂN VỀ MÔI TRƯỜNG TRÊN ĐỊA BÀN XÃ HỒNG TIẾN, THỊ XÃ PHỔ YÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

: Chính quy : Khoa học môi trường : K47 - KHMT : Môi trường : 2015 - 2019

Hệ đào tạo Chuyên ngành Lớp Khoa Khóa học Giảng viên hướng dẫn: TS. Dư Ngọc Thành

Thái Nguyên, năm 2019

i

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình thực tập tốt nghiệp, ngoài sự nỗ lực của bản thân, em

đã nhận được nhiều sự giúp đỡ của các tập thể, cá nhân trong và ngoài trường.

Trước hết em xin chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo khoa Môi trường

và các thầy cô Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên đã tạo mọi điều kiện

giúp đỡ em hoàn thành quá trình thực tập tốt nghiệp.

Em bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy giáo TS. Dư Ngọc Thành là

người đã tận tình hướng dẫn em trong suốt quá trình thực hiện đề tài.

Em xin chân thành cảm ơn các bác các cô, chú, anh, chị Cán bộ UBND

xã Hồng Tiến, thị xã Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên đã hết lòng tận tình, chỉ bảo

hướng dẫn và giúp đỡ em trong suốt quá trình thực tập tại xã.

Cuối cùng em xin chân thành gửi lời cảm ơn tới gia đình và bạn bè,

những người đã khích lệ em trong suốt quá trình thực tập tốt nghiệp.

Trong thời gian thực tập em đã cố gắng hết sức mình, nhưng do kinh

nghiệm và kiến thức của bản thân còn hạn chế nên khóa luận chắc không

tránh khỏi những thiếu sót. Em rất mong thầy cô và các bạn góp ý bổ sung để

khóa luận của em được hoàn thiện hơn.

Em xin chân thành cảm ơn !

Thái Nguyên, ngày tháng 5 năm 2019

Sinh viên

Quách Văn Luân

ii

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1: Số hộ dân phân loại rác thải sinh hoạt hàng ngày trước khi xử lý (N

= 49) ................................................................................................ 17

Bảng 2.2: Đánh giá tầm quan trọng của việc phân loại rác thải sinh hoạt chia

theo giới tính (N= 49) ..................................................................... 18

Bảng 2.3: Ý kiến người dân về tầm quan trọng của việc xử lý rác thải sinh

hoạt ( N = 49) .................................................................................. 19

Bảng 2.4: Kiến thức, thái độ thực hành của người dân về nguồn nước sạch . 19

Bảng 2.5: Kiến thức, thái độ, thực hành của người dân về vệ sinh môi trường

......................................................................................................... 20

Bảng 4.1: Giới tính của người tham gia phỏng vấn ........................................ 26

Bảng 4.2: Trình độ học vấn của người tham gia phỏng vấn ........................... 27

Bảng 4.3: Nghề nghiệp của người tham gia phỏng vấn .................................. 27

Bảng 4.4: Các hình thức cung cấp nước cho ăn uống và sinh hoạt tại địa

phương ............................................................................................ 28

Bảng 4.5 Đánh giá chất lượng nước dùng cho sinh hoạt tại địa phương ........ 28

Bảng 4.6: Kết quả điều tra về việc sử dụng loại cống thải ............................. 29

Bảng 4.7: Kết quả điều tra về hoạt động xả nước thải .................................... 30

Bảng 4.8. Tỷ lệ hộ gia đình có các hình thức đổ rác ....................................... 31

Bảng 4.9: Kiểu nhà vệ sinh trên địa bàn xã Hồng Tiến .................................. 32

Bảng 4.10: Các nguồn tiếp nhận nước thải từ nhà vệ sinh ............................. 33

Bảng 4.11: Nhận thức của người dân về các khái niệm liên quan đến môi

trường .............................................................................................. 34

Bảng 4.12: Thành phần của chất thải rắn trong xã ......................................... 35

Bảng 4.13: Ý kiến của người dân trong việc tham gia các hoạt động bảo vệ

môi trường ....................................................................................... 37

iii

Bảng 4.14 : Đánh giá của người dân về tầm quan trọng của việc phân loại rác

thải sinh hoạt chia theo giới tính ..................................................... 38

Bảng 4.15: Đánh giá ý thức về thu gom rác theo nhóm các đối tướng trong xã

......................................................................................................... 39

Bảng 4.16: Hiểu biết của người dân về luật môi trường theo các nhóm đối

tượng trong xã ................................................................................. 41

Bảng 4.17: Nguồn cung cấp thông tin về MT và bảo vệ môi trường ............. 42

iv

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

STT

Từ viết tắt

Nghĩa của từ viết tăt

1 BĐKH

Biến đổi khí hậu

2 BVMT

Bảo vệ Môi trường

3 CBCNVC

Cán bộ công nhân viên chức

4 Chương trình SEMILA Dự án hợp tác Việt Nam – Thụy Điển về lĩnh

vực Tài Nguyên & Môi Trường

Doanh nghiệp

5 DN

Tổng sản phẩm quốc nội

6 GDP

Hộ gia đình

7 HGĐ

Hội đồng liên Chính Phủ về Biến đổi khí hậu

8 IPCC

Hiệp hội quốc tế của trọng lượng và đo lường

9 ISWM

Khu công nghiệp

10 KCN

Ô nhiễm môi trường

11 ONMT

Số lượng

12 SL

Uỷ ban nhân dân

13 UBND

Chương trình Môi trường Liên Hiệp Quốc

14 UNEP

Vệ sinh môi trường

VSMT

v

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN .................................................................................................... i

DANH MỤC CÁC BẢNG................................................................................ ii

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT ....................................................................... iv

MỤC LỤC ......................................................................................................... v

Phần 1. MỞ ĐẦU ............................................................................................ 1

1.1.Đặt vấn đề .................................................................................................... 1

1.2.Mục tiêu của đề tài ...................................................................................... 2

1.3. Ý nghĩa của đề tài ....................................................................................... 2

1.3.1. Ý nghĩa trong học tập, nghiên cứu khoa học .......................................... 2

1.3.2. Ý nghĩa thực tiễn ..................................................................................... 3

Phần 2. TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU ...................................... 4

2.1. Một số khái niệm cơ bản liên quan đến đề tài nghiên cứu......................... 4

2.2. Một số vấn đề MT cần quan tâm trên Thế giới và Việt Nam .................. 5

2.2.1. Một số vấn đề về Môi trường cần quan tâm trên Thế giới ..................... 5

2.2.2. Một số vấn đề về môi trường của Việt Nam ......................................... 10

2.3. Những nghiên cứu về nhận thức người dân về các vấn đề môi trường ở

các địa phương của Việt Nam ......................................................................... 15

2.3.1. Nhận thức của người dân về Luật BVMT ............................................ 15

2.3.2. Nhận thức của người dân tại TPHCM về tác hại của biến đổi khí hậu 16

2.3.3. Nhận thức của người dân về việc phân loại, thu gom, xử lý rác thải ... 17

2.3.4. Nhận thức của người dân về vệ sinh môi trường .................................. 19

Phần 3. ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU .. 22

3.1. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu ............................................................... 22

3.2. Địa điểm và thời gian nghiên cứu ............................................................ 22

3.3. Nội dung nghiên cứu ................................................................................ 22

3.4. Phương pháp nghiên cứu .......................................................................... 23

vi

3.4.1. Phương pháp thu thập tài liệu, số liệu thứ cấp ...................................... 23

3.4.2. Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp ..................................................... 23

3.4.3. Phương pháp tổng hợp, xử lý số liệu .................................................... 23

Phần 4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN ................................ 24

4.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của xã Hồng Tiến ............................ 24

4.1.1. Điều kiện tự nhiên của xã Hồng Tiến ................................................... 24

4.1.2. Điều kiện kinh tế - xã hội của xã Hồng Tiến ........................................ 24

4.2. Hiện trạng môi trường tại xã Hồng Tiến .................................................. 25

4.2.1. Thông tin về đối tượng điều tra ............................................................. 26

4.2.2. Kết quả điều tra về sử dụng nước sinh hoạt tại địa phương ................. 28

4.2.3. Tình hình xả nước thải tại địa phương .................................................. 29

4.2.4. Nhận thức về vấn đề rác thải tại địa phương ........................................ 30

4.2.5. Kiểu nhà vệ sinh của người dân sử dụng trong xã ................................ 31

4.3. Kết quả điều tra về sự hiểu biết và hành động của người dân xã Hồng

Tiến về môi trường .......................................................................................... 33

4.3.1. Hiểu biết của người dân về các khái niệm môi trường ......................... 34

4.3.2. Nhận thức của người dân trong việc tham gia các hoạt động bảo vệ môi

trường .............................................................................................................. 36

4.3.3. Nhận thức của người dân trong việc phân loại, thu gom, xử lý rác thải

sinh hoạt .......................................................................................................... 37

4.3.4. Hiểu biết của người dân về luật bảo vệ môi trường và các văn bản khác

có liên quan ..................................................................................................... 40

4.3.5. Những hoạt động của người dân về công tác bảo vệ môi trường sống,

công tác tuyên truyền của xã Hồng Tiến......................................................... 41

4.4 Đánh giá chung và đề xuất giải pháp nâng cao nhận thức của người dân về

môi trường tại xã Hồng Tiến ........................................................................... 44

4.4.1.Đánh giá chung ...................................................................................... 44

vii

4.4.2. Đề xuất giải pháp nâng cao nhận thức của người dân về môi trường tại

xã Hồng Tiến ................................................................................................... 46

Phần 5. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ ........................................................ 48

5.1. Kết luận .................................................................................................... 48

5.2. Kiến nghị .................................................................................................. 48

TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................ 50

PHỤ LỤC

1

Phần 1

MỞ ĐẦU

1.1. Đặt vấn đề

Môi trường là yếu tố vô cùng quan trọng, quyết định sự tồn tại, phát

triển của con người và sinh vật trên trái đất. Môi trường là nơi cung cấp

không gian sống của con người và sinh vật, cung cấp các nguồn tài nguyên

cần thiết cho cuộc sống và hoạt động sản xuất của con người, đồng thời cũng

là nơi chứa đựng các phế thải do con người thải ra trong cuộc sống và hoạt

động sản xuất. Việt Nam là một nước đang phát triển, đang bước vào thời kỳ

đẩy mạnh công nghiệp hoá, đô thị hoá thì việc giữ gìn môi trường là vấn đề

hết sức quan trọng.

Ô nhiễm suy thoái môi trường đang ngày càng gia tăng và trở thành

vấn đề nhức nhối của xã hội. Bảo vệ môi trường đòi hỏi cần có sự chung tay

và góp sức của toàn xã hội. Ngoài việc đề ra các biện pháp công nghệ kỹ

thuật, pháp luật để bảo vệ, phục hồi môi trường thì việc giáo dục, nâng cao

nhận thức cho người dân về vấn đề môi trường cũng là một việc làm vô cùng

quan trọng.

Thái Nguyên là một tỉnh ở Đông Bắc Việt Nam, tiếp giáp với thủ đô Hà

Nội và là tỉnh nằm trong quy hoạch vùng thủ đô Hà Nội. Thái Nguyên là một

trung tâm kinh tế - xã hội lớn của khu vực đông bắc hay cả vùng trung du và

miền núi phía Bắc. Tỉnh Thái Nguyên được tái lập ngày 1/1/1997 với việc

tách tỉnh Bắc Thái thành hai tỉnh Bắc Kạn và Thái Nguyên. Thái Nguyên nằm

trong vùng kinh tế trọng điểm Bắc thủ đô Hà Nội, một trung tâm kinh tế đang

lên ở miền Bắc. Thái Nguyên được coi là một trung tâm đào tạo nguồn nhân

lực lớn thứ 3 sau Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh. Thái Nguyên cũng là

một địa bàn chiến lược về quốc phòng, là nơi đóng trụ sở Bộ tư lệnh, cùng

nhiều cơ quan khác của Quân khu 1.

2

Hồng Tiến là một xã thuộc thị xã Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên, Việt

Nam. Xã nằm tại cực bắc khu vực phía Đông của thị xã và có các tuyến

đường quốc lộ 3 chạy qua ranh giới phía tây. Ngoài ra, Hồng Tiến cũng có

tuyến đường liên huyện Phú Bình và thị xã Phổ Yên cùng tuyến đường nối

thành phố Sông Công và quốc lộ 3 tới xã Điềm Thụy của huyện Phú Bình

chạy qua. Tuyến đường sắt Hà Nội - Quan Triều cũng đi qua địa bàn xã Hồng

Tiến. Những năm gần đây trước những tác động mạnh của quá trình đẩy

mạnh công nghiệp hóa, đô thị hoá, cùng với sự gia tăng dân số đã tạo nên

những áp lực làm môi trường suy giảm. Môi trường thiên nhiên như: môi

trường đất, nước, không khí đã có dấu hiệu suy thoái. Môi trường sống từng

ngày thay đổi, song nhận thức và hiểu biết của người dân về môi trường trên

địa bàn xã còn hạn chế.

Để thấy rõ được thực trạng này em tiến hành thực hiện đề tài “Tìm

hiểu nhận thức của người dân về môi trường trên địa bàn xã Hồng

Tiến, thị xã Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên” dưới sự hướng dẫn của thầy

giáo TS. Dư Ngọc Thành – Giảng viên khoa Môi trường, trường ĐH Nông

Lâm Thái Nguyên.

1.2. Mục tiêu của đề tài

- Đánh giá hiện trạng môi trường tại xã Hồng Tiến, Thị xã Phổ Yên

- Tìm hiểu sự nhận thức, hiểu biết của người dân về môi trường

-. Đề xuất các giải pháp nâng cao nhận thức của người dân về môi trường

1.3. Ý nghĩa của đề tài

1.3.1. Ý nghĩa trong học tập, nghiên cứu khoa học

- Nâng cao kiến thức kỹ năng và rút ra những kinh nghiệm thực tế phục

vụ cho công tác sau này.

- Vận dụng và phát huy các kiến thức đã học tập và nghiên cứu rèn luyện

về kỹ năng tổng hợp và phân tích số liệu.

3

1.3.2. Ý nghĩa thực tiễn

- Biết được nhận thức của người dân tại xã Hồng Tiến, thị xã Phổ Yên,

tỉnh Thái Nguyên về môi trường như tế nào để từ đó đề xuất giải pháp nhằm

nâng cao nhận thức của người dân về bảo vệ môi trường.

4

Phần 2

TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU

2.1. Một số khái niệm cơ bản liên quan đến đề tài nghiên cứu

- Nhận thức:

+ Quá trình và kết quả phản ánh và tái hiện hiện thực vào trong tư duy,

quá trình con người nhận biết, hiểu biết thế giới khách quan hoặc kết quả của

quá trình đó.

+ Nhận ra và biết được.

+ Nhận thức là quá trình biện chứng của sự phản ánh thế giới khách

quan trong ý thức con người, nhờ đó con người tư duy và không ngừng tiến

đến gần khách thể.

- “Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và vật chất nhân tạo bao

quanh con ngươì, ảnh hưởng đến đời sống sản xuất, sự tồn tại, sự phát triển

của con người và sinh vật”[11] .

- Thành phần môi trường là yếu tố vật chất tạo thành môi trường như

đất, nước, không khí, âm thanh, ánh sáng, sinh vật, hệ sinh thái và các hình

thái vật chất khác.

- Ô nhiễm môi trường là sự biến đổi của các thành phần môi trường

không phù hợp với tiêu chuẩn môi trường, gây ảnh hưởng xấu đến con

người, sinh vật.[5]

- Hoạt động bảo vệ môi trường là hoạt động giữ cho môi trường trong sạch,

phòng ngừa, hạn chế tác động xấu đối với môi trường, ứng phó sự cố môi trường;

khắc phục ô nhiễm, suy thoái, phục hồi và cải thiện môi trường; khai thác, sử dụng

hợp lý và tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên; bảo vệ đa dạng sinh học.

- Phát triển bền vững là phát triển đáp ứng được nhu cầu của thế hệ

hiện tại mà không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu đó của các thế

5

hệ tương lai trên cơ sở kết hợp chặt chẽ, hài hoà giữa tăng trưởng kinh tế, bảo

đảm tiến bộ xã hội và bảo vệ môi trường [4].

