intTypePromotion=1
ADSENSE

Tìm hiểu Thăng Long thế kỷ XVII đến thế kỷ XIX thông qua tư liệu nước ngoài: Phần 1

Chia sẻ: Luis Mathew | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:293

24
lượt xem
2
download
 
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Cuốn sách "Tìm hiểu Thăng Long thế kỷ XVII đến thế kỷ XIX thông qua tư liệu nước ngoài" bao gồm một số bài viết, viết về Thăng Long - Hà Nội trong các lĩnh vực chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa vật chất, văn hóa tinh thần... từ thế kỷ 17 đến thế kỷ 19 qua những tư liệu của người nước ngoài viết, suy nghĩ về Thăng Long. Sách được chia thành 2 phần, phần 1 gồm có những nội dung: Tổng quan về Thăng Long - Hà Nội trong bối cảnh Đàng Ngoài và Việt Nam; Thăng Long - Hà Nội nhìn từ đời sống văn hóa vật chất. Mời các bạn cùng tham khảo.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Tìm hiểu Thăng Long thế kỷ XVII đến thế kỷ XIX thông qua tư liệu nước ngoài: Phần 1

  1. CHU XUÂN GIAO (Chủ biên) NGUYỂN t h ị L ư ơ n g THẢNG LONG THẾ KỶ 17 ĐẾN THẾ KỶ 19 qua tư liệu NGƯỜI NƯỚC NGOÀI NHÀXƯÂT BẢN QUÂN ĐỘI NHẢN DÂN Hà Nội ■2010
  2. TổNG LUẬN CHU XUÂN GIAO* LỜI MỞ Các bạn dang có tỉrôn tay một cưôn sách mói vê Hà Nội nhân dịp chào mừng ìmột ngàn năm Thăng Long - Hà Nội. Như nhan đổ. day là một SƯU tập tư liộu bước đẩu viết về Thăng Long - Ke Chợ - Hà Nội của những người nước ngoài dã từng có dịp trực tiếp đcn và sông tại. trực tiếp ghé qua, hay từng được nghe kể một cách chi tiết (từ một vài người Đàng Ngoài, hay ngươi nước ngoài dà từng 00 dịp đến, sông tại, ghé qua) vùng đất này. Nhóm biên soạn chúng tôi dự định sỗ thực hiộn một bộ sách sưu tập với nội dung như vậy tính từ thòi điểm mà tư liệu có thổ cho phép ngược về đến đó (dự kiến có thể ngược về tới the kỷ thứ 3 SCN1) cho tới ngày hôm nay (thạp niên đầu tiôn của thế ký XXI). Tuy nhiôn, những ghi chép kỳ lưỡng kèm theo * Viện Nghiên cứu vàn hỏa, Viện Khoa hoc xả hội. 1. Đó là những ghi chép tuy ngắn gọn nhưng hết sức đặc sắc về các phong tục tập quán ở huyện Mê Linh nói riêng và các quận Girio Chỉ - Nhật Nam - Cửu Chân nói chung vào thế kỷ thứ 3 của Thái thú Giao Chỉ là Tiết Tông (không rõ năm sinh, chỉ biết năm mất là 243 - Xích ô năm thứ 6), trong một lá thư mà vị này gửi vế cho quốc vương của minh là Ngô Tôn Quyền (có thể xem trong Tiốt Tông truyện, Ngô sử, Tam quốc chí). 5
  3. lòi bình luận thú vị từ con mắt của người nưốc ngoài về Thăng Long - Hà Nội xuât hiện với số lượng nhiều và đa dạng chỉ bắt đầu từ th ế kỷ XVII; vì vậy, tập đầu tiên của bộ SƯU tập này sẽ khởi đầu bằng giai đoạn kéo dài hơn hai th ế kỷ, từ đầu thò kỷ XVII đến khoảng giữa th ế kỷ XIX. v ề cơ bản, theo chúng tôi, những tư liệu mang tính phát hiện về Đàng Ngoài và Thăng Long chính là những tư liệu được hoàn thành trong khoảng thời gian này. Những tư liệu sau đó thường sao chép hoặc sử dụng lại tư liệu của giai đoạn này mà không có phát hiện mối, hoặc đi vào những đề tài hẹp hơn mang tính chuyên sâu có khi rất khó đọc với bạn đọc phổ thông. Chúng tôi tạm lấy điểm xuất phát là chương 13 v ề xứ Dàng Ngoài trong một ghi chép mang tiêu đê X ứ Đàng Trong năm 1621 (tiêu đề bản dịch) được thực hiện trên cơ sở quan sát thực tê trong chuyến công du đến Đàng Trong từ năm 1618 đến năm 1622 của giáo sĩ người Ý là Cristophoro Borri, và điểm dừng là cuốn Hải N am tạp trứ (Ghi chóp tản mạn ở biổn Nam) được khắc in lần đầu tiên năm 1837 của tác giả người Đài Loan là Thái Đình Lan (lưu lạc đến Việt Nam năm 1835). Như vậy, điểm dừng của tư liệu SƯU Lầm ở tập này được chúng tôi ngầm định là trước năm 1858 (năm liên quân Pháp - Táy Ban Nha tấn công Đà Nẳng), cũng tức là trước năm 1882 (quân Pháp hạ thành Hà Nội) và năm 1883 (triều đình nhà Nguyễn ký Hòa ước Quý Mùi / Hòa ước Harmand, mà theo dó Việt Nam chính thức trở thành thuộc địa của Pháp). Có thể nói một cách tổng quát rằng, thời gian hớn hai thô kỷ đó, từ khoảng thập niên 1620 đôn trước năm 1858. là thời gian có bôn biên cô lớn lao mang ý nghĩa đặc biệt quan Lrọng trong lịch sử kiến tạo đất nước và văn hóa Việt Nam, quyết dịnh tương lai của đất nước ở giai doạn tiếp theo. Cụ thổ như sau. 6
