Link xem tivi trực tuyến nhanh nhất xem tivi trực tuyến nhanh nhất xem phim mới 2023 hay nhất xem phim chiếu rạp mới nhất phim chiếu rạp mới xem phim chiếu rạp xem phim lẻ hay 2022, 2023 xem phim lẻ hay xem phim hay nhất trang xem phim hay xem phim hay nhất phim mới hay xem phim mới link phim mới

intTypePromotion=1
ADSENSE

Tìm hiểu Thăng Long thế kỷ XVII đến thế kỷ XIX thông qua tư liệu nước ngoài: Phần 2

Chia sẻ: Luis Mathew | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:203

10
lượt xem
1
download
 
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Tiếp nối nội dung phần 1, phần 2 bao gồm các bài viết viết về Thăng Long - Hà Nội với tôn giáo; tín ngưỡng dân gian (thờ cúng, giỗ chạp, bói toán, vàng mã); nghi lễ vòng đời người, hội hè trong năm, vui chơi, giải trí; giáo dục và khoa cử; quan hệ với Trung Quốc; quan hệ với các nước châu Á và các nước phương Tây;…Mời các bạn cùng tham khảo để biết thêm chi tiết.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Tìm hiểu Thăng Long thế kỷ XVII đến thế kỷ XIX thông qua tư liệu nước ngoài: Phần 2