- Ô nhiễm môi trường là sự biến đổi của các thành phần môi trường không

phù hợp với tiêu chuẩn môi trường, gây ảnh hưởng xấu đến con người, sinh vật.

- Rác thải là những chất được loại ra trong sinh hoạt, trong quá trình

sản xuất hoặc trong các hoạt động khác. Có nhiều loại rác thải khác nhau và

có nhiều cách phân loại.

- Sự cố môi trường là tai biến hoặc rủi ro xảy ra trong quá trình hoạt

động của con người hoặc biến đổi thất thường của tự nhiên, gây ô nhiễm, suy

thoái hoặc biến đổi môi trường nghiêm trọng.

- Chất thải là vật chất ở thể rắn, lỏng, khí được thải ra từ sản xuất, kinh

doanh, dịch vụ, sinh hoạt hoặc hoạt động khác.

- Quản lý chất thải là hoạt động phân loại, thu gom, vận chuyển, giảm

thiểu, tái sử dụng, tái chế, xử lý, tiêu hủy, thải loại chất thải. Phế liệu là sản

phẩm, vật liệu bị loại ra từ quá trình sản xuất hoặc tiêu dùng được thu hồi để

dùng làm nguyên liệu sản xuất.

- Quản lý môi trường. "Quản lý môi trường là tổng hợp các biện pháp,

luật pháp, chính sách kinh tế, kỹ thuật, xã hội thích hợp nhằm bảo vệ chất

lượng môi trường sống và phát triển bền vững kinh tế xã hội quốc gia"[4]

- Thông tin về môi trường bao gồm số liệu, dữ liệu về các thành phần

môi trường; về trữ lượng, giá trị sinh thái, giá trị kinh tế của các nguồn tài

nguyên thiên nhiên; về các tác động đối với môi trường; về chất thải; về mức

độ môi trường bị ô nhiễm, suy thoái, và các thông tin về môi trường khác.

2.2. Một số vấn đề MT cần quan tâm trên Thế giới và Việt Nam

2.2.1. Một số vấn đề về Môi trường cần quan tâm trên Thế giới

Theo GS.TS Võ Quý chúng ta đang phải đối mặt với nhiều vấn đề môi

trường, cấp bách nhất là:

6

* Rừng - “lá phổi của Trái đất” đang bị phá hủy do hoạt động của loài người:

Rừng xanh trên thế giới che phủ khoảng một phần ba diện tích đất liền

của Trái đất, chiếm khoảng 40 triệu km2. Tuy nhiên, các vùng rừng rậm tốt

tươi đã bị suy thoái nhanh chóng trong những năm gần đây.

Các hệ sinh thái rừng bao phủ khoảng 10% diện tích Trái đất, khoảng

30% diện tích đất liền. Tuy nhiên, các vùng có rừng che phủ đã bị giảm đi

khoảng 40% trong vòng 300 năm qua và theo đó mà các loài động thực vật,

thành phần quan trọng của các hệ sinh thái rừng, cũng bị mất mát đáng kể.

Từ trước đến nay, lượng CO2 có trong khí quyển luôn ổn định nhờ sự

quang hợp của cây xanh. Tuy nhiên trong những năm gần đây, một diên tích

lớn rừng bị phá hủy, nhất là rừng rậm nhiệt đới, do đó hàng năm có khoảng 6

tỷ tấn CO2 được thải thêm vào khí quyển trên toàn thế giới, tương đương

khoảng 20% lượng khí CO2 thải ra do sử dụng các nhiên liệu hóa thạch (26 tỷ

tấn/năm). Điều đó có nghĩa là việc giảm bớt sử dụng nhiên liệu hóa thạch và

khuyến khích bảo vệ rừng và trồng rừng để giảm bớt tác động của biến đổi

khí hậu là rất quan trọng[12].

* Đa dạng sinh học đang giảm sút hàng ngày

Đa dạng sinh học đem lại rất nhiều lợi ích cho con người như làm sạch

không khí và dòng nước, giữ cho môi trường thiên nhiên trong lành, cung cấp

các loại lương thực thực phẩm, thuốc chữa bệnh, đa dạng sinh học còn góp

phần tạo ra lớp đất màu, tạo độ phì cho đất để phục vụ sản xuất sinh

hoạt…Tất cả các dịch vụ của hệ sinh thái trên thế giới đã đem lại lợi ích cho

con người với giá trị ước lượng khoảng 21-72 tỷ đôla Mỹ/năm, so với tổng

sản phẩm toàn cầu năm 2012 là 58 tỷ đôla Mỹ (UNEP, 2014).

Sụp đổ hệ sinh thái và mất đa dạng sinh học sẽ gây nên nhiều khó khăn

trong cuộc sống nhất. Vì thế, việc bảo tồn đa dạng sinh học là hết sức quan

trọng trong công cuộc xóa đói giảm nghèo mà chúng ta đang theo đuổi trong

sự phát triển xã hội ở nước ta.

7

* Tài nguyên nước đang bị cạn kiệt dần

Trái đất là một hành tinh xanh, có nhiều nước, nhưng 95,5% lượng

nước có trên Trái đất là nước biển và đại dương. Lượng nước ngọt mà loài

người có thể sử dụng được chỉ chiếm khoảng 0,01% lượng nước ngọt có trên

Trái đất. Cuộc sống của chúng ta và nhiều loài sinh vật khác phụ thuộc vào

lượng nước ít ỏi đó. Lượng nước quý giá đó đang bị suy thoái một cách nhanh

chóng do các hoạt động của con người và con người đang phải vật lộn với sự

thiếu hụt nước ngọt tại nhiều vùng trên thế giới.

Để có thể bảo tồn nguồn tài nguyên nước hết sức ít ỏi của chúng ta,

chúng ta phải nhận thức được rằng cần phải giữ được sự cân bằng nhu cầu và

khả năng cung cấp bằng cách thực hiên các biện pháp thích hợp. Để có thể hồi

phục được sự cân bằng mỗi khi đã bị thay đổi sẽ tốn kém rất lớn, tuy nhiên có

nhiều trường hợp không thể sửa chữa được. Vì thế cho nên, nhân dân tại tất cả

các vùng phải biết tiết kiệm nước, giữ cân bằng giữa nhu cầu sử dụng với

nguồn nước cung cấp, có như thế mới giữ được một cách bền vững nguồn

nước với chất lượng an toàn. Theo báo cáo của chương trình môi trường của

Liên Hiệp Quốc UNEP trong tạp chí Toàn cảnh môi trường toàn cầu năm

2017 đã có 1/3 đất nông nghiệp trên toàn thế giới bị cằn cỗi. Khoảng 20%

diện tích đất trồng trọt, 16% đất lâm nghiệp, 19% đồng cỏ… giảm năng suất.

Trên thế giới, khoảng 20%, tương đương 63 triệu hec-ta đất canh tác trồng

trọt bị nhiễm mặn (tương ứng diện tích nước Pháp).

* Mức tiêu thụ năng lượng ngày càng cao và nguồn năng lượng hóa

thạch đang cạn kiệt

Trong lúc vấn đề cạn kiệt nguồn chất đốt hóa thạch đang được mọi

người quan tâm như dầu mỏ và khí đốt, thì Trung Quốc và Ấn Độ với diện

tích rộng và dân số lớn, đang là nhưng nước đang phát triển nhanh tại châu Á,

đặc biệt là Trung Quốc có nguồn than đá và khí đốt thiên nhiên dồi dào, đang

tăng sức tiêu thụ nguồn năng lượng này một cách nhanh chóng. Ở Trung

8

Quốc, sức tiêu thụ loại năng lượng hàng đầu này từ 961 triệu tấn (tương

đương dầu mỏ) vào năm 1997 lên 1.863 triệu tấn vào năm 2007, tăng gần gấp

đôi trong khoảng 10 năm. Tất nhiên lượng CO2 thải ra cũng tăng lên gần ½

lượng thải của Mỹ năm 2000, và đến nay Trung Quốc đã trở thành nước thải

lượng khí CO2 lớn nhất trên thế giới, vượt qua cả Mỹ năm 2007.

Con người đã đạt được bước tiến rất lớn trong quá trình phát triển,

bằng cuộc Cách mạng Công nghiệp nhờ sự tiêu thụ lớn các chất đốt hóa

thạch. Tuy nhiên, ước lượng nguồn dự trữ dầu mỏ trên thế giới chỉ còn sử

dụng được trong vòng 40 năm nữa, dự trữ khí tự nhiên được 60 năm và

than đá là khoảng 120 năm. Nếu chúng ta vẫn bị lệ thuộc vào chất đốt hóa

thạch thì chúng ta không thể đáp ứng được nhu cầu năng lượng ngày càng

cao và sẽ phải đối đầu với sự cạn kiệt nhanh chóng nguồn tài nguyên thiên

nhiên này trong thời gian không lâu.

Việc sử dụng các nguồn năng lượng hồi phục được như năng lượng mặt

trời, địa nhiệt, gió, thủy lực và sinh khối sẽ không làm tăng thêm CO2 vào khí

quyển và có thể sử dụng được một cách lâu dài cho đến lúc nào Mặt trời còn

chiếu sáng lên Trái đất. Tuy nhiên, so với chất đốt hóa thạch, năng lượng mặt

trời rất khó tạo ra được nguồn năng lượng lớn, mà giá cả lại không ổn định. Làm

thế nào để tạo được nguồn năng lượng ổn định từ các nguồn có thể tái tạo còn là

vấn đề phải nghiên cứu, và rồi đây khoa học kỹ thuật sẽ có khả năng hạ giá thành

về sử dụng năng lượng mặt trời và các dạng năng lượng sạch khác. Chúng ta

không thể giải quyết vấn đề năng lượng chỉ bằng cách sử dụng nguồn năng

lượng sạch, mà chúng ta cần phải thay đổi cách mà chúng ta hiện nay đang sử

dụng nguồn năng lượng để duy trì cuộc sống của chúng ta và đồng thời phải tìm

các làm giảm tác động lên môi trường. Tiết kiệm năng lượng là hướng giải quyết

mà chúng ta phải theo đuổi mới mong thực hiện được sự phát triển bền vững,

trước khi năng lượng mặt trời được sử dụng một cách phổ biến.

9

* Trái đất đang nóng lên:

Nóng lên toàn cầu không phải chỉ có nhiệt độ tăng thêm, nó còn mang

theo hàng loạt biến đổi về khí hậu, mà điều quan trọng nhất là làm giảm lượng

nược mưa tại nhiều vùng trên thế giới. Một số vùng thường đã bị khô hạn,

lượng mưa lại giảm bớt tạo nên hạn hán lớn và sa mạc hóa. Theo báo cáo lần

thứ tư của IPCC, nhiệt độ trung bình toàn cầu đã tăng 0,7oC so với trước kia.

Do nóng lên toàn cầu, dù chỉ 0,7oC mà trong những năm qua, thiên tai như

bão tố, lũ lụt, hạn hán, nắng nóng bất thường, cháy rừng… đã xảy ra tại nhiều

vùng trên thế giới. Theo dự báo thì rồi đây, nếu không có các biện pháp hữu

hiệu để giảm bớt khí thải nhà kính, nhiệt độ mặt đất sẽ tăng thêm từ 1.8oC đến

6,4oC vào năm 2100, lượng mưa sẽ tăng lên 5-10%, băng ở hai cực và các núi

cao sẽ tan nhiều hơn, nhanh hơn, nhiệt độ nước biển ấm lên, bị giãn nở mà

mức nước biển sẽ dâng lên khoảng 70-100cm hay hơn nữa và tất nhiên sẽ có

nhiều biến đổi bất thường về khí hậu, thiên tai sẽ diễn ra khó lường trước

được cả về tần số và mức độ.

* Dân số thế giới đang tăng nhanh

Sự tăng dân số một cách quá nhanh chóng của loài người cùng với sự

phát triển trình độ kỹ thuật là nguyên nhân hàng đầu gây ra sự suy thoái thiên

nhiên. Tuy rằng dân số loài người đã tăng lên với mức độ khá cao tại nhiều

vùng ở châu Á trong nhiều thế kỷ qua nhưng ngày nay, sự tăng dân số trên thế

giới đã tạo nên một hiện tượng đặc biệt của thời đại của chúng ta, được biết

đến là như là sự bùng nổ dân số trong thế kỷ XX. Hiện tượng này có lẽ còn

đáng chú ý hơn cả phát minh về năng lượng nguyên tử hay phát minh về điều

khiển học. Tình trạng quá đông dân số loài người trên trái đất đã đạt trung

bình khoảng 33 người trên km2 trên đất liền (kể cả sa mạc và các vùng cực).

Với dân số như vậy, loài người đang ngày càng gây sức ép mạnh lên vùng đấy

có khả năng nông nghiệp để sản xuất lương thực và cả lên những hệ sinh thái

tự nhiên khác.

10

2.2.2. Một số vấn đề về môi trường của Việt Nam

* Độ che phủ và chất lượng rừng giảm sút nghiêm trọng

Qua quá trình phát triển, độ che phủ của rừng ở Việt Nam đã giảm sút

đến mức báo động. Chất lượng của rừng ở các vùng còn rừng đã bị hạ thấp

quá mức. Trước đây, toàn bộ đất nước Việt Nam có rừng che phủ, nhưng chỉ

mới mấy thập kỷ qua, rừng bị suy thoái nặng nề. Diện tích rừng toàn quốc đã

giảm xuống từ năm 1943 chiếm khoảng 43% diện tích tự nhiên, thì đến năm

1990, chỉ còn 28,4%. Tình trạng suy thoái rừng ở nước ta là do nhiều nguyên

nhân khác nhau, trong đó có sự tàn phá của chiến tranh, nhất là chiến tranh

hóa học của Mỹ. Trong mấy năm qua, diện tích rừng có chiều hướng tăng lên,

28,8% năm 1998 và đến năm 2000, độ che phủ rừng là 33,2% năm 2002 đã

đạt 35,8% và đến cuối năm 2004 đễ lên đến 36,7%. Đây là một kết quả hết

sức khả quan. Chúng ta vui mừng là độ che phủ rừng nước ta đã tăng lên khá

nhanh trong những năm gần đây, tuy nhiên chất lượng rừng lại giảm sút đáng

lo ngại. Các số liệu chính thức gần đây đã xác định độ che phủ rừng của Việt

Nam, bao gồm cả rừng tự nhiên và rừng trồng là 12,3 triệu ha, chiếm hơn

37% tổng diện tích tự nhiên toàn quốc. Khoảng 18% diện tích này là rừng

trồng, chỉ có 7% diện tích rừng là rừng nguyên sinh và gần 70% diện tích

rừng còn lại được coi là rừng thứ sinh nghèo.

Trong mười năm trở lại đây, tình trạng phá rừng tại các tỉnh Tây

Nguyên diễn biến rất phức tạp. Mặc dù các ngành chức năng đã tăng cường

kiểm tra, truy quét, nhưng đến nay, các vi phạm về rừng vẫn chưa chấm dứt,

gây ảnh hưởng lớn đến kinh tế, môi trường và trật tự an toàn xã hội. Theo báo

cáo của UBND tỉnh Gia Lai, trong năm 2014 trên địa bàn tỉnh đã phát hiện và

xử lý 745 vụ vi phạm Luật Bảo vệ và phát triển rừng; trong đó có 28 vụ phá

rừng; 43 vụ khai thác rừng; 646 vụ mua bán, vận chuyển, cất giữ lâm sản trái

phép... Có nhiều vụ việc, khi các đối tượng bị phát hiện đã không ngần ngại

dùng vũ khí tấn công lực lượng thi hành công vụ. Tổng diện tích rừng bị phá,

11

lấn chiếm trái phép trên địa bàn từ năm 2009 đến 2014 là hơn 26.500 ha,

trong khi đó các ngành chức năng của Ðắc Lắc mới chỉ thu hồi được gần

2.000 ha để trồng lại rừng... Chỉ tính riêng sáu tháng đầu năm nay, lực lượng

chức năng của tỉnh đã kiểm tra, xử lý 1.207 vụ vi phạm; trong đó, 17 vụ phá

rừng trái phép với diện tích 10 ha; 36 vụ khai thác rừng trái phép; 819 vụ vận

chuyển, mua bán, cất giữ, chế biến trái pháp luật gỗ, lâm sản... Cơ quan chức

năng đã khởi tố hình sự bảy vụ, tịch thu 1.458 phương tiện và 1.963 m3 gỗ

các loại; thu phạt sau xử lý 10,9 tỷ đồng.