  4. T hứ nhât, bờ cõi được mở rộng, "từ đèo Cù Mông (Quy Nhờn) ta đã băng đổng vượt núi tiến thẳng một mạch xuống vịnh Xicm La, làm cho cái gia tài của cha ông dựng mấy ngàn năm trước, bỗng chốc tăng lên gấp đôi" (Phạm Đình Khiêm 1960: 38). Thứ hai. tự chủ trong việc tiếp xúc và giao lưu với phương Tây, "mỏ cửa dón nhận một nguồn văn minh khác hẳn với nguổn truyền thông lừ Bắc phương đưa lại, để rồi dần dần thực hiện cuộc tổng hợp và xây dựng thành nền văn hóa riêng biộl và phong phú mà nay ta thừa hưởng" (Phạm Đình Khiỏm 1960: 38). Việc tự chủ của Việt Nam ở giai đoạn này trong giao lưu với phương Tây là một trong những nguyên nhân chính dể chúng tôi lây năm 1858 làm mốc ranh giới (từ dó vổ sau cho đôn năm 1945, sự bị động và yếu th ế trong giao lưu ]à điều đã rõ ràng). T hứ ba, cũng nhờ giao lưu phương Tây, chữ quốc ngử với tính chất là văn tự ký âm (khác chất cơ bản với chữ Hán. và Ưu ihê hơn hẳn chữ Nôm) dã hình thành và đang trôn dường hoàn thiộn. Tất nhiên, chữ quốc ngữ, dể có được bộ mã mang tính quy chuẩn như ngày nay. đã phải trải qua nhiêu lần chinh sửa liên tục của nhiều thê hệ từ sau năm 1858 (đặc biệt là nh ữn ị' (lê nghị sửa dổi vào đầu thê ký XX), nhưng nôn tảng vững chãi của nó đã dạt dược từ thế kỷ XVII vối cuốn từ diên Việt - Bồ - La do giáo sĩ Alexanđre do Rhodes biôn soạn rồi cho xuất bản vào năm 1651 tại Roma (Alcxandre de Rhođes 1651, 1991). T h ứ tư, dã có một sự chuyển dổi quan trọng vê mặt thể chê chính trị tổng thổ: từ hai vương quốc gồm Đàng Trong {Giao Chỉ, Cochinchina) và Đàng Ngoài (An N am , Tonkin), sang một vương quốc thống nhất (Việt N am từ năm 1804, 7
  5. Đại N am từ 1839). Sự chuyển đổi này là kết quả tất yếu của nội chiến giữa các th ế lực (Mạc, Lô - Trịnh, Chúa Nguyễn, Tây Sơn, Nguyễn Ánh) hướng đến việc thông nhất đất nước, kéo dài suốt mấy trăm năm trong môi quan hộ da chiều với nhau và với các th ế lực liên kết ở bên ngoài (Trung Quối\ Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Hà Lan, Anh, Pháp). Phần lớn những ghi chép của người nước ngoài trong giai đoạn này đều ít nhiều phản ánh về nội chiến từ góc quan sát của mỗi người, ở thời điểm họ có mặt tại Việt Nam. Trong hơn hai thế* kỷ, dã có một khôi lượng tư liộu không nhỏ của người nước ngoài viết về Viột Nam nói chung và Thăng Long - Ke Chợ nói riêng, sô" đã được dịch ra ti ông Viột có lẽ mối chỉ chiếm một tỷ lệ khiôm tôn. Chúng tôi vôn có dự định sẽ giới thiệu một sô" tư liệu mới do chính chúng tôi chuyển dịch lần đầu tiên, nhưng do bị hạn chô vổ thời gian chuẩn bị, tự thấy còn nhiều điểm bất cập, nôn tạm gác lại viộc công bô" chúng. Bởi vậy, ở đây, với lần xuất bản đẩu tiôn, chúng tôi chỉ giới hạn công việc trong SƯU tập và trích lục nhửng tư liệu dả được chuyển dịch ra tiếng Việt. Nhan dây, xin bày tỏ sự ngưỡng mộ cũng như lòng biết ơn dôi với tất cả các dịch giả, đặc biệt là những dịch giả có đóng góp dặc biột quan trọng như Nguyễn Khắc Xuyên, Nguyễn Thừa Hý, Vĩnh Sính, Ngồ Đức Thọ, Hoàng Anh Tuấn. Nếu SƯU tầm này của chúng tôi có được bất cứ một ý nghía tham khảo nào dốỉ với độc giả thì là may mắn cho chúng tôi, và điổu dó bát nguồn từ những bản dịch kèm theo những khảo cứu công phu của các dịch giả. Như nhiều độc giả đã biết, gần đây, Nhà xuất bản Văn hóa - Thông tin phôi hợp với Thòi báo Kinh tế Việt Nam xuất bản bộ sách lớn Tổng tập rtghìn năm văn hiến Thăng Long 8