  1. Phần ba: THẦNG LONG - HÀ NỘI NHÌN TỪ ĐỜI SỐNG VĂN HÓA TINH THAN A. Tôn giảo 1 - Nho giáo 2 - Phật giáo 3 - Dạo giáo 4 - Thiên Chúa giáo B. Tín ngưỡng dân gian (thờ cúng, giô chap, bói toán, vàng mã) c. N ghi lê vòng đời người, hôi hè trong năm, vui chơi, giải trí D. Giáo duc và khoa cử E Pháp luât: ph ép n ư ớ c lẽ làng,, tâp quán pháp F. K ỹ thuât, công nghê G. Người Tràng An: danh xưng, lởi ãn, tiếng nói, tính cách, dáng hình, giao tế. 297
  2. A. TÔN GIÁO "(Tam giáo giống như người Trung Quốc): Người Đàng Ngoài cũng như ngưòi Tàu nói chung, tin theo ba thứ tôn giáo gọi là tam giáo. Nhưng dân tộc này tuy râ't chất phác và rất có Ịương tri, lại theo rất nhiều dị đoan trước khi ánh sáng Phúc âm đến soi sáng cho họ. Từ khi đức tin Kitô giáo được rao giảng và nhiều người nhận biết đức Giêsu Kitô thì họ đã thoát khỏi u minh và tăm tối sai lầm bao trùm lên họ. Họ thoát khỏi cảnh nô lệ khôn đôn ma quỷ bắt họ chịu." [Alexandre de Rhodes 1994 (1651):38-39] "(Ba tông phái): v ề tôn giáo, người Đàng Ngoài có ba tông phái. Tông phái thứ nhất do nhà hiền triết xưa kia tên là Khổng Tử để xướng. (...) Tông phái thứ hai do một người ẩn dật tên là Chacabout (Bụt Thích Ca) được tuyệt đại đa sô" nhân dân tin theo. (...) Tông phái thứ ba là phái của Lanthu (Lão Tử). Người Nhật và người Trung Hoa rất tin những lời dạy bảo của Lão Tử, ngưòi Đàng Ngoài lại càng tin hơn." [Jean - Baptiste Tavemier 2007 (1681): 92-93] "(Ảnh hưởng Trung Quốc trong tôn giáo tín ngưỡng): Mong sao cho người Đàng Ngoài đã giũ ách nô lộ người Tàu thì cũng bỏ được những dị đoan người Tàu truyền lại và dạy dỗ cho. Nhưng những nguyên lý tôn giáo dầu tốt dầu xấu đã ăn sâu vào lòng người do tập quán lâu đời thì không dễ dàng xóa 298
  3. bỏ di được. Thế nên ngưòi Đàng Ngoài sau khi không còn chịu người Tàu đô hộ nữa thì vẫn còn duy trì những mê tín của họ và tất cả giáo thuyết về thần thánh du nhập từ An Độ. Từ thời đó tới nay họ còn thêm nhiều dị đoan khác và trở nên mẽ tín hơn cả ngưòi Tàu. Thật ra ngày nay trong nước Đàng Ngoài có rấ t nhiều đền chùa và thần thánh, không một làng xã nhỏ bé nào mà không có chùa chiền và dân chúng rất mê theo, dù đển chùa đó dơ bẩn, bệ rạc vì các thầy sãi không sửa sang, thường nhận cúng lễ để chi dùng cho mình và cho vợ con mình, không chú ý trang hoàng đền chùa và lau chùi tượng thánh cho sạch sẽ.” [Aỉexandre de Rhodes 1994 (1651): 44] "(Thờ cúng tổ tiên dược xem trọng hơn cả): Nơi họ cũng có ba thứ tôn giáo như ở Trung Quốc. Nhưng việc sùng bái vong linh tiên tổ vượt hết những gì có thể nghĩ được ở châu Âu. Họ vất vả rất nhiều để tìm đất đặt mồ mả. Họ cho rằng, hạnh phúc toàn gia tộc đều phụ thuộc vào sự để mả này. Họ không tiếc tiền của, công lao để bày cỗ bàn tiệc tùng mấy ngày liền sau dám tang, rồi mỗi năm, vào ngày kỵ, không bao giờ họ bỏ không làm giỗ to tiên tới tám đòi hoặc có khi tới mười đời.” [Alexandre de Rhodes 1994 (1653): 66-67] "(Tính ngẩu tượng/sùng bái ngầu tượng trong tôn giáo tín ngííớng): Tôn giáo của họ là dị giáo và họ là những người rất sùng bái ngẫu tường. Tuy nhiên, ho cũng eỗng nhận là có một thô lực tối cao vô hạn cai quản tất cả, có thể quan sát bản thân họ cũng như mọi hành dộng của họ để từ đó ban thưởng eho điểu tốt và trừng phạt những kẻ tàn ác khi sang th ế giới vĩnh hằng. Họ tin vào sự bất diệt của linh hồn nhưng ý niệm 299