Năm 2018 sảy ra nhiều vụ chặt phá rừng trong nhiều tỉnh trên cả nước,

các vụ điển hình là tại xã An Thắng (huyện Pắc Nậm, tỉnh Bắc Cạn có 16 lô

với tổng cộng gần 11 ha rừng bị phá, với lượng gỗ bị chặt hạ lên đến hơn 600

m3. Ðiều đáng nói, vụ phá rừng có quy mô lớn nhất tại địa phương này đã

được phát hiện rất sớm, nhưng cấp ủy, chính quyền xã không báo cáo cấp

trên, mà cố ý bao che, dung túng cho việc làm sai trái bởi có hơn 20 gia đình

đã phá rừng, trong đó có cả gia đình bí thư, phó bí thư chi bộ, trưởng thôn và

những người có trách nhiệm tham gia. Chỉ khi cơ quan có trách nhiệm đến

xác minh hiện trường, vụ việc mới được ngăn chặn. Trên địa bàn tỉnh Hà

Giang, các lực lượng chức năng đã phát hiện 157 vụ vi phạm Luật Bảo vệ và

Phát triển rừng, chủ yếu là khai thác, mua bán, vận chuyển, cất giữ lâm sản

trái phép. Tổng số lâm sản bị tịch thu là hơn 64 m3 gỗ các loại. Rừng đặc

dụng Phong Quang có diện tích gần 10 nghìn héc-ta, nằm trên địa bàn bốn xã

biên giới của huyện Vị Xuyên, vốn được coi là "vựa nghiến" của tỉnh với

những cây nghiến hàng trăm năm tuổi. Nhiều năm nay, đây luôn là địa bàn

nóng về tình trạng khai thác gỗ trái phép. "Lâm tặc" cắt hạ những cây nghiến

lớn, cắt thành khúc dạng thớt, gùi qua biên giới, bán lấy tiền. Ở tỉnh Quảng

Ninh, hàng chục héc-ta rừng phòng hộ tại xã An Sinh, huyện Ðông Triều

cũng bị các hộ dân chặt phá để lấy đất trồng cây dược liệu. Mặc dù việc chặt

12

phá rừng diễn ra trong một thời gian dài, nhưng chính quyền địa phương,

kiểm lâm và các lực lượng có liên quan không quan tâm giải quyết.

Theo Tổng cục Lâm nghiệp (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn),

năm 2018, cả nước phát hiện 6.651 vụ vi phạm Luật Bảo vệ và Phát triển

rừng. Trong đó có 963 vụ phá 301 ha rừng và 530 vụ vi phạm khai thác rừng,

với diện tích rừng bị thiệt hại là 453 ha. Trong các vụ vi phạm về rừng bị phát

hiện, cơ quan chức năng đã xử lý 5.641 vụ, nhưng chủ yếu xử phạt hành chính

5.533 vụ, tịch thu 5.730 m3 gỗ các loại, thu nộp ngân sách gần 82 tỷ đồng,

còn xem xét xử lý hình sự chỉ có gần 110 vụ[3].

* Đa dạng sinh học ở Việt Nam

Việt Nam được xem là một trong những nước thuộc vùng Đông Nam Á

giàu về đa dạng sinh học. Do sự khác biệt lớn về khí hậu, từ vùng gần xích

đạo tới giáp vùng cận nhiệt đới, cùng với sự đa dạng về địa hình đã tạo nên

tính đa dạng sinh học cao ở Việt Nam. Cho đến nay đã thống kê được 11.373

loài thực vật bậc cao có mạch và hàng nghìn loài thực vật thấp như rêu, tảo,

nấm…. Hệ động vật Việt Nam cũng hết sức phong phú. Hiện đã thống kê

được 310 loài thú, 870 loài chim, 296 loài bò sát, 263 loài ếch nhái, trên 1.000

loài cá nước ngọt, hơn 2.000 loài cá biển và thêm vào đó hàng chục ngàn loài

động vật không xương sống ở cạn, ở biển và ở nước ngọt. Ngoài ra Việt Nam

còn có phần nội thủy và lãnh hải rộng khoảng 226.000 km2, trong đó có hàng

nghìn hòn đảo lớn nhở và nhiều rạn san hô phong phú, là nới sinh sống của

hàng ngàn động vật, thực vật có giá trị. Tuy nhiên, thay vì phải bảo tồn và sử

dụng một cách hợp lý nguồn tài nguyên quý giá này ở nhiều nơi đã và đang

khai thác quá mức và phí phạm, không những thế còn sử dụng các biện pháp

hủy diệt như dùng các chất nổ, chất độc, kích điện để săn bắt. Nếu được quản

lý tốt và biết sử dụng đúng mức, nguồn tài nguyên sinh học của Việt Nam có

thể trở thành tài sản rất có giá trị. Nhưng rất tiếc, nguồn tài nguyên này đang

bị suy thoái nhanh chóng[6].

13

* Diện tích đất trồng trọt trên đầu người ngày càng giảm

Ở Việt Nam, tuy đất nông nghiệp chiếm 28,4% diện tích đất tự nhiên,

song bình quân diện tích đất canh tác trên đầu người rất thấp, xếp thứ 159

trong tổng số 200 nước trên thế giới và bằng 1/6 bình quân trên thế giới. Tỷ lệ

này sẽ hạ thấp hơn nữa trong những năm tới do dân số còn tăng và đất thuận

lợi cho sản xuất nông nghiệp lại rất hạn chế, chủ yếu thuộc các vùng đồng

bằng. Diện tích đất nông nghiệp ngày càng bị thu hẹp do bị thoái hóa, ô nhiễm

và chuyển đổi mục đích sử dụng, nhất là để xây dựng các khu công nghiệp, đô

thị, đường giao thông, sân gôn..., làm mất đi hơn 50.000 ha đất nông nghiệp

trong khoảng 10 năm qua. Theo thống kê chưa đầy đủ, trong mấy năm gần

đây, trung bình hàng năm có khoảng 72.000 ha đất nông nghiệp được chuyển

đổi mục đích sử dụng. Trong khoảng 3 năm trở lại đây việc quy hoạch phát

triển các khu công nghiệp diễn ra hết sức ồ ạt ở các địa phương. Tỉnh nào

cũng có khu công nghiệp, khiến một phần không nhỏ đất nông nghiệp tốt bị

chuyển đổi mục đích sử dụng. Theo một báo cáo của Bộ Nông nghiệp và Phát

triển nông thôn cả nước phải giữ được ít nhất 3,9 triệu hecta đất trồng lúa, vì

thế, Chính phủ phải sớm có quy hoạch tổng thể về đất nông nghiệp của cả

nước để các địa phương tuân theo[3].

* Thoái hóa đất

Theo Cục Lâm nghiệp, hiện Việt Nam có khoảng hơn 9 triệu ha đất bị

hoang hoá, chiếm 28% tổng diện tích đất đai trên toàn quốc, trong đó có 2

triệu ha đất đang sử dụng bị thoái hóa nặng.

Ngoài những vùng đất bị hoang mạc hóa, nhiều dải cát ven biển Việt

Nam còn bị hiện tượng sa mạc hóa cục bộ, tập trung từ tỉnh Quảng Bình đến

Bình Thuận với diện tích khoảng 419.000 ha và ở Đồng bằng sông Cửu Long

với diện tích 43.000 ha. Việt Nam đã xác định 4 địa bàn ưu tiên chống sa mạc

hóa: Duyên hải Miền Trung, Tây Bắc, Tứ giác Long Xuyên và Tây

Nguyên[3].

14

Theo thống kê của FAO và UNESCO, Việt Nam có khoảng 462.000 ha

cát ven biển, chiếm khoảng 1,4% tổng diện tích tự nhiên toàn quốc, trong đó

có 87.800 ha là các đụn cát, đồi cát lớn di động. Trong gần 40 năm qua, sự di

chuyển của các đụn cát đã làm cho quá trình hoang mạc hoá càng diễn ra

nghiêm trọng hơn. Mỗi năm có khoảng 10-20 ha đất canh tác bị cát lấn, dẫn

đến độ phì nhiêu của đất bị suy giảm mạnh.

* Thiếu nước ngọt và nhiễm bẩn nước ngọt ngày càng trầm trọng

Tình trạng ô nhiễm nước do nước thải sinh hoạt và nước thải công

nghiệp đã trở thành vấn đề quan trọng tại nhiều thành phố, thị xã, đặc biệt là

tại các thành phố lớn như TP.Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Hà Nội và tại các khu

công nghiệp. Ô nhiễm nước do hoạt động nông nghiệp cũng là vấn đề nghiêm

trọng tại nhiều miền thôn quê, đặc biệt tại châu thổ sông Hồng và sông Cửu

Long. Hiện tượng nhiễm mặn hay chua hóa do quá trình tự nhiên và do hoạt

động của con người đang là vấn đề nghiêm trọng ở vùng châu thổ sông Cửu

Long. Ở một số vùng ven biển, nguồn nước ngầm đã bị nhiễm bẩn do thấm

mặn hoặc thấm chua phèn trong quá trình thăm dò hoặc khai thác. Nhiễm bẩn

vi sinh vật và kim loại nặng đã xẩy ra ở một số nơi, chủ yếu do nhiễm bẩn từ

trên mặt đất, như các hố chôn lấp rác.

Tỷ lệ dân số sử dụng nước sạch hiện nay là khoảng 50%, trong đó đô

thị chiếm 70% và nông thôn chỉ 30%. Từ nay cho đến năm 2040, tổng nhu

cầu nước ở Việt Nam có thể chưa vượt quá 50% tổng nguồn nước, song vì có

sự khác biệt lớn về nguồn nước tại các vùng khác nhau, vào các mùa khác

nhau và do nạn ô nhiễm gia tăng, nếu không có chính sách đúng đắn thì nhiều

nơi sẽ bị thiếu nước trầm trọng.

* Nạn ô nhiễm ngày càng khó giải quyết

Đô thị hóa và công nghiệp hóa ở nước ta phát triển khá nhanh trong hơn

10 năm qua, gây áp lực lớn đối với khai thác đất đai, tài nguyên thiên nhiên,

nhất là rừng và nước. Nhiều diện tích nông nghiệp đã chuyển thành đất đô thị,

15

đất công nghiệp, đất giao thông… ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống người

nông dân và an toàn lương thực quốc gia. Đô thị hóa, công nghiệp hóa trong

khi hạ tầng cơ sở kỹ thuật và xã hội yếu kém, làm nảy sinh nhiều vấn đề môi

trường bức bách như thiếu nước sạch, thiếu dịch vụ xã hội, thiếu nhà ở, úng

ngập, tắc nghẽn giao thông, ô nhiễm không khí, tiếng ồn, ô nhiễm nước và chất

thải rắn. Tỷ lệ số người bị các bệnh do ô nhiễm môi trường ngày càng tăng,

như các bệnh đường hô hấp, đường tiêu hóa, các bệnh dị ứng và ung thư …

Môi trường nông thôn bị ô nhiễm do các điều kiện vệ sinh và cơ sở hạ

tầng yếu kém. Việc sử dụng không hợp lý các loại hóa chất nông nghiệp cũng

đã và đang làm cho môi trường nông thôn bị ô nhiễm và suy thoái.. Hiện nay,

Việt Nam có khoảng 1.450 làng nghề truyền thống, trong đó 800 làng tập

trung ở vùng đồng bằng sông Hồng, đã và đang làm chất lượng môi trường

khu vực ngày càng suy giảm.

Nước sinh hoạt và vệ sinh môi trường ở các vùng nông thôn là vấn đề

cấp bách. Điều kiện vệ sinh môi trường nông thôn vẫn chưa được cải thiên

đáng kểm tỷ lệ số hộ có hố xí hợp vệ sinh chỉ đạt 28-30% và số hộ ở nông

thôn được dùng nước hợp vệ sinh là 30-40% .

2.3. Những nghiên cứu về nhận thức người dân về các vấn đề môi trường

ở các địa phương của Việt Nam

2.3.1. Nhận thức của người dân về Luật BVMT

Kết quả điều tra của nhóm Nâng cao nhận thức cộng đồng (chương

trình SEMLA - Bộ Tài nguyên và Môi trường) tại 3 tỉnh Hà Giang, Nghệ An,

Bà Rịa - Vũng Tàu cho thấy, nhìn chung cán bộ công chức của 3 tỉnh đều có

hiểu biết chính sách pháp luật đất đai và môi trường. Sự hiểu biết của họ chủ

yếu là do bản thân chủ động nghiên cứu và nghe trên phương tiện truyền

thông đại chúng. Song sự tiếp cân cũng như hiểu về Luật Đất đai và Bảo vệ

môi trường ở những mức độ khác nhau.

16

Đa số cán bộ trong cơ quan Nhà nước hiểu biết về chính sách pháp luật

đất đai nhiều hơn và sâu hơn, còn Luật Bảo vệ môi trường thì các cán bộ viên

chức chỉ hiểu biết ở tầm khái quát chung. Song khi đi vào chi tiết nhiều người

còn chưa nắm bắt được. Ví dụ như việc phỏng vấn câu hỏi trách nhiệm lập

báo cáo đánh giá tác động môi trường là trách nhiệm thuộc về ai? Tại Hà

Giang có tới 80% trả lời là trách nhiệm thuộc cơ quan nhà nước, Nghệ An có

54,9% và Bà Rịa -Vũng Tàu có 53,19% có cùng câu trả lời. Trong khi đó

nhiệm vụ này là của chủ dự án! Nhận thức về chính sách, pháp luật đất đai và

môi trường của cộng đồng dân cư đô thị của 3 tỉnh có cao hơn cộng đồng dân

cư nông thôn nhưng cũng chỉ “mạnh” về đất đai, còn mảng môi trường nhiều

người hoặc chưa biết, hoặc trả lời sai ở một số câu hỏi. Ví như, việc khắc

phục ô nhiễm theo nhiều người thì trách nhiệm thuộc về cơ quan quản lý nhà

nước, song trên thực tế trách nhiệm này thuộc về người gây ô nhiễm. Tuy

nhiên, ô nhiễm môi trường hiện vẫn là vấn đề được nhiều người quan tâm bởi

có tới 96,15% dân cư tại Hà Giang; 81,82% dân cư tại Nghệ An; 97,98% tại

Bà Rịa-Vũng Tàu. Từ đó ta thấy cần thiết phải tham khảo ý kiến người dân

trong đánh giá tác động môi trường và việc tham khảo này nên tổ chức họp

dân là phù hợp nhất.

2.3.2. Nhận thức của người dân tại TPHCM về tác hại của biến đổi khí hậu

Nhóm nghiên cứu đã thực hiện khảo sát, điều tra xã hội học 400 doanh

nghiệp (DN) trong và ngoài KCN; 501 người dân (201 mẫu với CBCNVC, 300

mẫu ở người dân trong đó có 175 phụ nữ); 300 học sinh (tiểu học, THCS, THPT).

Theo đó, một số kết quả đáng chú ý là có đến 28,9% (trong 201 mẫu khảo sát)

CBCNVC cho biết đã có nghe về BĐKH nhưng chưa hiểu gì về việc này và 3,5%

không quan tâm đến BĐKH vì còn nhiều việc trước mắt trong đời sống phải lo,

BĐKH là việc của cơ quan Nhà nước, BĐKH còn lâu lắm mới xảy ra…

Trả lời câu hỏi về những hành động sẽ làm nhằm giảm thiểu tác động

của BĐKH có 86,2% cán bộ công nhân viên chức biết việc tiết kiệm điện,

nước là có lợi (giảm chi phí, có lợi cho môi trường, duy trì sự phát triển bền

17

vững…) 93,3% ý kiến tán đồng việc khuyến khích sử dụng các nguồn năng

lượng sạch (điện mặt trời, biogas, biomas…); 70% ý kiến cho biết thường

chọn mặc quần áo thoáng mát, tận dụng tối đa gió ngoài trời, chỉ sử dụng máy

lạnh khi thật sự cần thiết (có thói quen chỉnh máy lạnh trên 26 độ C), có chậu

cây xanh trang trí trong phòng làm việc…

TS Lê Văn Khoa cho biết nhìn chung, các đối tượng người dân đều có

sự quan tâm, hiểu biết căn bản về BĐKH. Tuy nhiên, việc hiểu đúng và có

hành động phù hợp để ứng phó với BĐKH vẫn còn hạn chế[7].