  6. gồm 4 tập (28 phần), ở tập 4, phẩn thứ 28 (phần cuối cùng) có Liêu đề Thăng Long - Hà Nội qua con m ắt người nước ngoài, theo chúng tôi dây là một sưu tập quan trọng, dã bao quát được một khôi lượng tư liộu dáng kể, trong đó có một ít tư liộu mới công bô" lần đầu. Tuy nhiôn, SƯU tập đó và SƯU tập ở dây của chúng tôi có những điếm khác nhau trong cách thức hiên soạn (điểu này, nếu đọc đôi sánh, các bạn có thể dễ dàng nhận ra được). Thêm nữa, vì dã dược xuất bản trước, nên bản thân SƯU tập ây cũng trở thành một tài liộu tham khảo cho SƯU tập của chúng tôi (xin phép trích lục từ đó một vài tư liệu sang SƯU tập của chúng tôi). Chúng tôi mong muôn cung cấp một tập hợp tư liệu, để qua dó, dộc giả có thổ tự có được những bình luận hay phương cách sử dụng tư liệu thích hợp với sở thích hay chuyên môn của Lừng người. Có ý nghĩa như một tống thuật sơ thảo, hay một chỉ dần dơn giản, chúng tôi sỗ trình bày một ơách khái lược về một số gương mặt tiôu biểu viết vổ Thăng Long - Kẻ Chợ và tác phẩm của họ, ở dưới đây. Còn bản thân nội dung / hình ánh Thăng Long - Ke Chợ thế kỷ XVII - XIX qua ghi chép của người nước ngoài (được dưa vào SƯU tập này) thì ch ú n g tôi dành cho sự cảm nhận và tưởng tượng của quý độc giả. NGƯỜI N ư ớ c NGOÀI GHI CHÉP VỂ THĂNG LONG - HÀ NỘI ở THẾ KỶ XVII-XIX: NHỮNG GƯƠNG MẶT TIÊU Biểu VÀ TÁC PHAM c ủ a h ọ Nốu phân theo nghề nghiộp hay công việc thì, những tác giả xuất hiện trong SƯU tập này sẽ gồm có: giáo sĩ, nhà buôn (thương nhân), nhà du Ihành (khám phá thế giới qua những cuộc lữ du nhiều khi mang tính mạo hiểm); trong đó, giáo sĩ 9
  7. và nhà buôn chiếm đa sô". Nhà buôn thì tất cả đều theo đạo, có người theo công giáo, cũng có người theo tin lành (chẳng hạn hai anh em nhà Tavernier làm việc cho công ty Đông Ân Hà Lan). Các giáo sĩ thường theo các thuyền buôn đế đến Việt Nam hoặc từ đó ra đi. Thương nhân người Bồ Đào Nha (Bồ) là người phương Tây đến Việt Nam sớm hơn cả, do từ rất sớm họ đã có dược "(‘ăn cứ địa” ở vùng Đông Ân (East-Indies1) là Ma Cao. Những ghi chép sâm nhất về Thăng Long và Đàng Ngoài chính là do thương nhân người Bồ viết2. Thương nhân ngưòi Ý, Hà Lan, Pháp, Anh,.... đều đến sau người Bồ; sau này, giữa họ có khi là sự hợp tác tương trợ, có khi là sự cạnh tranh (về vị the dối với các chúa, hay về lợi ích kinh doanh). Ma Cao thuộc Bồ Đào Nha đã có mốí quan hộ đặc biệt VỚI Thăng Long - Hà Nội nói riêng và Việt Nam nói chung trong hơn hai thế kỷ này. ó Ma Cao có những trường Dòng của các công ty, sau một thời gian tập sự dài hay ngắn, các giáo sì sẽ nhận quyết định đi tới nơi truyền giáo. Không thấy có trường hợp nào kể lại rằng các giáo sĩ đã từ các cảng phía Nam di thẳng tối, ngay cả về sau này, từ Goa hoặc từ Malacca, mà họ 1. Đông Ân (East-ỉndies) chỉ một vùng rộng lớn từ mũi Hảo Vọng (Nam Phi) sang vùng biển Đông Nam Á và đến phần phía tây của Thái Bình Dương. Tây An (West Indies) thì chỉ khu vực trải dài từ sườn tây lục địa châu Phi sang đến sườn tây lục địa châu Mỹ (chuyển dẫn từ VVilliam Dampier 2007: 6). 2. Theo Charles B. Maybon: "Người Bổ Đào Nha, những người đấu tièn đến vùng biển Ấn Dộ, chảng bao ỉâu đã lưu ý tới bán đảo Đồng Dương Nftm 1511, sau cuộc đánh chiếm Malacca, d Aíbuquerque cử một đoàn sứ thần sang Xiêm. Năm 1516, Fernard Perez, năm 1524, Duarte Coelho và nãm 1535, Antonio Faria do Fernand Mendez Pinto cử đi khảo một số nơi thuộc miền duyên hải Đông Dương, v ể sau có những nhà du hành khác đi thăm bờ biển Chân Lạp, sau thuộc Đàng Trong” (Charles B. Maybon 2006: 122). 10
  8. dã di từ Ma Cao. Những nhà buôn ở Ma Cao noi gương người Hoa và ngưòi Nhật, có thói quen hàng năm đều đặn đến buôn bán với người Đàng Trong, họ đã nhận lên tàu của họ các giáo sì dòng Tôn (Charles B. Maybon 2006: 13). Giáo đoàn mang tên Hội dòng Tên (Societas Iesu, Hội Gia Tô) tại Ma Cao đã được chính thức thành lập vào năm 1615, trong gần hai trăm năm, ngay cả sau nhiểu nảm khi Hội này bị giải tán, khoảng 180 giáo sĩ thuộc dòng này tới truyền giáo tại Đàng Trong và Đàng Ngoài (Charles B. Maybon 2006: 14). Theo tính chất xuất xứ của những ghi chép thì có hai loại: ghi chép trực tiếp (hình thành trôn trải nghiệm cá nhân và những cuôYi sổ ghi chép/nhật ký), ghi chép gián tiếp (thông qua lòi kể của người đã có trải nghiộm thực tế, hoặc biên tập lại những ghi chép dã có của ngưòi khác trong trường hợp người dó không có khả năng tự công bổ); trong đó, loại ghi chép trực tiếp chiếm đa sô". Theo giới tính của tác giá, thì trong SƯU tập này mới chỉ có nam giới. Hiộn chưa thây một tài liệu viết vổ Thăng Long - Hà Nội hay Đàng Ngoài của một tác giả nữ nào. Theo quốc tịch, thì hiộn nay với những tư liệu đã dịch ra tiếng Viột, chúng ta mới biết nhiều đến người phương Tây (Bồ, Pháp, Hà Lan, Anh, Ý), và không nhiều các tác giả là người Trung Quốc (Chu Thuấn Thủy, Thái Đình Lan). Chúng tôi cố sưu tập dược một sô" tư liộu của người Nhật, một trong những dôi tác thương mại cúa Việt Nam thòi kỳ này, nhưng trong tạp sách này, chúng tỏi xin tạm chưa công bổ’. /. Giáo sĩ người Pháp A le x an dre de Rhodes (quen gọi là Đắc Lộ; 1593-1660; ở T hăng Long và Đàng Ngoài hơn 3 năm, từ th án g 3 năm 1627 đôn tháng 5 năm 1630). 11
  9. Cũng như rất nhiều nhà nghiên cứu đi trước, chúng tôi dặc biệt đánh giá cao những ghi chép của Alexandre de Rhođes, người được quen gọi bằng tên Việt Nam là Đắc Lộ, với hai cuốn cùng xuât bản trong thập niên 1650: Lịch sử Vương quốc Đàng Ngoài (Histoire du royaume de Tunquin) và Hành trình và truyền giáo (Divers voyages et missions). Trong cuốn Lhứ nhất có đính kèm một bản đồ Việt Nam gồm Đàng Ngoài và Đàng Trong do chính giáo sĩ A. de Rhodes vẽ. v ề Đàng Ngoài nói chung và Thăng Long - Kẻ Chợ nói riêng, những ghi chóp của giáo sĩ A. de Rhodes ở thê kỷ XVII là những ghi chép có giá trị ở hàng đầu, kế thừa được thành quả của nhiều người di trước, và ảnh hưởng hầu như đến Lất cả các ghi chép của người dời sau. Vào đầu thế kỷ XX, Charles B. Maybon đã đánh giá như sau về A. de Rhodes và cuốn Lịch sử Vương quốc Dàng Ngoài của ông: "Nhân vật này là người Pháp hoạt động có hiệu quả nhất trong việc cung cấp những nhận thức đúng đắn vổ nước An Nam" (Charles B. Maybon 2006: 16). Gần dây, trong một khảo cứu chuyên sâu vổ đôn Còn (Quỳnh Lưu, Nghệ An) và tục thờ Tứ vị Thánh Nương, khi sử dụng tư liệu từ hai cuốn sách và tâ'm bản đồ của A. de Rhodes nói trên, có đốì chiếu vối những tư liệu Hán Nôm trước và sau đó của người Việt Nam (Việt điện u linh, Lĩnh N am chích quái, Ô Châu cận lục, Thượng kinh ký sự), chúng Lôi nhận ra giá trị dân tộc chí ẩn chứa trong các ghi chép của A. dc Rhodes (xem Chu Xuân Giao 2009a, 2009b). Có thể thây, ông có thói quen ghi chép hàng ngày về những ndi đã đến, những việc dã thấy và đã nghe, cần mẫn và tinh tường chẳng khác gì một nhà dân tộc học đang điều tra điền dã. Qua nhiều thực tế hay nhiều sự kiện được phản ánh bằng ghi chép hàng ngày, ông mới rút ra một mô tả tổng quan về một đôi tượng nào dó, 12
  10. bao giờ cũng thấy một sự thông nhất giữa mô tả tổng quan với ghi chép sự kiộn. Hai cuôVi sách được hình thành trên những ghi chép cần mẫn như vậy, nôn theo chúng tôi, chúng có giá trị cao trôn nhiổu phương điộn. scpxcmtrio M endics- ỉ ỉ ì n h 1: Bản đố An Nam (gồm Đàng Trong và Đàng Ngoài) do giáo sĩ A. de Rhodes vẽ và công bô vào đầu thập niên 1650. Đà CÓ nhiều khảo cứu về cuộc dời và hành trình truyền giáo của A. de Rhođes (gần đây, công trình có tính tổng hợp và bề thế nhất có lõ là của Peter c. Phan dã xuất bản năm 1998), ở đây chỉ nói vắn tát về thời gian ông tới Đàng Ngoài và kinh dô của nó là Thăng Long - Kỏ Chợ. Trưỏc khi đến Đàng Ngoài của vua Lẽ chúa Trịnh, A. de Rhodes đã có mấy nam kinh nghiộm truyền giáo tại Đàng Trong của chúa 13