2.3.3. Nhận thức của người dân về việc phân loại, thu gom, xử lý rác thải

Nhóm tác giả khoa Xã Hội Học Trường Đại học Bình Dương đã thưc

hiện đề tài “Tìm hiểu về nhận thức, thái độ và hành vi của người dân về ô

nhiễm môi trường trong việc phân loại, thu gom và xử lý rác thải sinh hoạt tại

phương Phú Thọ, Thị xã Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương”. Theo đó kết quả

đạt được là: Mọi người dân đều có hiểu biết về tầm quan trọng của môi

trường trong cuộc sống của mình và đồng ý với việc bảo vệ môi trường bằng

cách không vứt rác thải bừa bãi và có những thái độ, hành vi nhất định để

ngăn chặn hay hạn chế hành vi gây mất vệ sinh môi trường của người khác.

Xu hướng chung là đều cảm thấy khó chịu, có nhắc nhở hoặc tự lại nhặt và

cho vào thùng rác. Người dân càng có trình độ học vấn cao thì mức độ quan

tâm, hiểu biết về vấn đề môi trường càng nhiều[10].

Bảng 2.1: Số hộ dân phân loại rác thải sinh hoạt hàng ngày

trước khi xử lý (N = 49)

TT

N

Tỷ lệ (%)

Số hộ phân loại rác thải sinh hoạt

1 2 3 4 5

Có Không Khó trả lời Tổng Số người không trả lời Tổng

22 24 2 48 1 49

44,9 49,0 4,1 98,0 2,0 100,0

(Nguồn: Kết quả khảo sát của nhóm tác giả)

18

Việc phân loại rác sinh hoạt của người dân tại địa bàn phường chưa

đồng bộ, vẫn còn mang tính tự phát và không triệt để.

Ý thức tự giác trong việc bảo vệ môi trường thông qua việc phân loại

rác của nhiều người dân chưa cao.Nhiều hộ gia đình chưa thực sự quan tâm

đến vấn đề phân loại rác thải sinh hoạt của gia đình mình. Điều này sẽ gây

nhiều khó khăn cho bộ phận thu gom khi phải thu gom với một lượng rác thải

lớn như khó tách ra và khó sử dụng rác có thể tái chế.

Quá trình xử lý rác thải sinh hoạt của người dân và chính quyền địa

phương bao gồm các giai đoạn: Phân loại, thu gom và xử lý.

Bảng 2.2: Đánh giá tầm quan trọng của việc phân loại rác thải sinh hoạt chia

theo giới tính (N= 49)

Giới tính Tổng

Đánh giá việc Nam Nữ STT phân loại rác N %

N % N %

1 Rất quan trọng 11 42,3 23 46,9 12 52,2

2 Quan trọng 9 39,1 13 50,0 22 44,9

3 Không quan trọng 0 0 2 7,7 2 4,1

4 Khó trả lời 2 8,7 2 4,1

Tổng 23 100,0 26 100,0 49 100,0

(Nguồn: Kết quả khảo sát của nhóm tác giả)

Người dân coi việc xử lý rác là rất quan trọng mặc dù vậy họ chưa thực

sự chú ý đến việc xử lý rác của địa phương, mà họ chỉ quan tâm đến việc làm

cho gia đình mình hết rác còn rác sau khi đem đi bỏ được xử lý như thế nào

thì ít được quan tâm đến.

19

Bảng 2.3: Ý kiến người dân về tầm quan trọng

của việc xử lý rác thải sinh hoạt ( N = 49)

Mức độ

N 26 18 2 2 48 1 STT 1 2 3 4 5 6 Rất quan trọng Quan trọng Không quan trọng Khó trả lời Tổng Số người không trả lời Tỷ lệ (%) 53,1 36,7 4,1 4,1 98,0 2,0

49 Tổng 100,0

(Nguồn: Kết quả khảo sát của nhóm tác giả)

2.3.4. Nhận thức của người dân về vệ sinh môi trường

* Theo kết quả của Hoàng Thái Sơn, trường Đại học Y dược Thái

Nguyên với luận văn thạc sĩ học “Thực trạng, kiến thức, thái độ, thực hành về

vệ sinh môi trường của người dân huyện Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên”[8].

Trong số 400 người được phỏng vấn thì có 76,6% người dân kể tên được

một nguồn nước sạch. 33,2% số người kể được từ hai bệnh trở lên có nguyên

nhân do sử dụng nguồn nước không sạch gây ra. Người dân có thái độ tích cực

đối với việc sử dụng nước sạch, có 98% số người được hỏi cho rằng cần có

nguồn nước vệ sinh. Số hộ không có nguồn nước sạch thấp (17,6%), số hộ

không thực hiện các việc làm thiết thực để bảo vệ nguồn nước rất cao (54,3%).

Bảng 2.4: Kiến thức, thái độ thực hành

của người dân về nguồn nước sạch

Tốt Trung bình Kém KAP về STT nguồn nước n % n % n %

1 Kiến thức 47 11,3 101 24,3 267 64,3

2 Thái độ 159 38,3 245 59 11 2,7

3 Thực hành 90 21,7 205 49,4 120 28,9

(Nguồn: Kết quả khảo sát của nhóm tác giả)

20

Qua bảng trên ta thấy kiến thức, thái độ, thực hành của người dân về

nguồn nước còn rất thấp, tỷ lệ số người có kiến thức tốt mới đạt 11,3%, thái

độ tốt chiếm tỷ lệ khá hơn 38,3% và thực hành tốt mới chỉ chiếm 21,7%.

Bảng 2.5: Kiến thức, thái độ, thực hành của người dân về vệ sinh môi trường

Tốt Trung bình Kém KAP về vệ sinh STT môi trường n % n % n %

1 Kiến thức 14 3,4 212 51,1 189 45,5

2 Thái độ 143 34,5 259 62,4 13 3,1

3 95 22,9 Thực hành 52 12,5 268 64,6

(Nguồn: Kết quả khảo sát của nhóm tác giả)

Kiến thức tổng hợp chung về vệ sinh môi trường của người dân còn rất

thấp, mới đạt 3,4%. Kết quả về thái độ tốt và thực hành tốt về vệ sinh môi

trường cũng còn rất thấp.

Một số yếu tố liên quan đến thực hành về vệ sinh môi trường của người

dân là: Kinh tế hộ gia đình, trình độ học vấn, kiến thức, thái độ của người dân

và sự quan tâm của xã hội đối với vấn đề vệ sinh môi trường.

* Tại Xã Thiện Thuật, huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn đã triển khai

nhiều hoạt động thiết thực, tạo sự chuyển biến căn bản trong công tác vệ sinh

môi trường ở nông thôn nhằm nâng cao nhận thức của người dân đối với công

tác vệ sinh môi trường (VSMT).

Trước đây do tập quán sinh hoạt, điều kiện canh tác, chăn nuôi, người

dân trong xã Thiện Thuật (huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn) chưa nhận thức

đầy đủ về ý nghĩa của công tác VSMT nông thôn đối với sức khỏe cộng đồng.

Là xã vùng ba với 71% gia đình thuộc hộ nghèo, kinh tế của người dân còn

gặp nhiều khó khăn, việc nuôi nhốt gia súc trong gầm sàn trở thành tập tục

không dễ thay đổi. Nhiều nơi người dân vẫn làm chuồng gia súc ngay trước

21

cửa nhà, không sử dụng công trình vệ sinh trong sinh hoạt hàng ngày, điều đó

làm ảnh hưởng lớn đến sự trong lành của môi trường sống.

Để cải thiện môi trường sống của người dân, xã đã chú trọng tuyên

truyền nâng cao nhận thức cho nhân dân về công tác VSMT ở nông thôn.

Theo đó, thông qua các buổi họp thôn, các ngành, đoàn thể đã lồng ghép quán

triệt, phổ biến về ý thức ăn, ở hợp vệ sinh, gìn giữ môi trường xung quanh.

Tại mỗi buổi sinh hoạt, tập huấn, các hộ dân được trang bị kiến thức về kỹ

thuật xây dựng công trình nhà vệ sinh, hố xử lý chất thải chuồng trại gia súc

và một số kiến thức về nước sạch, VSMT nông thôn liên quan đến sức khỏe

cộng đồng, thu hút hàng trăm hộ dân tham gia. Bên cạnh đó, Trạm y tế xã

cũng thường xuyên tổ chức truyền thông lồng ghép tại các thôn để phổ biến

kiến thức về VSMT làng, xã, vệ sinh cá nhân, công tác quản lý, vận hành và

xử lý các công trình cấp nước. Có thể nói, từ chỗ đẩy mạnh công tác truyền

thông đã góp phần nâng cao nhận thức, ý thức của người dân và hình thành

những hành động tốt đẹp, thân thiện với môi trường sống.

22

Phần 3

ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Sự hiểu biết của người dân về môi trường.

- Phạm vi nghiên cứu: Xã Hồng Tiến, thị xã Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên

3.2. Địa điểm và thời gian nghiên cứu

Địa điểm: tại Xã Hồng Tiến, thị xã Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên

Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 6/2018 đến tháng 10/2018.

3.3. Nội dung nghiên cứu

- Khái quát về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của xã Hồng Tiến

+ Điều kiện tự nhiên của xã Hồng Tiến

+ Điều kiện kinh tế xã hội của xã Hồng Tiến

- Hiện trạng môi trường tại xã Hồng Tiến

+ Hiện trạng sử dụng nước sinh hoạt

+ Tình hình xả nước thải trong xã

+ Vấn đề về rác thải trong xã

+Tình hình sử dụng nhà vệ sinh trong xã

- Tìm hiểu sự hiểu biết của người dân về môi trường

+ Nhận thức của người dân về môi trường xung quanh.

+ Nhận thức của người dân về Luật Môi trường của Việt Nam và các

văn bản liên quan.

+ Nhận thức của người dân về việc phân loại, thu gom và xử lý rác thải

sinh hoạt.

+ Ý thức của người dân về bảo vệ môi trường .

- Đánh giá chung và đề xuất các giải pháp nâng cao nhận thức của

người dân về môi trường

23

3.4. Phương pháp nghiên cứu

3.4.1. Phương pháp thu thập tài liệu, số liệu thứ cấp

- Việc thu thập và phân tích tài liệu liên quan đến vấn đề nghiên cứu là

rất quan trọng nhằm nhận biết vấn đề một cách nhanh chóng và tổng quát.

Những tài liệu này là cơ sở ban đầu định hướng cho kế hoạch và triển khai

các mục tiêu nghiên cứu.

- Thông tin thứ cấp có thể được thu thập từ:

+ Mạng internet, sách, báo...về vấn đề môi trường

+ Tài liệu từ các phòng thuộc UBND thị xã Phổ Yên

3.4.2. Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp

Sử dụng phương pháp điều tra phỏng vấn theo bộ câu hỏi.

- Lập bộ câu hỏi phỏng vấn

- Đối tượng phỏng vấn: Người dân và cán bộ quản lý môi trường trên địa

bàn xã

- Quá trình phỏng vấn: Phát phiếu điều tra, phỏng vấn trực tiếp kết hợp

với khảo sát thực điạ.

- Số lượng hộ câu hỏi điều tra : 70 hộ

- Chọn hộ phỏng vấn: Điều tra ngẫu nhiên các hộ trong xóm của xã (Xã

Hồn Tiến có 15 xóm), ở mọi lứa tuổi, công việc…

3.4.3. Phương pháp tổng hợp, xử lý số liệu

- Sử dụng phương pháp phân tích thống kê để tổng hợp lại tất cả các số liệu

đã thu thập được và lập các bảng biểu, sơ đồ.

- Từ các số liệu đã có tổng hợp lại và viết báo cáo

24

Phần 4

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

4.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của xã Hồng Tiến

4.1.1. Điều kiện tự nhiên của xã Hồng Tiến

- Xã Hồng tiến có diện tích 17,65 km², dân số năm 2018 là 11314 người,

mật độ dân số đạt 615 người/km². Xã Hồng Tiến nằm ở phía Nam tỉnh Thái

Nguyên, được chia thành 15 thôn và có dân tộc ở đây chủ yếu là người kinh.

Xã Hồng Tiến cách trung tâm tỉnh Thái Nguyên 20km về phía Bắc.

Hồng Tiến có hình dạng địa lí đặc biệt và có hình chữ V ngược do việc

thành lập thị trấn Bãi Bông. Tính theo chiều kim đồng hồ từ phía bắc, xã lần

lượt giáp với xã Lương Sơn (TPTN); ba xã Thượng Đình, Điềm Thụy và Nga

My (Phú Bình); xã Đồng Tiến, thị trấn Bãi Bông, thị trấn Ba Hàng, xã Đồng

Tiến (lần 2), xã Đắc Sơn (Phổ Yên); ba phường Phố Cò, Cải Đan và Bách

Quang (TX Sông Công)[13].

- Xã Hồng Tiến có đặc điểm địa hình đồi núi với độ cao trung bình so

với mực nước biển khoảng 120m. Xã Hồng Tiến nằm tại cực bắc khu vực

phía đông của thị xã Phổ Yên có các tuyến quốc lộ 3 chạy theo ranh giới phía

tây, ngoài ra còn có tuyến đường liên huyện Phú Bình và thị xã Phổ Yên cùng

tuyến đường nối thành phố Sông Công chạy qua. Tuyến đường sắt Hà Nội –

Quan Triều cũng chạy qua địa bàn xã.

Xã nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa nên mang đặc điểm

chung của khí hậu toàn vùng. Mựa mưa từ tháng 5 đến tháng 10, mùa khô từ

tháng 11 đến tháng 4 năm sau. Trên địa bàn xã, có hệ thống kênh mương dày

đặc cung cấp nước tưới tiêu, đây là điều kiện thuận lợi cho việc cung cấp

nước sản xuất, nước sinh hoạt.

4.1.2. Điều kiện kinh tế - xã hội của xã Hồng Tiến

Thực trạng kinh tế và xã hội xã Hồng Tiến:

25

- Cơ cấu kinh tế nông thôn; Nông nghiệp chiếm 37%, công nghiệp -

tiểu thủ công nghiệp 35%, thương mai - dịch vụ 28%.

- Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân của xã 2015 là 20,2%.

- Thu nhập bình quân 66,9 triệu đồng/người/năm.

- Tỷ lệ hộ nghèo chiếm 3% (tính đến 2015)

Tổng số lao động trong độ tuổi là 7675 người, chiếm 68% tổng số nhân

khẩu, trong đó lao động nông nghiệp là 3126 người chiếm 41%; lao động

thương mại dịch vụ, CN-TTCN là 4549 người, chiếm 59%; Lao động đã qua

đào tạo là 2931 lao động, chiếm 39%; lao động chưa qua đào tạo là 4744 lao

động, chiếm 61%. Đại học 6%, Cao đẳng và Trung cấp 21 %, sơ cấp hoặc tập

huấn 30%, còn lại lao động chưa qua đào tạo chiếm 43%.

Số hộ khá, hộ giàu tăng mạnh, số nghèo giảm xuống còn 3% (tính

đến 2015).

- Hệ thống trường lớp không ngừng được củng cố và phát triển, nâng

cao khả năng thu hút trẻ em trong độ tuổi đến trường, tính đến năm học 2017–

2018, trên địa bàn xã có 08 trường, gồm 4 trường mầm non, 03 trường tiểu

học và 01 trường trung học cơ sở

- Hiện tại xã có 01 nhà văn hoá trung tâm và 15 điểm văn hoá tại 15/15

thôn, cơ bản nhà văn hoá thôn đã được xây dựng theo kết cấu tường xây đổ

trần, trang thiết bị đã tương đối đầy đủ

- Xã có một trạm y tế, xây cấp IV, số giường bệnh 12, đội ngũ cán bộ,

nhân viên gồm: Y sỹ 02 người, Y tá hộ lý 02 người, dược sỹ 01 người và 10

cán bộ y tế thôn bản; trang thiết bị và dụng cụ y tế đáp ứng đủ nhu cầu khám,

chữa bệnh ở cấp cơ sở[14].