  11. Nguyễn (năm 1624 - 1626). Ông học và sử dụng thành thạo tiếng Việt trong thời gian ở đó. Khi được bổ trên cử tới Đàng Ngoài, với lý do sợ bị chúa Đàng Ngoài nghi ngờ làm gián điệp cho Đàng Trong, A. de Rhodes đã không di thắng từ Đàng Trong ra Đàng Ngoài, mà phải chọn con đường vòng: từ Đàng Trong đi Ma Cao, rồi từ Ma Cao mới vào Đàng Ngoài. Ông đến Đàng Ngoài bằng việc cập bến Cửa Hạng (Thanh Hóa) vào ngày 19 tháng 3 năm 1627. Hơn 3 năm lưu lại Đàng Ngoài, vào tháng 5 năm 1630, ông rời bỏ Đàng Ngoài (vì nhà chúa ra lệnh trục xuât), từ c ử a Chúa (tức Cửa Còn / Cửa Lạch Còn, ở Nghệ An), để trở lại Ma Cao. Về đại thể, theo chúng tôi, lịch trình truyền giáo của A. de Rhodes ở Đàng Ngoài có thể chia làm 3 giai đoạn: Giai đoạn 1: Có thể tính từ ngày 19 tháng 3 năm 1627 (trùng ngày lễ thán h Giuse, tại c ử a Bạng)1 đôn cuổì tháng 3 năm 1629, tức gần tròn 2 năm, tạm gọi là giai đoạn từ Ma Cao đến Thăng Long (Ma Cao - c ử a Bạng - qua đường sông Đáy đi vào đường sông Hồng để đôn Thăng Long - gặp chúa Trịnh ở khu vực gần Phủ Lý2 - theo chúa Trịnh vào Thanh Hóa, dừng lại ở khu vực An Vực - cùng chúa Trịnh về phủ chúa ở Thăng Long - truyền giáo ở Thăng Long và vùng lân cận). 1. Theo Nguyễn Khắc Xuyên, Giáo hội Công giáo Việt Nam đă nhận thánh Giuse là quan thầy, đấng bảo hộ. Nhà thờ Lớn Hà Nội là nhà thờ kính thánh Giuse, lễ ngày 19 tháng 3 (xem Alexandre de Rhodes (Hồng Nhuê dịch) 1994b : 2 7 5 -c h ú thích 28). 2. Phạm Đình Khiêm cho rằng A. de Rhodes đã găp chúa Trịnh lần đầu tiên ở khoảng giữa Phủ Lý và Hưng Yên, ông viết: "Từ Ảo Môn đến cửa Bạng (Thanh Hóa) ngày 19 tháng 3 năm 1627, giáo sĩ A. de Rhodes theo tàu buôn đến Cửa Đáy, vảo sông Hổng Hà để lên Thăng Long, dọc đường khoảng giữa Phủ Lý và Hưng Yên gặp chúa Trịnh thân chinh đi đánh chúa Nguyễn" [Phạm Đình Khiêm 1960: 62] 14
  12. Giai đoạn 2: Có thể tính từ cuối tháng 3 năm 1629 đến khoảng tháng 10 năm 1629, tức khoảng 8 tháng, tạm gọi là giai đoạn phải rời bỏ Thăng Long đến tỉnh Bô' Chính, với dự định lừ đó về Ma Cao nhưng không xuất cảng được (Thăng Long - Ke Ĩ3Ò - Kẻ No / Cửa Bạng - ghé qua Cửa Chúa/Cửa Cờn - tỉnh Bố Chính - Nghệ An - cửa Rum - tới gặp người Bồ đợi ở Cửa Chúa/Cửa Còn). Giai đoạn 3: Có thể tính từ tháng 10 năm 1629 đến iháng 5 năm 1630, tức khoảng 7 tháng, tạm gọi là giai đoạn tạm trở lại Thăng Long, rồi lại phải rời bỏ Thăng Long, quay lại vùng Thanh Nghệ đ ể từ đó về Ma Cao (Cửa Chúa/Cửa Còn - theo người Bồ vê Thăng Long - truyền giáo ở Thăng Long - rời bỏ Thảng Long - Kỏ Bò - Ke Bích - tới gặp người Bồ đang đợi ở Cửa Chúa/Cửa Cờn - từ cử a Còn về Ma Cao). Trong thời gian hơn ba năm truyền giáo ở Đàng Ngoài, A. de Rhodes đã làm lễ thanh tẩy được cho 5.602 người. Bằng trải nghiệm trong ba năm ấy, mà phần lớn là lưu lại ở kinh thành Thăng Long, và những tìm hiểu qua tư liệu viết, A. de Rhođes đã thu thập được tư liệu dể sau này viết nên cuôn Lịch sử Vương quốc Dàng Ngoài. A. de Rhodes còn dược ghi công đầu đối với việc thành lập Hội truyền giáo ngoại quốc hay Hội truyền giáo ngoại quốc Pari (Sém inaire des Missions étrangères, Missions Etrangères de Paris, MEP) VÓI tư cách là một Lố chức truyền giáo trực thuộc Hội đồng truyền giáo Roma, bằng việc ông đã gửi bản thinh nguyện dầu tiên vổ việc này từ năm 1650. Tám năm sau, vào tháng 5 năm 1658, Hội đồng truyền giáo mới chuẩn y. Các nhà truyền giáo thuộc MEP sau thời A. de Rhođcs đã để lại nhiều tư liệu quan trọng liên quan đến Việt Nam nói chung và Dàng Ngoài nói riêng, hiện chúng được lưu giữ tại Văn 15
  13. khô" của MEP tại Pari, chẳng hạn: cuôn Tam giáo chưIchi vọng (chữ quốc ngữ cổ, được xcm là do một giáo sĩ người Ý viết vào năm 1752), hay các cuôn sổ tay ghi chép nhiều đề tài khác nhau (trong đó có nhiều chi tiết về phong tục, tín ngưỡng của người Việt N a m 1). 2. N h ữ n g g iá o s ĩ đến T h ă n g L o n g và Đ à n g N g oài tritớc Alexandre de Rhodes Như trên đã nói, các thương n h â n ngươi Bồ là người phương Tây đến Việt Nam sớm nhât, theo sau họ là các giáo sĩ thuộc Hội dòng Tên. Giáo sĩ A. de Rhodes trong Lịch sử Vương quốc Đàng Ngoài đã ghi công gieo Phúc âm đầu tiên vào xứ Đàng Ngoài cho một giáo sĩ người Ý là Giuliano Baldinotti. Giáo sĩ này theo tàu buôn của người Bồ, đi từ Ma Cao vào Đàng Ngoài2. > Trước khi Giuliano Baldinotti đến Đàng Ngoài vào năm 1626, và trước khi A. de Rhodes lần đầu tiên đôn Đàng Trong vào năm 1624, có một giáo sĩ người Ý tên là Cristophoro Borri (Cristoíoro Borri / Christophe Borri, 1583-1632) đã đến Đàng Trong vào năm 1618 và ở đó cho đến năm 1622. Vị giáo sĩ này có viết một bản tường trình bằng tiếng Ý là Relation de son ưoyage, ấn hành lần dầu năm 1631 và được dịch sang nhiều thứ tiêng khác (Pháp, Latinh, Hà Lan, Đức, Anh) trong những năm 1631-1633 (xem Cristophoro Borri 1998). Phần về Việt Nam 1. Cụ thể hơn, có thể xem trong Nguyễn Khắc Xuyèn 1960: 145-146. 2. Có lẽ vì Giuliano Baldinotti theo tàu buôn của người Bổ đến Đàng Ngoài, nên có khi người ta nhẩm ông cũng là người Bổ, chẳng hạn Nguyễn Thừa Hỷ có viết: "Năm 1626, giáo sỹ Dòng Tên, người Bồ Đào Nha Baldinotti đến Kẻ Chợ truyền giáo, có viết tặp du ký Ghi chép về vương quốc Đàng N goàỉ' (Nguyễn Thừa Hỷ 2008: 1987). 16
  14. trong bản tường trình ấy dã được Nguyễn Khắc Xuyên dịch sang tiếng Việt với tiêu đề X ứ Đàng Trong năm 1621. Tuy Liỏu đổ như vậy, nhưng có thể thấy trong dó nhiều liên hệ về Dàng Ngoài cũng như vê Thăng Long, và tác giả dành ra (‘hương 13 (chương cuối cùng) để viết riêng về xứ Đàng Ngoài qua lời kổ của những người từ Đàng Ngoài tới tỉnh Quy Nhơn. Chương này chỉ có mây trang, lại qua tư liộu gián tiếp, nhưng cùng cho chúng ta một khái quát chung về nước Việt Nam (gồm Đàng Trong và Đàng Ngoài) và kinh thành Thăng Long thòi đẩu th ế kỷ XVII. T hật ra, trước Cristophoro Borri, từ năm 1615 đã có ba vị giáo sĩ dòng Tôn ở Ma Cao đã tới Đà Nẵng (Francesco Busomi người Y, là một người trong ba vị đó, ở Đàng Trong 20 năm, phát triển n h a n h chóng Công giáo tại đây dưới sự khoan dung của Chúa S ã i1), tuy nhiên, ba vị ấy không để lại ghi chép. Cho nên. bản tường trình của C.Borri là cuốn dầu tiên dược in ra nói vê giáo đoàn ở Đàng Trong. "Những thông tin mà cuốn sách cưng cấp vổ một đất nước xa xôi có giá trị không dồng đổu, đó là sự thật, nhưng hoàn toàn xứng dáng dược coi là hấp dẫn đôì với các độc giả người Âu, người sùng tín cũng như kẻ ngoại đạo" (Charles B. Maybon 2006: 15). 0. ỉ3orri dã cố gắng học tiếng Việt, tuy không thạo lắm, nhưng chắc dủ đổ giảng giáo lý Kitô. Có một vài câu chữ quốc ngữ trong bản tưòng th u ậ t của ông, cho chúng ta biết rằng, từ những năm 1618-1620 đã có một khởi đáu hình thành chữ quốc ngữ. Cái khác biột của c. Borri so với A. de Rhodes sau này là, ông ký âm tiếng Việt bằng chữ viết của người Ý, chứ 1. Xem Charles B. Maybon 2006: 15, và Tư liệu mạng 3 (phần đ ầ u ). 2-TI 17
  15. không phải của người Bồ, ví dụ: nho viết thành gnoo, nhỏ viết thành gno, xin viết thành scin (Cristophoro Borri 1998: 9 ). c. Borri ròi Đàng Ngoài vào năm 1622 để trở lại Ma Cao. Sau đó, từ Ma Cao, năm 1624 thì A. de Rhodes được cử đi vào Đàng Trong, năm 1626 thì Giuliano Baldinotti dược cử đi vào Đàng Ngoài. > Người cử cha Giuliano Baldinotti tới Đàng Ngoài là cha Hienrô Rodriguez. Cha Hienrô thuộc Dòng Tên, từ "căn cứ địa" Ma Cao đã đến truyền giáo tại N h ậ t Bản, nhưng bị trục xuât khỏi nước này vào khoảng năm 1617-1620, nên đ ành trở lại Ma Cao; từ Ma Cao, ông đã cử các giáo sĩ đi các nước lân cận ngoài Nhật Bản như Đàng Trong, Đàng Ngoài, Thái Lan. Họ nhắm đến Đàng Ngoài với hai mục đích: trước hết. tìm hiểu một vùng đất họ chưa biết rõ và mang ánh sáng Phúc âm tới đó; thứ hai, từ Dàng Ngoài có thể tiến vào Trung tQuốc và vào Lào qua đường bộ (theo Giuliano Baldinotti 1626). > Năm 1626, cha Hienrô cử cha Giuliano Baldinotti (người Ý) và một người phụ tá là Juliô Piani (người Nhật) từ Ma Cao tới Đàng Ngoài. Các vị này phải mất tới 36 ngày lênh đênh trên biển mới tới được Đàng Ngoài, vì họ chưa thông thạo đường và lại gặp bão lớn trên biển (năm sau, năm 1627, A. de Rhodes chỉ m ất có một tuần để đi từ Ma Cao đến Đàng Ngoài). Họ khởi hành từ Ma Cao vào ngày 2 tháng 2 năm 1626, đến ngày 7 tháng 3 mới cập bên Đàng Ngoài, được chúa Trịnh cử 4 chiến thuyền đi đón về Thăng Long. Cha Giuliano Baldinotti đã ở Thăng IiOng trong khoảng 6 tháng, từ tháng 3 đến tháng 8 năm 1626, được chúa Trịnh long trọng tiếp đón và chăm sóc chu đáo, vì chúa rất kỳ vọng vào sự hợp tác của người Bồ trong việc giúp đánh chúa Nguyễn ở Đàng Trong. Thời điểm Baldinotti đến Thăng Long là một cao điểm 18