4.2. Hiện trạng môi trường tại xã Hồng Tiến

Thông tin chung theo điều tra năm 2018 xã Hồng Tiến có tỷ lệ hộ sử

dụng nước sinh hoạt hợp vệ sinh 97%. Tỷ lệ hộ có đủ 3 công trình hợp vệ sinh

(nhà tắm, bể nước, nhà vệ xinh) đạt chuẩn 95%. Tỷ lệ hộ có cơ sở chăn nuôi

26

hợp vệ sinh 85%. Tỷ lệ hộ sử dụng nước sinh hoạt hợp vệ sinh đạt 97,7%; số

hộ gia đình có nhà tiêu hợp vệ sinh, đạt 94,7%.

Về xử lý chất thải: Có 15/15 thôn đã có điểm thu gom, xử lý rác thải,

xã đã có nghĩa trang (19,02ha) được đầu tư xây dựng đảm bảo môi trường và

có quy chế quản lý.

Dưới đây là kết quả điều tra về hiện trạng môi trường của xã Hồng

Tiến, thị xã Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên.

4.2.1. Thông tin về đối tượng điều tra

Như đã nêu ở trên, đề tài nghiên cứu về nhận thức của người dân xã Vạn

Hòa về một số vấn đề môi trường. Theo phương pháp điều tra ngẫu nhiên,

em tiến hành điều tra tìm hiểu nhận thức của 70 hộ gia đình tại 10 xóm

gồm: Mãn Chiêm, Giếng, Yên Mễ, Ấm, Chùa, Liên Minh, Hắng, Diện,

Đông Sinh, Hiệp Đồng.

Bảng 4.1: Giới tính của người tham gia phỏng vấn

TT Giới tính Số lượng Tỷ lệ (%)

1 Nam 53 75,7

2 Nữ 17 24,3

Tổng 70 100,0

(Nguồn: Tổng hợp số liệu từ phiếu điều tra)

Số liệu trong các bảng dưới đây là đặc điểm của mẫu nghiên cứu trong

đề tài mà em đã thu thập được.

Theo kết quả của bảng 4.1 ta thấy rằng tỷ lệ giới tính của 70 người

tham gia phỏng vấn có sự chênh lệch. Nam giới chiếm 75,7% và nữ giới

chiếm 24,3%.

27

Bảng 4.2: Trình độ học vấn của người tham gia phỏng vấn

STT Trình độ học vấn Số lượng Tỷ lệ (%)

1 Biết đọc, biết viết 15 21,4

2 Tiểu học 19 27,1

3 Trung học cơ sở 14 20

4 Trung học phổ thông 10 14,2

5 Trung cấp/ cao đẳng 8 11,6

6 Đại học/ trên đại học 4 5,7

Tổng 70 100,0

(Nguồn: Tổng hợp số liệu từ phiếu điều tra)

Qua bảng 4.2 ta thấy rằng số lượng người dân có trình độ học vấn của

người dân ở khu vực nghiên cứu còn khá thấp từ Trung học trở lên chiếm đa

số (51,5%); thêm nữa số người dân được phỏng vấn đa số đều ở trong độ tuổi

lao động, có đủ năng lực để gánh vác trách nhiệm trong gia đình và có trình

độ hiểu biết nhất định về các lĩnh vực trong cuộc sống.

Bảng 4.3: Nghề nghiệp của người tham gia phỏng vấn

Nghề nghiệp Số lượng Tỷ lệ %

TT Nông nghiệp 42,8 30

1 Buôn bán, dịch vụ 35,9 25

2 Nghề tự do 10 7

3 Học sinh, sinh viên 1,4 1

4 Cán bộ, công viên chức nhà nước 4,2 3

5 Về hưu, già yếu, không làm việc 5,7 4

Tổng 70 100,0

(Nguồn: Tổng hợp số liệu từ phiếu điều tra)

Qua bảng 4.3 cho thấy người dân trên địa bàn xã nói chung và người

dân trong khu vực nghiên cứu có các nghề nghiệp khác nhau sao cho phù hợp

28

với hoàn cảnh của từng hộ gia đình. Nhưng hầu hết các hộ gia đình trên địa

bàn xã chủ yếu là sản xuất nông nghiệp (chiếm 48,5% ) nên các nghề buôn

bán tự do, công chức nhà nước chiếm tỷ lệ thấp (Nghề buôn bán, dịch vụ

chiếm 35,9 nghề cán bộ, công viên chức nhà nước chiếm 4,2%).

4.2.2. Kết quả điều tra về sử dụng nước sinh hoạt tại địa phương

Bảng 4.4: Các hình thức cung cấp nước cho ăn uống

và sinh hoạt tại địa phương

STT Nguồn nước sinh hoạt Số lượng Tỉ lệ ( %)

1 Nước máy 39 55,7

2 Giếng khoan 24 34,3

3 Giếng đào 7 10

4 Nguồn khác (ao, sông, suối) 0 0,0

Tổng 70 100,0

(Nguồn: Tổng hợp số liệu từ phiếu điều tra)

Qua bảng 4.4 cho thấy nước sinh hoạt là nước máy có 55,7 %; ở xóm

Giếng chủ yếu dùng nước giếng khoan và nước giếng đào, giếng đào độ sâu

từ 5 - 7m ( 47,2 %).

Bảng 4.5 Đánh giá chất lượng nước dùng cho sinh hoạt tại địa phương

TT Số hộ Tỷ lệ (%) Vấn đề nguồn nước sử dụng

Không có Có mùi Có vị

1 2 3 4 Màu sắc Tổng 59 6 3 2 70 84,3 8,6 4,2 2,9 100

(Nguồn: Tổng hợp số liệu từ phiếu điều tra)

Theo nhận xét của người dân được phỏng vấn thì chất lượng nguồn

nước sinh hoạt nhìn chung là tốt. Qua phỏng vấn điều tra, số hộ gia đình trả

lời về nước sinh hoạt không có mùi chiếm 84,3%, số còn lại cụ thể là 8,6%

29

nước có mùi, 4,2% có vị và màu sắc khác thường là 2,9%. Nguyên nhân do

các ao, hồ tù bị ô nhiễm do sự thiếu ý thức của người dân, đổ rác không đúng

nơi quy định hay xả nước thải của gia đình mình ra đó.

Hầu hết nước sử dụng cho sinh hoạt của các hộ gia đình đều sử dụng

máy lọc nước.

4.2.3. Tình hình xả nước thải tại địa phương

Nước thải là chất lỏng được thải ra sau quá trình sử dụng của con người

và đã bị thay đổi tính chất ban đầu của chúng. Đây là một trong các nguồn

gây ô nhiễm nguồn nước.

Nước thải từ các hộ gia đình chứa đựng các chất thải trong quá trình

sinh hoạt của họ có đặc điểm chứa nhiều chất hữu cơ dễ phân huỷ sinh học

(cacbonhydrat, protein, mỡ), chất dinh dưỡng đối với sinh vật (Nitơ, photphat,

vi khuẩn có mùi khó chịu (H2S, NH3…). Đặc trưng của nước thải sinh hoạt

thường chứa nhiều tạp chất khác nhau (chứa chất hữu cơ, chất vô cơ, vi sinh

vật). Trong đó vi sinh vật trong nước thải thường ở dạng vi khuẩn gây bệnh

(tả, lỵ, thương hàn…).

Việc dẫn nước thải đến nguồn tiếp nhận cũng là yếu tố có thể gây ô nhiễm

môi trường.Thực trạng đó được thể hiện qua bảng sau.

Bảng 4.6: Kết quả điều tra về việc sử dụng loại cống thải

STT Loại cống thải Số hộ gia đình Tỷ lệ %

1 Cống thải có nắp đậy 36 51,4

2 Cống thải lộ thiên 18 25,8

3 Không có cống thải 9 12,8

4 Loại khác 7 10

Tổng 70 100,0

(Nguồn: Tổng hợp số liệu từ phiếu điều tra)

30

Qua bảng 4.6 cho thấy, số hộ sử dụng cống thải có nắp đậy chiếm

51,4%. Các hộ gia đình sử dụng cống thải lộ thiên chiếm 25,8%, vẫn còn một

số gia đình chưa có cống thải nước. Sở dĩ có kết quả trên trong nhưng năm

vừa qua, xã Hồng Tiến đã phấn đấu hoàn thành các tiêu chí nông thôn mới,

trong đó đã hoàn thành cơ bản tiêu chí 17 về môi trường.

Bảng 4.7: Kết quả điều tra về hoạt động xả nước thải

TT Nguồn thải Số lượng Tỷ lệ (%)

1 Cống thải chung 60 85,7

2 Thải vào ao hồ…. 0 0,0

3 Bể chứa 5 7,2

4 Ngấm xuống đất 3 4,3

5 Nơi khác 2 2,8

Tổng 70 100,0

(Nguồn: Tổng hợp số liệu từ phiếu điều tra)

Xã Hồng Tiến đã có hệ thống thu gom nước thải chung cho toàn xã,

nước thải của các hộ gia đình chủ yếu thải vào kênh thoát nước chung của

xã (85,7%). Số hộ gia đình sử dụng các bể chứa nước thải sinh hoạt là

7,2%. Số gia đình xả trực tiếp xuống đất cho tự ngấm chỉ còn 4,3% tổng số

hộ được hỏi.

4.2.4. Nhận thức về vấn đề rác thải tại địa phương

* Lượng rác thải được tạo ra ở các hộ gia đình tại xã trung bình một

ngày không nhiều, chủ yếu là thức ăn thừa, rác bụi, túi nilon, tro bếp và các

loại khác…ước tính chỉ 0,8kg rác/ngày/người. Nếu tính trên toàn xã, với số

dân 11314 người thì đây là một lượng rác khá lớn.

* Khi hỏi người dân về các loại chất thải sinh hoạt của gia đình có được

tái sử dụng không (ví dụ như thức ăn thừa có được đem đi ủ và làm phân bón

hoặc thức ăn cho gia súc, gia cầm không?....), thì có đến 67/70 phiếu (chiếm

31

95,7%) người dân nói rằng chất thải của gia đình họ có được tái sử dụng, đa

số là người dân sống trên địa bàn xã, là các hộ chăn nuôi và sản xuất nông

nghiệp. Nên tất cả chất thải như các chất thải từ sinh hoạt như rau, thực phẩm

thừa…loại này được bà con tái dùng làm thức ăn chăn nuôi, chất độn chuồng

hoặc từ hoạt động nông nghiệp như rơm, rạ, tro…được người dân dùng làm

chất đốt nấu cơm và làm phân bón, còn các loại giấy, nhựa, chai lọ thì được

tái sử dụng vào việc khác hoặc bán cho người thu mua. Chỉ một số ít hộ gia

đình không tái sử dụng các chất thải, số này chỉ có 3/70 phiếu (chiếm 4,2%)

hộ gia đình. Các hình thức đổ rác của người dân trên địa bàn xã được mô tả

qua bảng:

Bảng 4.8. Tỷ lệ hộ gia đình có các hình thức đổ rác

STT Hình thức đổ rác Số lượng Tỉ lệ (%)

1 Hố rác riêng 11 15,7

2 Đổ rác ở bãi rác chung 0 0,0

3 Đổ rác tuỳ nơi 0 0

4 Được thu gom rác theo hợp đồng 59 84,3

Tổng 70 100,0

Qua bảng 4.8 ta thấy: Hầu hết rác thải sinh hoạt của hộ gia đình đều được

(Nguồn: Tổng hợp số liệu từ phiếu điều tra)

thu gom theo hợp đồng dịch vụ (84,3%) và đổ đúng nơi quy định. Xã không

làm bãi tập kết rác, hố rác chung vì nếu để tập trung rác sẽ gây ảnh hưởng đến

cảnh quan và ô nhiễm môi trường xung quanh. Rác phát sinh ra đến đâu được

thu gom đưa đi xử lý đến đó.

4.2.5. Kiểu nhà vệ sinh của người dân sử dụng trong xã

Vấn đề giữ gìn vệ sinh môi trường có ý nghĩa hết sức quan trọng bởi vì

đó là một trong những nguyên nhân ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình phát

sinh dịch bệnh cũng như tác động tới sức khỏe của con người. Giữ gìn vệ sinh

32

có thể hiểu là khơi thông cống rãnh, diệt trừ loang quăng, diệt muỗi, diệt côn

trùng gây bệnh hay xây dựng các công trình vệ sinh… Hiện nay trên địa bàn

xã tỷ lệ hộ gia đình sử dụng các công trình vệ sinh đạt tiêu chuẩn được thể

hiện qua bảng 4.9.

Bảng 4.9: Kiểu nhà vệ sinh trên địa bàn xã Hồng Tiến

STT Kiểu nhà vệ sinh Số hộ gia đình Tỷ lệ %

Không có 1 0 0,0

Nhà vệ sinh hai ngăn 2 2 2,8

Nhà vệ sinh đất 3 0 0,0

Nhà vệ sinh tự hoại 4 68 97,2

Loại khác 5 0 0,0

Tổng 70 100,0

((Nguồn: Tổng hợp số liệu từ phiếu điều tra)

Qua bảng 4.9 cho thấy tỷ lệ kiểu nhà vệ sinh đạt 97,2%, đó là số hộ gia

đình sử dụng nhà vệ sinh tự hoại. Tuy nhiên vẫn còn 2,8% số hộ sử dung nhà

vệ sinh hai ngăn. v. Như vậy qua điều tra cho thấy công tác vệ sinh môi

trường của xã Hồng Tiến được gười dân thực hiện tốt.

Kết quả điều tra phỏng vấn về nguồn tiếp nhận nước thải nhà vệ sinh

được thể hiện ở bảng 4.10.

Bảng 4.10 thể hiện các nguồn tiếp nhận nước thải từ nhà vệ sinh ta thấy

tỷ lệ hộ gia đình thải nước thải vệ sinh ra sông suối, ao làng và ngấm xuống

đất không có. Hầu hết nguồn thải từ nước nhà vệ sinh đều được xử lý bằng

bể phốt tự hoại, sau đó xả vào cống chung của xã. Tuy nhiên khi quan sát

thực tế chúng tôi thấy, nước từ cá bể tự hoại từ các gia đình vần còn màu

vàng, có mùi hôi. Dạng nước này cần thu gom và xử lý tiếp mới đảm bảo

vệ sinh môi trường.

33

Bảng 4.10: Các nguồn tiếp nhận nước thải từ nhà vệ sinh

Số hộ gia STT Nguồn tiếp nhận Tỷ lệ % đình

1 Cống thải chung 3 3,8

2 Ngấm xuống đất 0 0

3 Ao làng 0 0,0

4 Bể tự hoại 67 96,2

5 Nơi khác (sông, suối) 0 0

Tổng 70 100,0

(Nguồn: Tổng hợp số liệu từ phiếu điều tra)

4.3. Kết quả điều tra về sự hiểu biết và hành động của người dân xã Hồng

Tiến về môi trường

Điều tra việc nhận thức và thái độ của người dân trong việc bảo vệ môi

trường là một việc hết sức phức tạp đòi hỏi người làm điều tra phải khách

quan và có những hiểu biết căn bản về môi trường và các vấn đề của nó. Nhận

thức là vấn đề khó đo lường, vì vậy rất khó đưa ra thước đo chính xác. Do đó,

nghiên cứu sẽ đánh giá một cách tương đối ở từng đối tượng dựa vào các tiêu

chí như: Sự quan tâm đến các vấn đề môi trường qua các phương tiện truyền

thông đại chúng, hiệu quả của việc tổ chức và tham gia các hoạt động về môi

trường trong cuộc sống, thái độ của mọi người với các hành vi gây ô nhiễm

môi trường được phân theo trình độ học vấn, nghề nghiệp, giới tính, ý thức

bảo vệ môi trường trong sinh hoạt hàng ngày, đánh giá nhận thức môi trường

của những người xung quanh, đánh giá của cộng đồng về nguyên nhân gây ô

nhiễm môi trường hiện nay. Tương ứng với các tiêu chí, tôi tiến hành phân

tích đánh giá mức độ nhận thức và thái độ của các đối tượng được nghiên

cứu, so sánh để tìm ra nguyên nhân và giải pháp.

34

4.3.1. Hiểu biết của người dân về các khái niệm môi trường

Môi trường là ngành bao gồm rất nhiều khía cạnh, nhiều khái niệm liên

quan. Tuy nhiên, các khái niệm chung như Môi trường là gì? Thế nào là nước

sạch? Rác vô cơ, hữu cơ là gì? Ô nhiễm môi trường là gì?.....Là các khái niệm

thường xuyên gặp trong cuộc sống, thường được nhắc đến trên các phương

tiện thông tin đại chúng. Tuy là đơn giản nhưng tùy từng đối tượng mà có các

nhận thức khác nhau và tỷ lệ biết cũng khác nhau tùy theo trình độ học vấn

khác nhau. Tôi tiến hành điều tra người dân và có kết quả sau

Bảng 4.11: Nhận thức của người dân về các khái niệm liên quan đến môi

trường

STT

Nội dung hỏi

Trả lời đúng Số người 31

Tỷ lệ (%) 44,2

Trả lời sai Số người 0

Tỷ lệ (%) 0,0

Không biết Tỷ lệ Số (%) người 55,8 39

1

26

37,1

0

0,0

44

62,9

2

19

27,1

0

0,0

51

72,9

3

Khái niệm môi trường là gì? Ô nhiễm môi trường là gì? Thế nào là rác vô cơ và rác hữu cơ?

(Nguồn: Tổng hợp số liệu từ phiếu điều tra)

Theo kết quả điều tra, đa số người dân tham gia đều không hiểu và

không biết về khái niệm Môi trường được quy định tại khoản 1 Điều 3 Luật

BVMT 2014 của nước ta. Bên cạnh đó, số người dân hiểu về môi trường cũng

đưa ra các khái niệm gần đúng, một số người dân còn đưa ra các khái niệm

hết sức mới và đặc biệt: “Môi trường là những cái chúng ta cần hướng đến’’

hoặc “ Môi trường trong sạch tốt cho cuộc sống của con người’’.

Đối với khái niệm “Ô nhiễm môi trường là gì?’’, đây này là khái niệm

đã phản ánh rõ sự phân hóa nhận thức giữa người dân có các trình độ khác

nhau. Cụ thể là, Qua bảng số liệu cho thấy chỉ có chiếm 37,1% hiểu biết về ô

nhiễm môi trường gần đúng và đúng về ONMT, hầu hết đều là người dân có

35

trình độ từ THCS trở lên. Trong đó có 14/31người (chiếm 45,1% ) có trình độ

THCS, 12/31 người (chiếm 38,7%) có trình độ THPT, 5/31 người (chiếm

16,1%) có trình độ đại học/trên đại học.Còn lại 44/70 người (chiếm 62,8% )

chưa có nhận thức về khái niệm này.

Cũng giống như khái niệm ONMT là gì, khái niệm “ Rác vô cơ, hữu cơ

là gì ’ cũng đã làm rõ được nhận thức chưa đầy đủ của người dân, khi mà có

đến 51/70 người (chiếm 72,9%) chưa nêu được thành phần của rác vô cơ và

hữu cơ hoặc nêu chưa đầy đủ. Tuy nhiên, trong quá trình điều tra, khi

được gợi ý, giải thích về khái niệm trên và nêu ra một vài loại rác thải và

yêu cầu phân loại thì đa số người dân có thể phân loại đúng và gần đầy

đủ.Từ đó có thể nói việc tuyên truyền, nâng cao hiểu biết cho người dân

là hết sức quan trọng.

Bảng 4.12: Thành phần của chất thải rắn trong xã

TT Rác thải hữu cơ Rác thải vô cơ

1 Giấy Thủy tinh

2 Giấy catton, bìa cứng Vỏ hộp kim loại

3 Nhựa Nhôm

4 Cành cây, cỏ lá Các kim loại khác

5 Cao su Tro, các chất bẩn

6 Da Đất cát, gạch ngói vỡ

7 Gỗ

8 Thực phẩm

Các khái niệm trên đều là các khái niệm về Môi trường chung nhất, cơ bản

nhất. Tuy nhiên, số người dân hiểu và nhận biết được chưa đầy đủ, còn phân hóa

theo trình độ học vấn rất nhiều. Người dân càng có trình độ cao thì hiểu biết càng

36

chính xác và đầy đủ. Chính quyền địa phương nên có các chương trình giáo dục

tuyên truyền, nâng cao nhận thức cho người dân trên địa bàn xã.

4.3.2. Nhận thức của người dân trong việc tham gia các hoạt động bảo vệ

môi trường

Chúng ta đã biết ô nhiễm môi trường là sự biến đổi của các thành phần

môi trường không phù hợp với tiêu chuẩn môi trường, gây ảnh hưởng xấu đến

con người, sinh vật. Ô nhiễm môi trường do nhiều nguyên nhân gây nên, một

nguyên nhân rất quan trọng đó là ý thức của con người. Con người tác động

vào môi trường, làm biến đổi các tính chất, các quá trình của tự nhiên, do đó

con người phải chịu các tác động mà ô nhiễm môi trường mang lại. Biểu hiện

do ô nhiễm môi trường gây ra như: Hiện tượng mưa axit, màu sắc, mùi vị của

nước sinh hoạt bị biến đổi. Ô nhiễm môi trường cũng gây cho con người các

loại bệnh tật như các bệnh về hô hấp, bệnh đường ruột, bệnh về da…. Tuy

nhiên, trên địa bàn xã Hồng Tiến không phải ai cũng nhận thức được điều đó.

Tôi đã tiến hành tìm hiểu và đưa ra kết quả dưới đây.

Qua bảng 4.14 ta thấy rằng: Người dân trên địa bàn xã Hồng Tiến rất có ý

thức trong việc bảo vệ môi trường. Số người sẵn sàng tham gia các hoạt động về

bảo vệ môi trường chiếm tỷ lệ lớn 71,4%. Tuy nhiên do nhận thức của một số

người dân còn thấp, không quan tâm đến các vấn đề về môi trường.Nên các cấp

chính quyền địa phương thường xuyên tổ chức các hoạt động, phong trào có liên

quan đến công tác môi trường như: dọn dẹp đường làng, ngõ xóm, các chương

trình phòng dịch, trồng cây xanh thì tôi tin những người dân nơi đây sẽ tham gia

rất nhiệt tình, từ đó mà môi trường ngày càng được cải thiện hơn, ý thức của

người dân trong công tác bảo vệ môi trường cũng sẽ được nâng cao.

37

Bảng 4.13: Ý kiến của người dân trong việc tham gia

các hoạt động bảo vệ môi trường

Số hộ gia STT Ý kiến của người dân Tỷ lệ % đình

1 Sẵn sàng tham gia 50 71,4

2 Không tham gia 0 0,0

3 Có thời gian thì tham gia 20 30,8

Tổng 70 100,0

(Nguồn: Tổng hợp số liệu từ phiếu điều tra)

Trong quá trình điều tra, có câu hỏi “ Môi trường bị ô nhiễm có ảnh hưởng

đến cuộc sống của gia đình ông (bà) không?” và “ông bà có cảm nhận được sự

biến đổi của khí hậu trong một vài năm trở lại đây không” thì đa số người dân đều

trả lời là có. Điều đó cho thấy rằng, người dân đã ý thức được sự suy thoái của

môi trường, cũng hình dung ra được những hậu quả của ô nhiễm môi trường

nhưng vẫn chưa có các hành động, biện pháp cụ thể để đề phòng và khắc phục. Vì

vậy mà cần tới sự hướng dẫn, quan tâm của các cấp, ngành có liên quan để công

tác bảo vệ môi trường được thực hiện một cách có hiệu quả.

4.3.3. Nhận thức của người dân trong việc phân loại, thu gom, xử lý rác

thải sinh hoạt

Với một địa phương đang trong quá trình đô thị hóa, dân cư ngày càng

đông, việc phân loại chất thải sinh hoạt trong các hộ gia đình ở xã Hồng Tiến

hiện nay là hết sức cần thiết.

Việc phân loại rác thải sinh hoạt tại nguồn mang lại lợi ích rất lớn giúp

cho việc thu gom dễ hơn, tái sử dụng và tái chế lại những loại rác có thể sử

dụng được. Phân loại rác thải tại nguồn sẽ tiết kiệm được ngân sách trong việc

thu gom, xử lý, giảm diện tích bãi rác đồng thời giảm ô nhiễm môi trường

không khí, môi trường đất và nước ngầm, việc làm phân bón hữu cơ sẽ hiệu

38

quả hơn, tiết kiệm nguồn tài nguyên, chi phí khai thác nhiên liệu. Ngoài ra

phân loại rác tại nguồn giúp cho việc quản lý rác tốt hơn, hạn chế sự ô nhiễm

môi trường do rác thải sinh hoạt, góp phần bảo vệ môi trường sống.

Kết quả khảo sát về thực trạng phân loại rác thải sinh hoạt của người

dân cho thấy, đây là vấn đề được nhiều người quan tâm, nhưng mức độ quan

tâm trong cộng đồng có khác nhau.

Bảng 4.14 : Đánh giá của người dân về tầm quan trọng của việc phân loại

rác thải sinh hoạt chia theo giới tính

Giới tính

Tổng

Nam

Nữ

STT

Đánh giá việc phân loại rác

Số lượng

Tỷ lệ (%)

1

Rất quan trọng

Số lượng 28

Tỷ lệ (%) 51,3

Số lượng 10

Tỷ lệ (%) 62,5

38

54,2

2

Quan trọng

21

39,5

6

37,5

27

38,5

3

2

3,7

0

0,0

2

2,9

4

Không quan trọng Không biết

3

5,5

0

0,0

3

4,3

Tổng

54

100

16

100

70

100

(Nguồn: Tổng hợp số liệu từ phiếu điều tra)

Qua bảng số liệu cho thấy, nam giới 90,8% cho rằng việc phân loại rác

thải là rất quan trọng và quan trọng, còn lại, nam giới chiếm 9,2% cho rằng

không quan trọng và không biết. Với nữ giới, số lượng cho rằng rất quan

trọng và quan trọng cũng chiếm 100%, không cá nhân nào trả lời là không

biết và không quan trọng

So sánh mức độ quan tâm giữa nam và nữ ta thấy được, đa số cả nam và

nữ đều đánh giá tầm quan trọng của việc phân loại rác thải sinh hoạt là rất quan

trọng và quan trọng. Điều đó cho thấy, nam giới đang ngày càng có xu hướng

quan tâm đến vấn đề môi trường nói chung và việc phân loại rác thải sinh hoạt

của gia đình nói riêng. Tuy có đôi chút khác biệt trong việc đánh giá mức độ

39

quan trọng của việc phân loại rác sinh hoạt giữa nam và nữ nhưng nhìn chung họ

đều đánh giá là rất quan trọng và quan trọng, chỉ một số ít hộ trong những hộ

tham gia trả lời tỏ ra không quan tâm đến vấn đề phân loại mà thôi.

Bảng 4.15: Đánh giá ý thức về thu gom rác theo nhóm các

đối tướng trong xã

Mức độ

STT

Nghề nghiệp

Tổng

SL (%)

Rất tốt

Tốt

1

Nông nghiệp

2

Buôn bán, dịch vụ

SL (%) SL (%)

Chưa tốt 24 48,0 4 50,0

Khó trả lời 17 34,0 3 37,5

50 100 8 100

3 6,0 0 0,0

6 12,0 1 12,5

3

SL

0

1

4

0

3

Nghề tự do

4

(%) SL

0,0 0

25,0 0

100 0

0,0 0

75,0 24

Học sinh, sinh viên

(%)

300,0

200,0

0,0

0,0

48,0

SL

6

1

1

0

58

5 Cán bộ, công viên chức nhà nước

(%)

10,0

0

100

0,0

90

SL

6

6

2

6

42

6 Về hưu, già yếu, không làm việc

(%)

10,0

10,0

100

10,0

70,0

Tổng

SL (%)

30 46,2

25 33,9

70 100,0

5 4,6

10 15,4

(Nguồn: Tổng hợp số liệu từ phiếu điều tra)

Mức độ nhận thức là như vậy nhưng trên thực tế, việc phân loại rác

trong cộng đồng người dân ở xã lại chưa được nhiều hộ gia đình áp dụng. Cụ

thể, theo khảo sát đa số hộ dân được phỏng vấn không phân loại rác tại gia

đình là 58/70 chiếm 82,8%. Số còn lại người dân đã biết phân loại thức ăn

thừa để làm phân bón hoặc thức ăn cho gia súc, gia cầm. Nhưng tỉ lệ này

không lớn, chỉ chiếm 17,2% và tập trung vào các hộ gia đình chăn nuôi nhỏ

lẻ. Điều này sẽ gây ảnh hưởng rất lớn đến môi trường với một lượng rác thải

40

lớn được thải ra mà không qua bất kỳ khâu phân loại xử lý nào,gây lãng phí

nguồn rác thải có thể sử dụng để tái chế, nếu nguồn rác thải này được phân

loại thì sẽ tiết kiệm được nguồn nguyên liệu để tái chế. Mặt khác khâu xử lý

cũng gặp nhiều khó khăn.

Việc phân loại rác thải là quan trọng, nhưng việc thu gom và xử lý rác

thải cũng không kém phần quan trọng. Tôi đã tiến hành khảo sát và thu được

các kết quả ở bảng 4.15.

Thực tế cho thấy việc thu gom rác trên địa bàn xã chưa được thực hiện

theo hợp đồng dịch vụ chủ yếu rác được thu gom nhỏ lẻ theo từng hộ gia đình

và chưa được xử lý một cách triệt để. Một số nơi tập trung dân cư đông đúc

như chợ, cổng trường học,… rác thải ở đây chưa được thu gom triệt để.

4.3.4. Hiểu biết của người dân về luật bảo vệ môi trường và các văn bản

khác có liên quan

Việt Nam ban hành luật Bảo vệ Môi trường đầu tiên vào năm 1993.

Tuy nhiên, trong quá trình phát triển cùng với thời gian nước ta đã có những

biến đổi nhanh chóng và mạnh mẽ, vì thế luật BVMT dược điều chỉnh và bổ

sung cho phù hợp. Ngày 23 tháng 6 năm 2014, Luật BVMT 2014 được Quốc

hội khóa XIII thông qua, thay thế cho luật BVMT 2005 và được áp dụng cho

đến hôm nay. Việt Nam cũng ban hành các nghị định quy định tội phạm môi

trường, các hình thức xử phạt cho các loại tội phạm môi trường. Xã Hồng

Tiến chưa có hiện tượng ô nhiễm môi trường nghiêm trọng phải xử phạt,

nhưng tỉ lệ người dân có nhận thức về các văn bản liên quan đến lĩnh vực môi

trường còn hạn chế.

Qua bảng ta thấy được phần lớn người dân trên địa bàn xã Hồng Tiến

có hiểu biết về Luật Môi trường của Việt Nam. Tỉ lệ người dân biết chiếm

53,9%, phần lớn là người là cán bộ, công chức nhà nước . Còn lại là 46,2%

người dân không biết và không trả lời nội dung này. Điều này cho thấy Luật

BVMT rất quan trọng với đời sống của người dân cả nước, số bộ phận người

41

dân chưa hiểu biết về Luật Môi Trường cũng chiếm một bộ phận lớn.Đa số

người dân làm nghề sản xuất nông nghiệp, một bộ phận nhỏ học sinh, sinh

viên là chưa biết về vấn đề này.