  16. trong quan hộ đối đầu của Đàng Trong và Oàng Ngoài, vì để làm Lan nỗi lò của chúa Đàng Ngoài về việc có thể người Bồ sẽ phản ngài (ngài thừa biết Đàng Trong đã tiếp xúc với người Bồ từ trước), cha Giuliano đã th.am gia một hội thề không chông lại bản chúa Đàng Ngoài ha> x.ứ Đàng Ngoài, mà phải là bạn tốt trung Ihành của ngài. Giulismo đã rời Đàng Ngoài vào ngày 11 tháng 8 năm 1626 để trở vổ Ma Cao. Sau khi trở vê Ma Cao bình yên, vào tháng 11 năm dó, ông viết báo cáo Tường trinh về Đàng Ngoài 1626 để gủi vồ liLoma. Theo phân tích của Nguyễn Khắc Xuyên, bản tường trình năm 1626 của Giuliano tuy không dài nhưng hết sức quý. Nó cho chúng La biết những nét đại cương vê Thăng Long - Kẻ Chợ vào dầu thê kỷ XVII. "Còn vổ việc truyền giáo’ chúng ta cũng dược biết sơ lược về buổi tiếp xúc dầu tiên của giáo sĩ với chúa Trịnh Tráng, với các nhà sư, nhà nho thời đó. Điểu làm ngăn trở không cho giáo sĩ giao thiệp rộng rãi hơn dó là việc không tinh thông ngôn ngữ bản xứ. Chúng tôi phỏng đoán cuộc dàm thoại đã xảy ra bằng chữ viết, nhò một thầy trợ sĩ người Nhậl cùng đi với giáo sĩ" (theo Giuliano Baldinotti 1626). 3. Anh em n h à T ave rn ier (Công ty Đông Ân Hà Lan VOC) và S a m u e l Iìaron (Công ty Đông An Hà Lan v o c , Công ty Đ ông Án Anh EIC) Trong giai đoạn nàv, Việt Nam nói chung và Thăng Ijong - Đàng Ngoài nói riêng có quan hộ thương mại chủ yếu với người Nhật (hộ thống Chu Ấn thuyên, 1592-1635), người Trung Quốc (thương nhân nhà Minh, nhà Thanh), người Bồ Đào Nha (Công Ly Hoàng Gia), người Mà Lan (Vereenigđe Oost-Indische Compagnie/Công ty Đông Ấn Hà Lan, v o c , 1602 -1799), người Anh (Công ly Đông Ân Anh/ Knglish East India Company, P2IC, 19
  17. 1600 -1874), người Pháp (Công Ly Đông Ân Pháp/Compagnie francaise des Indes orientales, 1664-1769). Với mỗi dôi tác nói trên, trong tương lai, chúng Lôi sẽ có những giới thiệu tống quan riêng, ở đây chỉ dừng lại với việc giới thiệu vê voc (Công ly Đông An Hà Lan) trong liên quan với hai cuốn du ký (của anh em nhà Tavernier và Baron). > v o c được thành lập vào tháng 3 năm 1602, trên cơ sở hợp nhât các công ty nhỏ trước đó, được đặt dưới sự bảo trợ của Chính phủ Hà Lan, được nhà nước irao dộc quyền buôn bán tù mũi Hảo Vọng trở về phương Đông, và dược thay mặt nhà nước ký kết các hiệp ước buôn bán, tuyên b(D chiến tranh, ký kết các hiệp ước hòa bình. Hoạt động của công ty ở phương Đông được điểu hành bởi Toàn quyền và Hội đồng Đông An đặt tại Batavia (Hoàng Anh Tuấn 2007: 116). Thương nhân Hà Lan không phải là những người đầu tiên đên Đàng Ngoài và Thăng Long. Người Bồ sau những phát kiến dịa lý cuối the kỷ XV đã thành lập Công ty Hoàng gia Estado da India, dặt thương điếm ở Goa, Malacca, và tiếp tục hướng Lới thị trường Đông Á. Trong quá trình thâm nhập thị trường Trung Quốc, người Bồ đã lần lượt đến Dàng Trong (năm 1523) và Đàng Ngoài (1626). Dù chậm chân hơn người Bồ, người Hà Lan dã đến được Đàng Trong vào năm 1601; tuy nhiên, những nỗ lực thiết lập quan hộ với các chúa Nguyễn không thu được kêt quả thậm chí còn bị thiệt hại nhiêu về nhân sự và tài sản trong suốt ba thập kỷ sau đó, do người Bồ ra sức ngăn chặn. Quan hệ của người Hà Lan vâi Đàng Ngoài và Thăng Long cũng phải đến năm 1637 mới được thiết lập chính thức và đôn năm 1700 thì hoàn toàn chấm dứt (Hoàng Anh Tuân 2007: 107). Gần bảy thập kỷ buôn bán với Đàng Ngoài, voc đổ lại một khôi lượng đồ sộ các văn bản, không chỉ sổ sách kinh 20
  18. doanh, thư từ ngoại giao qua lại với chính quyền vua Lê, chúa Trịnh, mà còn có cả nhật ký, ghi chóp cá nhân của các thương nhân vê lịch sử. văn hóa, tình hình (ìhính trị, kinh tê, bang giao,... của Đàng Ngoài trong toàn bộ th ế ký XVII. Các văn bản nàv dều còn ỏ dạng viôt tay, VỚI văn phong Hà Lan cổ, từ vựng thay đổi hầu hết nôn viộc đọc lại từ ngữ này không dỗ dàng ngay cả với người bản ngữ hiện nay (Hoàng Anh Tuấn 2007: 108). Trong bối cảnh chưng như vậy, trong tiếng Viột, chúng ta đã có được bản dịch hai bản du ký / tường trình: một là Tập du ký mới và kỳ thú về Vương quốc Dàng Ngoài của anh em nhà Tavernier (do Lê Tư Lành chuyển ngữ từ bản dịch tiếng Pháp xuất bản năm 1681), bản nữa là Mô tả Vương quốc Dàng Ngoài của Samucl Baron (do Song Kha dịch, chưa rõ theo bản nào; nhưng nguyên bản tiếng Anh xuất bản lần đầu năm 1723). Có một điểm thú vị là, cùng làm việc cho v o c ở hai thời điểm khác nhau, nhưng Baron dà phô phán khá gay gắt cuôn của anh em nhà Tavcrnier, rằng trong đó có nhiều điều "không tưởng và phi lý". Tuy nhiôn, cả hai cuốn, của anh em nhà Tavernier và của Baron, đểu ít nhiểu chịu ảnh hưởng (ke* thừa, nêu nghi vấn và chỉnh lý) từ cuốn Lịch sử Vương quốc Dàng Ngoài của A. de Rhodes. > Tập du kỷ mới và kỳ thú vê Vương quốc Đàng Ngoài của anh om nhà Tavernier dược hình thành trên cơ sở những ghi chép của Danicỉ Tavernier (người em trai) trong dịp vị này đôn Thăng Long - Kẻ Chợ với tư cách là SI quan phụ trách về kế toán, hành chính trên tàu buôn của voc trong khoảng thời gian từ năm 1639-1645. Daniel kể rằng ông đã trở đi trở lại Đàng Ngoài tới 11, 12 lần. Nguyễn Thừa Hỷ đặt giả thiết rằng, có lõ Daniel là một ngưòi trong phái bộ của v o c đã đến 21
  19. Kẻ Chợ lần đầu tiên năm 1637, thòi Lê Thần Tông - Trịnh Tráng, do K. Hartsinck chỉ huy (Jean - Baptiste Tavernier 2007: 9). Daniel qua đòi năm 1648, sau này, người anh trai của ông là Jean - Baptiste Tavernier đã tập hợp, chỉnh lý bản thảo của em mình, rồi cho xuất bản với tiêu đề "Sưu tập nhiều du ký và chuyên khảo kỳ thú và hấp dàn của J.tì. Tavernier" tại Pari năm 1681. Tập du ký mới của anh em nhà Tavernier gồm 15 chương, giới thiệu về Đàng Ngoài, mà chủ yếu là Thăng Long, trên các phương diện: vị trí địa lý, tài nguyên thiên nhiên, chính trị, đặc sản, phong tục tập quán của dân chúng, tôn giáo tín ngưỡng, giáo dục, y học, nghệ th u ậ t ca xướng. So vối Lịch sử Vương quốc Đàng Ngoài của A. de Rhodes thì, cuốn này có nhiều ghi chép chi tiết hơn (vì khác biệt vê tôn giáo - A. de Rhodes là giáo sĩ Công giáo có quan hệ mật thiết với người Bồ, còn anh em nhà Tavernier thì theo Tin lành làm việc cho v o c - nên ở một số chỗ, cách nhìn của hai bôn có khác nhau với cùng một sự vật / hiện tượng). Sau này, tập du ký của hai anh em nhà Tavernier đã bị s. Baron phê phán rằng không chính xác ở nhiều điểm, "nhiều điều không tưởng và phi lý". > Samuel Baron sinh ra tại Hà Lan vào khoảng năm 1650. Cha ông là người Hà Lan đến sinh sông tại Kẻ Chự từ những năm 1640 (?), làm nhân viên, rồi Giám đốc thương điếm Hà Nội ở Đàng Ngoài từ năm 1633; mẹ là người Đàng Ngoài, chưa biết tên tuổi. Baron lớn lên tại Ke Chợ, có vê Hà Lan học, rồi lại đến Kẻ Chợ, làm việc cho v o c . Nhưng đến năm 1675, từ v o c ông chuyển sang làm cho Công ty Đông Ân của Anh và nhận quốc tịch Anh. Năm 1685, Baron bỏ hẳn Kẻ Chợ tới Ân Độ, nhưng vẫn làm việc cho công ty của Anh (Tập thể tác giả 2008: 2042). 22
  20. Cuốn Mô tả Vương quốc Dàng Ngoài của Baron được viêt xong bằng tiếng Anh vào năm 1683, rồi được xuất bản lần dầu tiôn năm 1723 tại Luân Đôn. Trong cuốn này, Baron đã phô phán anh om nhà Tavornier ỏ nhiêu điểm. Chẳng hạn, ông bác bỏ việc Daniel Tavernier - một thương nhân và viên chức nhỏ trên tàu buôn nước ngoài - lại có thể tự do vào trò chuyện, múa kiếm và dánh bạc với sô tiền lớn nơi cung vua, phủ chúa tôn nghiêm; hoặc cũng bác bỏ việc có những lái buôn Đàng Ngoài sang buôn bán ỏ Bantam và Batavia (Indonesia) vào giữa thê kỷ XVII, dem theo cả gia đình, sư sãi và thầy đồ (
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2