Bảng 4.16: Hiểu biết của người dân về luật môi trường theo các nhóm đối

tượng trong xã

Mức độ

STT

Nghề nghiệp

Tổng

1

Nông nghiệp

2

Buôn bán, dịch vụ

Số lượng (%) SL % SL %

Không biết 25 46,0 4 50,0

Biết 29 54,0 4 50,0

54 100,0 8 100,0

3

Nghề tự do

4

Học sinh, sinh viên

SL % SL % SL

2 66,7 0 0,0 2

1 33,3 0 0,0 0

3 100,0 0 0,0 2

5

Cán bộ, công viên chức nhà nước

% SL

100,0 2

0,0 1

100,0 3

6

Về hưu, già yếu, không làm việc

% SL

66,7 40

33,3 30

100,0 70

Tổng

100,0

57,1

%

42,9 (Nguồn: Tổng hợp số liệu từ phiếu điều tra)

Khi hỏi về thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính về BVMT của Chủ

tịch UBND xã, Chủ tịch UBND huyện, và trách nhiệm trong việc giải quyết

đơn thư khiếu nại tố cáo của các cơ quan chức năng, đa số người dân được hỏi

đều trả lời là không biết, đó là minh chứng rõ ràng cho việc nhận thức còn hạn

chế của người dân xã.

4.3.5. Những hoạt động của người dân về công tác bảo vệ môi trường sống,

công tác tuyên truyền của xã Hồng Tiến

Hoạt động tuyên truyền giáo dục cộng đồng trong mọi lĩnh vực luôn là

việc làm hết sức quan trọng để nâng cao nhận thức của người dân.Có nhiều

cách thức tuyên truyền khác nhau và mỗi địa phương áp dụng các phương

42

pháp khác nhau tùy thuộc vào hoàn cảnh của địa phương mình. Với riêng xã

Hồng Tiến, là xã nằm xa trung tâm thành phố nên người dân nhận thức chưa

sâu sắc về công tác quản lý môi trường, chủ yếu người dân chỉ biết công tác

quản lý môi trường qua dịch vụ thu gom rác tại các hộ gia đình. Khi phỏng

vấn người dân ở đây, đa số người dân nhận xét là địa phương hoặc các khu

dân cư, các xóm đã có tổ chức các hoạt động VSMT như phát cỏ ven đường,

phun thuốc diệt muỗi, khơi thông cống rãnh tuy nhiên không thường xuyên.

Hầu hết các hộ gia đình ở xã đều nhận được thông tin về VSMT.Và

đa số nguồn thông tin này người dân tiếp nhận qua bạn bè, đài, tivi. Trong

đó nữ giới đa phần tiếp nhận thông tin từ bạn bè xung quanh và đài phát

thanh, Tivi (chiếm 62,6%). còn đối với nam giới ngoài việc tìm hiểu qua

nguồn thông tin đại chúng họ còn chiếm đa số trong việc tìm hiểu qua

chính quyền địa phương.

Bảng 4.17: Nguồn cung cấp thông tin về MT và bảo vệ môi trường

Giới tính

Tổng

Nữ

SL

%

Nguồn tìm hiểu các chương trình bảo vệ môi trường

Nam SL %

SL

%

5

9,2

2

12,5

7

10

9

16,7

5

31,3

14

20,1

7 19

13,0 35,1

2 5

12,5 31,3

9 24

12,8 34,2

10

18,5

1

6,3

11

15,7

Các phong trào tuyên truyền cổ động Bạn bè, những người xung quanh Sách, báo chí Đài, tivi Đài phát thanh địa phương

Chính quyền cơ sở Tổng

4 54

7,5 100,0

1 16

6,3 100,0

5 70

7,2 100,0

(Nguồn: Tổng hợp số liệu từ phiếu điều tra)

Điều đó cho thấy đặc trưng chung của xã hội Việt Nam mặc dù đã có

sự thay đổi theo chiều hướng hiện nay là nam và nữ đều tham gia vào các

công việc ngoài xã hội nên có nhiều cơ hội và nguồn để tìm hiểu thông tin về

43

môi trường. Nhưng người nam vẫn còn mang vai trò là trụ cột trong gia đình,

thường xuyên tham gia các hoạt động xã hội và là người hay tham gia các

cuộc họp dân của xã nên nguồn tiếp nhận thông tin nhiều hơn. Nữ giới hiện

nay, mặc dù đã tham gia vào hoạt động kinh tế gia đình và cũng tham gia vào

trong các hoạt động xã hội nhưng đó chỉ chiếm một tỷ lệ nhất định, còn lại đa

số là đảm nhận công việc nội trợ, chăm sóc gia đình nên nguồn thông tin

chính vẫn là từ thông tin đại chúng.

Đa số người dân không biết đài phát thanh, truyền hình của thành phố có

chuyên mục riêng về môi trường hay không. Họ còn nhận xét rằng rất lâu xã mới

tổ chức một buổi truyền thông về VSMT, với loa phát thanh. Điều này cho thấy xã

đã quan tâm đến các vấn đề môi trường nhưng chưa nhiều, dẫn đến tình trạng

người dân có rất ít kiến thức về môi trường nói chung và VSMT nói riêng.

Hưởng ứng ngày Nước Thế giới, phòng chống dich bệnh, vệ sinh môi

trường, hưởng ứng chương trình “Giờ Trái Đất” các cơ quan đơn vị của thành

phố nói chung và xã Hồng Tiến nói riêng đều tham gia tích cực các hoạt động

như: tuyên truyền, pháy tờ rơi cho người dân, trực tiếp phun thuốc diệt bệnh

cho những hộ chăn nuôi trên địa bàn huyện và xã. Những hoạt động này được

tổ chức khoảng 2 lần/năm.

Địa phương cũng lồng ghép các nội dung BVMT và nhắc nhở người

dân có ý thức BVMT vào các cuộc họp của các khu phố, chứ chưa tổ chức

được buổi tập huấn hay tuyên truyền riêng đến người dân do thiếu nguồn

năng lực, thiếu các cán bộ có chuyên môn.

Đánh giá các nhận xét trên, tôi thấy cơ quan quản lý có thẩm quyền

chưa thực sự quan tâm và có việc làm cụ thể trong việc truyền tải thông tin,

tuyên truyền nâng cao nhận thức cho người dân xã, vì vậy mà nhận thức của

người dân về môi trường còn nhiều hạn chế. Môi trường luôn là đề tài nóng

bỏng trong những năm gần đây, ô nhiễm môi trường không phải của riêng ai

44

nên càng cần phải nâng cao nhận thức cho người dân hơn nữa để họ tích cực

tham gia BVMT.

4.4 Đánh giá chung và đề xuất giải pháp nâng cao nhận thức của người

dân về môi trường tại xã Hồng Tiến

4.4.1.Đánh giá chung

Nhìn chung trong vài năm gần đây nền kinh tế của xã Hồng Tiến tăng

cao do địa phương có những chính sách phát triển kinh tế hợp lý, chuyển dịch

cơ cấu ngành nghề phù hợp, người dân chăm lo sản xuất buôn bán hướng tới

thị trường hàng hóa, ngành công nghiệp và nghề phụ từng bước phát triển.

Địa phương chăm lo cho phát triển kinh tế mà ít quan tâm đến vấn đề môi

trường, nên môi trường ở đây đang từng bước bị ô nhiễm.

Nguồn nước sinh hoạt mà các hộ sử dụng trên địa bàn xã Hồng Tiến

chủ yếu là nước máy, một phần là nước giếng khoan và giếng đào. Về nguồn

nước thải của các hộ sau quá trình sử dụng thường được thải ra mương rãnh,

ao, hoặc ngấm xuống đất, hệ thống cống thải chung của toàn xã.

Rác thải của xã chủ yếu là nguồn rác từ sinh hoạt, từ các hoạt động sản

xuất nông nghiệp, dịch vụ…lượng rác trung bình thải ra của mỗi hộ không

nhiều và được thu gom theo hợp đồng dịch vụ là chủ yếu. Xã không có bãi tập

kết rác riêng, toàn bộ rác được thu gom đưa về bãi rác Đồng Hầm của thị xã

Phổ Yên để tiến hành xử lý.

Đánh giá về nhận thức của người dân trên địa bàn xã về các vấn đề môi

trường, mọi người dân đều có hiểu biết về tầm quan trọng của môi trường

trong cuộc sống của mình, ô nhiễm môi trường cũng là vấn đề cần được ưu

tiên giải quyết.

Người dân càng có trình độ học vấn cao thì mức độ quan tâm, hiểu biết

về vấn đề môi trường càng nhiều.

Nhận thức của người dân về các khái niệm môi trường và các biểu hiện

của Ô nhiễm môi trường nhìn chung còn hạn chế và chưa đầy đủ. Tùy từng

45

ngành nghề khác nhau, trình độ học vấn khác nhau mà có sự nhận thức khác

nhau, tuy nhiên nếu người dân có trình độ học vấn từ THPT trở lên và làm

cán bộ công chức nhà nước sẽ có cái nhìn về môi trường chi tiết hơn là những

đối tượng còn lại.

Phần lớn các hộ tham gia trả lời đều cho biết việc tìm hiểu các thông tin

về môi trường là qua phương tiện truyền thông và bạn bè. Việc tiếp nhận

thông tin về môi trường có khác nhau là do chức năng, vai trò mà họ đảm

nhận trong gia đình và ngoài xã hội.

Nhìn chung sự đánh giá của người trả lời về việc phân loại rác là rất

quan trọng và quan trọng. Cả nam và nữ đều đánh giá tầm quan trọng của việc

phân loại rác thải sinh hoạt là quan trọng và rất quan trọng.Việc phân loại rác

sinh hoạt của người dân tại địa bàn xã chưa đồng bộ, vẫn còn mang tính tự

phát và không triệt để.

Có một bộ phận nhỏ các hộ dân tự xử lý rác bằng cách chôn hoặc đốt rác

trong các khu đất trống hoặc sau vườn của gia đình họ.

Chính quyền địa phương, các cơ quan chức năng đã có quan tâm và chú

trọng đến vấn đề môi trường bằng nhiều hình thức trong đó có việc tổ chức

các chương trình để vận động sự tham gia của người dân như: Tổ chức kêu

gọi người dân dọn vệ sinh đường làng ngõ xóm, tổ chức trồng cây xanh nơi

công cộng, hay tổ chức các buổi họp dân để người dân phản ánh về tình trạng

môi trường tại địa bàn xã.

Việc tổ chức các chương trình chỉ ở mức độ có tổ chức cho người dân

biết về các thông tin môi trường thông qua việc lồng ghép vào trong các buổi

họp dân, và lượng thời gian dành để bàn về vấn đề môi trường rất ít trong các

cuộc họp ở dân nên người dân khó nắm bắt được hết các thông tin và có thể

phản ánh được những bức xúc về tình trạng môi trường.

Tình hình quản lý môi trường cũng chưa được chính quyền địa phương

quan tâm đúng mức.

46

Nhận thức của người dân chưa cao, sự hiểu biết, nắm bắt về luật pháp,

các thông tư, nghị định còn hạn chế.

Qua công tác điều tra thực tế và phỏng vấn người dân trên địa bàn xã

Hồng Tiến, nhận thấy xã Hồng Tiến đã thực hiện rất tốt và đạt tất cả nội dung

trong tiêu chí 17 về môi trường trong xây dựng nông thôn mới

4.4.2. Đề xuất giải pháp nâng cao nhận thức của người dân về môi trường

tại xã Hồng Tiến

Từ những kết quả thu thập được và các đánh giá nêu trên, chúng tôi

mạnh dạn đưa ra các đề xuất sau đây để nâng cao nhận thức của người dân về

môi trường như sau:

- Đề xuất với cơ quan cấp trên nên có hoạt động quan trắc môi trường

khu vực xã để có kết luận chính xác về hiện trạng môi trường nơi đây để có

các giải pháp cụ thể ngăn ngừa ONMT và các tác động của ONMT đến cuộc

sống của người dân.

- Xây dựng khu dân cư tự quản BVMT, trong đó có thành lập các tổ tự

quản BVMT để thường xuyên kiểm tra ý thức của người dân về BVMT và

thường xuyên tổ chức họp tiểu khu để lắng nghe ý kiến của người dân về các

vấn đề môi trường.

- Địa phương nên Đầu tư thùng rác ở những nơi tập trung đông dân cư

như các khu chợ, các cơ quan nhà nước… Nếu trang bị được thùng rác để

phân loại rác thải vô cơ và hữu cơ thì càng tốt.

- Địa phương nên tổ chức nhiều hơn các hoạt động vệ sinh môi trường

của khu phố như dọn dẹp hành lang, phun thuốc diệt muỗi, phát quang cỏ ven

đường….Tập hợp người dân trong xã tham gia đầy đủ và nhiệt tình.

- Đẩy mạnh công tác giáo dục tuyên truyền về BVMT, muốn dần dần

xóa bỏ được tập quán, thói quen không hợp vệ sinh của người dân cần có thời

gian, từ chỗ tuyên truyền giáo dục cho mọi người dân, giáo dục cho mọi lứa

tuổi từ trẻ em khi mới lớn, cho học sinh từ khi cắp sách đến trường, cung cấp

47

những kiến thức khoa học từ đó biến thành ý thức, thái độ trong nếp sống và

trở thành những hành động tự giác. Trong tuyên truyền giáo dục phải đi vào

những vấn đề thực tế, với nội dung thật cụ thể và dễ hiểu .

- Quy hoạch và xây dựng một số điểm tập kết rác trên địa bàn xã, thực

hiện thu gom rác đúng quy định.

- Thành lập đội thu gom rác theo dịch vụ của từng thôn, tránh việc vứt

rác bừa bãi gây ô nhiễm môi trường.

48

Phần 5

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

5.1. Kết luận

Qua điều tra tìm hiểu về môi trường và nhận thức vê môi trường của

người dân xã Xã Hồng Tiến, thị xã Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên, chúng tôi có

một số kết luận như sau:

- Nhận thức của người dân về thu gom nước thải tốt, có tới 70,8% số hộ

xả nước thải của gia đình vào cống mương thoát nước chung của xã.

- Ý thức vệ sinh môi trường công cộng tốt cụ thể 97 % rác thải sinh

hoạt của hộ gia đình được thu gom theo hợp đồng dịch vụ để xử lý tập trung

và 95% hộ gia đình của xã có nhà tiêu hợp vệ sinh có bể tự hoại;

- Công tác tuyên truyền và giáo dục vệ sinh môi trường trên địa bàn xã

chưa được chú trọng. Các nguồn thông tin về VSMT mà người dân tiếp nhận

chủ yếu từ đài phát thanh địa phương, bạn bè xung quanh, tivi ( chiếm 70,8%

56/70 hộ.

- Nhận thức và hiểu biết về môi trường và luật môi trường chủ yếu tập

trung vào nhóm đối tượng cán bộ viên chức nhà nước và giáo viên, học sinh

phổ thông trung học

- Ý thức tham gia các hoạt động bảo vệ môi trường của người dân cao

(92%). Mọi người dân đều ý thức được việc thu gom rác thải, xử lý rác thải,

nước thải là quan trọng và rất quan trọng.

5.2. Kiến nghị

- Xã Hồng Tiến nên xây dựng thêm các hố chứa rác, chứa nước thải tập

trung và có mô hình xử lý nước thải, đầu tư thùng rác ở nơi tập trung đông dân cư.

- Tăng cường triển khai thực hiện chiến dịch hành động vì môi trường, kết

hợp cùng với đoàn thanh niên tại các thôn bằng cách mở các cuộc phun thuốc diệt

muỗi, ruồi, bọ miễn phí cho nhân dân, vệ sinh đường làng ngõ xóm…

49

- Mở các buổi sinh hoạt khu phố để tuyên truyền, giáo dục vệ sinh môi

trường cho người dân.

- Đưa nội dung bảo vệ môi trường vào thành nhóm tiêu chí để bình xét

gia đình văn hóa.

- Có quy định xử phạt nghiêm những trường hợp gây tác động xấu đến

môi trường và phải khắc phục, bồi thường thệt hại theo đúng quy định.

50

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Bộ Y tế (2011), Thông tư 27/2011/TT-BYT về việc ban hành QCVN

01:2011/BYT Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia về nhà tiêu – điều kiện đảm

bảo hợp vệ sinh.

2. Bộ y tế (2006), Thông tư 27/2011/TT-BYT về việc ban hành QCVN

01:2011/BYT Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về nhà tiêu - điều kiện đảm

bảo hợp vệ sinh, NXB Lao động - xã hội - Hà Nội

3. Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn (2018), Thống kê chính thức.

4. Cục bảo vệ môi trường (2010), Chiến lược bảo vệ môi trường quốc gia năm

2010-2020.

5. Lương Văn Hinh, Dư ngọc Thành, Nguyễn Thanh Hải, Đỗ Thị Lan (2016),

Giáo trình Ô nhiễm môi trường, NXB Giáo dục.

6. Lê Văn Khoa (2000), sách “Khoa học môi trường”, Nhà Xuất Bản Giáo Dục.

7. Lê Văn Khoa và nhóm cộng sự ở Sở Tài Nguyên – Môi Trường

TPHCM, (2011), đề tài nghiên cứu, khảo sát “Nhận thức của người dân

tại TPHCM về tác hại của biến đổi khí hậu – BDKH”.

8. Hoàng Thái Sơn, trường Đại học Y dược Thái Nguyên, luận văn thạc sĩ học

“Thực trạng, kiến thức, thái độ, thực hành về vệ sinh môi trường của

người dân huyện Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên”.

9. Chu Bích Thu, Nguyễn Ngọc Trâm, Nguyễn Thị Thanh Nga, Nguyễn Thúy

Khanh,TS Phạm Hùng Việt, “Từ điển Tiếng Việt Phổ Thông”, Viện Ngôn

ngữ học, NXB Tp.HCM, 2010.

10. Trường Đại học Bình Dương (2009), đề tài “Tìm hiểu về nhận thức, thái

độ và hành vi của người dân về ô nhiễm môi trường trong việc phân loại,

thu gom và xử lý rác thải sinh hoạt tại phương Phú Thọ, Thị xã Thủ Dầu

Một, tỉnh Bình Dương”.

51

11. Quốc hội nước CHXHCNVN (2015), Luật BVMT, NXB Tư pháp.

12. Võ Quý, “Một số vấn đề về Môi trường toàn cầu”, Đại học Quốc gia

Hà Nội, 2011.

13. UBND Thị xã Phổ Yên (2018), Thông tin chung về thị xã Phổ Yên

http://thainguyen.gov.vn

14. UBND xã Hồng Tiến (2017), “Báo cáo đánh giá chất lượng hoạt động

công tác Đảng năm 2017”

15. UBND xã Hồng Tiến (2018), “Báo cáo tổng kết công tác Đảng bộ

năm 2017 phương hướng nhiệm vụ năm 2018”.

PHỤ LỤC 1

PHIẾU ĐIỀU TRA

TÌM HIỂU SỰ HIỂU BIẾT CỦA NGƯỜI DÂN VỀ MÔI TRƯỜNG

Người phỏng vấn: Quách Văn Luân

Lớp 47_MT, Khoa Môi Trườn, trường ĐH Nông Lâm Thái Nguyên

Thời gian phỏng vấn: Ngày ... tháng ... năm ... 2018

Kính thưa ông/bà, nhằm phục vụ cho việc học tập và nghiên cứu khoa

học của sinh viên, hiện nay, tôi đang tiến hành tìm hiểu một số vấn đề liên

quan đến môi trường ở khu vực xã Hồng Tiến. Tôi kính mời ông bà tham gia

vào việc nghiên cứu bằng cách trả lời các câu hỏi mà chúng tôi đưa ra. Những

thông tin thu thập chỉ phục vụ cho mục đích nghiên cứu khoa học và việc lựa

chọn gia đình ông/bà phỏng vấn là hoàn toàn ngẫu nhiên. Sự tham gia của

ông/bà vào việc khảo sát sẽ giúp tôi trong việc học tập và nghiên cứu thành

công !

Rất mong nhận được sự nhiệt tình hợp tác của ông/bà.

Xin chân thành cảm ơn !

Xin ông/bà vui lòng cho biết các thông tin về những vấn đề dưới đây

(hãy trả lời hoặc đánh dấu X vào câu trả lời phù hợp với ý kiến của

ông/bà)

Phần 1. THÔNG TIN CHUNG VỀ NGƯỜI ĐƯỢC PHỎNG VẤN

1. Họ và tên: ..................................................... Tuổi :..............................

2. Địa chỉ: thôn, xóm..................., xã Hồng Tiến, thị xã Phổ Yên, tỉnh Thái

Nguyên

3. Số điện thoại liên lạc: .................................

4. Giới tính:

1. Nam

2. Nữ

5. Trình độ học vấn

1. Mù chữ

2. Biết đọc, biết viết

3. Tiểu học

4. Trung học cơ sở

5. Trung học phổ thông

6. Trung cấp, cao đẳng

7. Đại học hoặc trên đại học

6. Nghề nghiệp

1. Nông nghiệp

2. Buôn bán

3. Cán bộ, viên chức nhà nước

4. Học sinh, sinh viên

5. Về hưu/già yếu không làm việc

6. Nghề tự do

7. Nghề khác

7. Số nhân khẩu trong gia đình: .....................người

8. Số người hiện đang lao động (có thu nhập): .......................người

Phần 2: NỘI DUNG PHỎNG VẤN

2.1. Hiện trạng môi trường tại xã Hồng Tiến

(1) Vấn đề sử dụng nước sinh hoạt tại địa phương

1. Hiện nay, nguồn nước ông/bà đang sử dụng là ?

Nước máy Giếng khoan ở độ sâu...........m

Giếng đào sâu.....m Nguồn nước khác (ao, hồ, suối...)

2.Nếu là giếng đào hay giếng khoan thì giếng cách nhà tiêu, chuồng trại

bao nhiêu mét ?

.............................................................................................................................

3. Nguồn nước sử dụng cho sinh hoạt có được lọc qua thiết bị hay hệ

thống lọc nào không?

Không Có, theo phương pháp nào?.........................

4. Nguồn nước gia đình hiện đang sử dụng cho ăn uống có vấn đề về ?

Không

Mùi.............. Vị................. Màu sắc..................

5. Trữ lượng nước có đủ để đáp ứng cho nhu cầu sử dụng của gia đình

không?

Đủ vào mùa mưa, thiếu vào mùa khô

Không

(2) Vấn đề nước thải tại địa phương

6. Gia đình ông/bà hiện có

Cống thải có nắp đậy(ngầm) Cống thải lộ thiên

Không có cống thải Loại khác................

7. Nước thải sinh hoạt của gia đình được thải đi đâu( nguồn tiếp nhận

nước thải)

Cống thải chung Bể chứa

Ngấm xuống đất Bể tự hoại

Ao, suối Nơi khác

(3) Vấn đề rác thải tại địa phương

8. Trong gia đình ông/bà, lượng rác thải được tạo ra trung bình 1 ngày

ước tính khoảng:

<5 kg 5 – 10 kg 10 – 20 kg >20kg

Trong đó:

Từ sinh hoạt (rau, thực phẩm....).........%

Hoạt động nông nghiệp.......................%

Dịch vụ................................................%

9. Tỷ lệ các thành phần rác thải như thế nào?

- Rác hữu cơ:.........................................................

- Nilon: ..................................................................

- Đất đá: ................................................................

- Rác thái khác: .....................................................

10. Loại chất thải nào được tái sử dụng? nếu có thì lượng tái sử dụng là

bao nhiêu và như thế nào ?

Loại chất thải Cách tái sử dụng (ví dụ làm phân bón hay chất

đốt)

Không có ...............................................................................

Chất hữu cơ ...............................................................................

Giấy ...............................................................................

Nhựa nilông ...............................................................................

Chai lọ ...............................................................................

Các loại khác ...............................................................................

...............................................................................

11. Gia đình ông/bà hiện có:

Hố rác riêng Đổ rác tuỳ nơi

Đổ rác ở bãi rác chung Được thu gom rác theo hợp đồng, dich vụ

Đơn vị nào thu gom: .......................................................................

12. Hàng tháng gia đình có phải nộp tiền thu gom rác ?

Có Không

Số tiền nộp: .....................................VNĐ

13. Ông/bà có tiến hành phân loại từng rác thải riêng biệt trước khi vứt

bỏ ra ngoài không?

Có Không

14. Ông bà thấy hệ thống quản lý và thu gom rác tại xã như hiện nay

đang ở mức độ nào ?

Rất tốt Tốt

Chưa tốt Khó trả lời

15. Ông/bà có nhận xét gì về việc quản lý rác thải hiện nay không?

.............................................................................................................................

(4) Vấn đề vệ sinh môi trường

16. Kiểu nhà vệ sinh ông/bà đang sử dụng là:

Không có Nhà vệ sinh tự hoại Hố xí hai ngăn

Hố xí đất Cầu tõm, bờ ao Khác................

17. Nước thải từ nhà vệ sinh được thải vào

Cống thải chung Ao làng Bể tự hoại

Ngấm xuống đất Nơi khác

(5) Sức khoẻ và môi trường

18. Ở địa phương đã xảy ra sự cố nào về môi trường chưa ?

Chưa Có, là gì........................... Không biết

19. Trong gia đình ông/bà, loại bệnh tật nào thường xuyên xảy ra ?bao

nhiêu người trong năm ?

Bệnh đường ruột Bệnh hô hấp

Bệnh ngoài da Bệnh khác......................

20. Gia đình ông/bà có thói quen đi khám bệnh định kỳ không? Nếu có

thì bao nhiêu lần trong năm?

Không Có, bình quân là..............lần/năm

21. Ông/bà cảm thấy hiện trạng môi trường ở địa phương như thế nào ?

Rất tốt Tốt Bình thường

Ô nhiễm Rất ô nhiễm

22. Ông/bà có ý kiến, kiến nghị và đề xuất nào về vấn đề môi trường ở địa

phương mình không?

.............................................................................................................................

.............................................................................................................................

.............................................................................................................................

2.2.Hiểu biết của người dân về môi trường

(1) Các khái niệm cơ bản về môi trường.

23. Ông/bà hiểu thế nào là môi trường?

.............................................................................................................................

.............................................................................................................................

24. Ông/bà hiểu thế nào là ô nhiễm môi trường?

.............................................................................................................................

.............................................................................................................................

25. Theo ông/bà, rác vô cơ và rác hữu cơ là gì ?

.............................................................................................................................

.............................................................................................................................

(2) Hiểu biêt của người dân về mức độ ảnh hưởng của ô nhiễm môi trường

đến các hoạt động và sức khỏe của con người.

26. Môi trường bị ô nhiễm có ảnh hưởng đến cuộc sống của gia đình

ông/bà không?

Có Không

27. Theo ông/bà, giả sử xã A gây ô nhiễm môi trường ở xã mình thì có

gây ảnh hưởng tới người dân ở khu vực khác hay không?

Có Không

28. Vài năm trở lại đây, ông/bà có thấy nhiệt độ không khí ngày càng cao

hơn ?

Có Không Không để ý

29. Ông/bà có cảm nhận được sự biến đổi của khí hậu ?

Có Không Không để ý

30. Gia đình ông (bà) đã từng có người bị bệnh do môi trường bị ô nhiễm

(nguồn nước,thức ăn....)

Có Không Không để ý

31. Việc bón phân tươi (chưa qua ủ) ra ruộng có ảnh hưởng xấu đến môi

trường và sức khỏe của con người không?

có không không biết

32. Nước thế nào là sạch ?

Không có màu, mùi, vị Không biết

33. Ông/bà có biết các thông tin về mưa axit ?

Không Có Không biết

(3)Nhận thức của người dân trong việc phân loại, thu gom, xử lý rác thải

sinh hoạt

34. Ông/bà hãy đánh giá tầm quan trọng của việc phân loại rác thải đến

bảo vệ môi trường ?

Rất quan trọng Quan trọng

Không quan trọng Không biết

35. Theo ông/bà có nên phân loại từng rác thải riêng biệt trước khi vứt

bỏ ra ngoài không?

Có Không

36. Nếu như cần phải thực hiện việc phân loại rác ngay từ hộ gia đình thì

ông bà thấy có khó khăn gì ?

.............................................................................................................................

.............................................................................................................................

.............................................................................................................................

.............................................................................................................................

37. Ông/bà có biết đâu là loại chất thải khó phân huỷ và dễ bị phân huỷ ?

Có Không

38. Ông/bà có biết chất thải có đặc tính nguy hại là gì ?ví dụ ?

Không Có, ví dụ.........................................................

(4) Hiểu biết của người dân về luật bảo vệ môi trường và các văn bản khác

có liên quan

39. Ở Việt Nam có luật bảo vệ môi trường không ?

Có Không Không biết

40. Bộ luật hình sự của Việt Nam có quy định về tội phạm môi trường

không ?

Có Không

42. Theo ông/bà chủ tịch UBND xã có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành

chính về bảo vệ môi trường không ?

Có Không Không biết

43. Theo ông/bà trưởng công an xã có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành

chính về bảo vệ môi trường không ?

Có Không Không biết

44. Theo ông/bà ai là người chịu trách nhiệm chính trong việc quản lý rác

thải ?

UBND xã Cán bộ phụ trách nôi trường

Mỗi người dân Các hộ gia đình

Các cơ sở sản xuất kinh doanh Đơn vị thu gom rác

Tất cả các phương án trên Không biết

45. Khi xảy ra tranh chấp về môi trường thì ông bà gửi đơn khiếu nại tơi

cơ quan nào ?

PhòngTN&MT Huyện SởTN&MT

UBND xã Các phương án trên

46.Theo ông/bà nên có những hình thức xử lý như thế nào khi có hành vi

vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường, gây ô nhiễm môi trường ?

Phạt tiền Hình thức khác Không biết

47. Hành vi xả thải thuốc trừ sâu ra ngoài môi trường có bị coi là vi

phạm pháp luật không ?

Có Không Không biết

48. Theo ông bà các cơ sở sản xuất kinh doanh hộ gia đình có phải ký

cam kết bảo vệ môi trường không ?

Có Không Không biết

49. Theo ông/bà việc bảo vệ môi trường là trách nhiệm của ai ?

Của toàn dân Của cán bộ môi trường Nhà nước

UBND các cấp Cơ sở sản xuất kinh doanh Không biết

(5) Những hoạt động của người dân về công tác bảo vệ môi trường sống,

công tác tuyên truyền của xã

50. Gia đình ông/bà có nhận được thông tin về VSMT hay không ?(nếu

có thì bao lâu 1 lần)

Không Có,..................................

51. Ông/bà nhận được thông tin VSMT từ nguồn nào ?

Sách, báo chí Đài, tivi

Từ bạn bè, người xung quanh Đài phát thanh địa phương

Các phong trào cổ động Chính quyền địa phương

52. Địa phương có các chương trình vệ sinh môi trường công cộng không ?

Không Không biết

Có, ví dụ: phun thuốc diêt muỗi....................................

53. Sự tham gia của người dân đối với các chương trình VSMT này ?

Không Bình thường Tích cực

54. Ông/bà có được mời tham gia vào các buổi tuyên truyền pháp luật về

BVMT không ?

Thường xuyên Chưa lần nào Năm một lần

Ở đâu :

.............................................................................................................................

.............................................................................................................................

.............................................................................................................................

55. Ông/bà được tham gia những hoạt động nào về bảo vệ môi trường

chung ?

Có Không

Nội dung tham gia là gì ?

.............................................................................................................................

.............................................................................................................................

.............................................................................................................................

.............................................................................................................................

56. Đài phát thanh truyền hình Thái Nguyên có chuyên mục môi trường

không ?

Có Không Không biết

57. Gia đình ông (bà) có sử dụng các biện pháp bảo vệ môi trường?

 Bể tự hoại

 Biogas

 Lò đun cải tiến

 Xử lý nước thải

 Xử lý chất thải chăn nuôi bằng các biện pháp sinh học

58. Ông/bà có sẵn sàng tham gia các hoạt động bảo vệ môi trường không ?

Sẵn sàng Không tham gia Có thời gian thì tham gia

59. Để môi trường trong lành hơn theo ông/bà cần phải làm gì?

.............................................................................................................................

.............................................................................................................................

Xin chân thành cảm ơn !

Người phỏng vấn Người được phỏng vấn

Quách Văn Luân