  4. của họ về đấng tối cao thì rất lơ mơ. Tuy thê, thông qua các hình tượng được dùng để biểu trưng cho Thượng đế, rõ ràng cho thây họ rất tin vào sự thâu hiểu, sức mạnh, tinh thần dũng cảm, sự khôn ngoan, và sự công bằng... của vị thần này. Dẫu rằng các tượng của họ mang hình dáng như con người dù đã được nhân hóa đi nhưng vẫn còn tượng trưng cho một cái gì khác thường, cả vê dáng dấp và phong độ cũng như về hình dạng thân thể và tay chân. Có những tượng béo phệ và lực lưỡng nhưng cũng có những tượng gầy còm, pho này thiếu mắt, pho khác lại có nhiều bàn tay và tấ t cả đều cầm một vật gì đó. v ẻ bê ngoài của các tượng cũng rất khác nhau, khi thì mô phỏng theo điều mà người ta muôn thể hiện, khi lại có thứ gì đó trong tay hoặc được đặt bên cạnh để minh họa cho ý nghĩa của tượng. Người ta cũng đặc tả nhiều vẻ tình cảm trên khuôn mặt như tình yêu, lòng căm thù, sự vui mừng, nỗi buồn phiền hoặc sự đau đớn. Tôi đã được nghe một người bạn kể lại rằng anh ta đã từng trông thấy một trong những tượng quỳ gcíi, hai mông tỳ vào hai bên bụng chân, hai khuỷu tay đặt vào đầu gối và hai ngón tay ở dưới cằm để đỡ lấy cái đầu có vẻ muốn cúi ra phía trưâc, còn đôi mắt buồn rầu và m ặt thì ngưốc nhìn lên tròi, rằng trông tượng ấy thật gầy guộc và buồn bã đến nỗi có thể làm động lòng thương xót của tất cả những ai đứng ngắm nhìn và chính ngay anh ta cũng đã thây vô cùng xúc động. Họ cũng có nhiều tượng mang hình súc vật nhưng tôi mói chỉ trông thấy có 2 loại là voi hoặc ngựa. Chùa chiền hoặc đền miếu thờ ngẫu tượng không có vẻ huy hoàng lộng lẫy như người ta vẫn thấy ở những vương quốc láng giềng. Thường thì chúng được làm bằng gỗ, thấp và nhỏ, nhưng hầu hết đểu được lợp ngói, n h ất là những ngôi chùa trong các đô thị. 300
  5. Nhưng ở thôn quê thì cũng có một vài nơi lợp bằng rdm. Tôi chỉ trông thấy những tượng voi hay ngựa ở nông thôn mà thôi chứ chưa từng được xem một tượng nào ở thành phố Kẻ Chợ - nơi tôi nghe nói các tượng thường mang dáng vóc con người. Tất cả các tượng voi và ngựa tôi thấy đều to lớn cỡ một con ngựa th ậ t loại tốt, mỗi bức tượng lại được đặt ở giữa một ngôi đển nhỏ nhưng đủ lớn để chứa bức tượng và đầu tượng đều hướng ra phía cửa vào. Thỉnh thoảng có một ngẫu tượng, có khi cả hai cùng được đặt trong một ngôi đền vốn lúc nào cũng để ngỏ cửa. Trong các công trình tôn giáo khác ở khắp vương quôc như chùa, đền, miếu, mồ mả... những tượng tương tự như vậy nhưng có kích cỡ nhỏ hơn và không cao quá chiều cao của người. Tuy nhiên, những chùa chiền ở nông thôn thường hay đóng cửa nên tôi không thể nào quan sát được thêm gì ở bên trong." [VVilỉiam Dampier 2007 (1699, 1931): 75-77] 1- Nho giáo. "(Giáo phái thứ nhất): Giáo phái thứ nhất và thòi danh hơn cả là đạo Nho. Ngưòi khai sáng đạo này là một người Tàu tên là Khống Tử, sinh sông ở nước Tàu, theo sử liệu vào cùng thòi với Aristote bôn Hy Lạp, nghĩa là vào khoảng ba trăm năm trước Thiôn Chúa giáng sinh. Người Đàng Ngoài tôn ông là thánh nhân, nhưng vô lý và trái lẽ, như tôi đã có lần thuyết phục họ.'Bởi vì, theo tôi, nếu ngài được gọi là thánh n h â n thì ngài phải biết có một đức Chúa trời dựng nên trời và đất, nếu ngài không biết thì sao có thể là thánh được; không biết đấng là cội nguồn và là nguyên nhân mọi sự thánh, ngài chỉ thông truyền cho loài có lý trí bằng sự hiểu biết và yêu mến Thiên Chúa cao cả. Nếu ông nhận biết, vì ông tự xưng là bậc tiến sĩ 301
  6. và tôn sư thì ông phải giảng dạy sự hiểu biết cần thiết cho sự cứu rỗi, đằng này ông không dạy rõ ràng như trong kinh sách của ông, ông không đề cập tới Thiên Chúa nguyên lý mọi sự, thì sao có thể gọi ông là thánh?1 Khi tôi giảng như th ế trong nhà thò, trước mặt chừng bốn chục người theo đạo này và là đồ đệ của Khổng Tử, thì tôi trách giáo dân tân tòng và không cho họ được gọi ông như th ế nữa để khỏi phạm tới tên thánh và khỏi trái với lương tâm, thì người ta rất chăm chú nghe và rất bằng lòng, nhưng phái của Khổng Tử ở trong nhà thờ liền rút lui buồn nản và xấu hố nhưng vẫn ngoan cô" trong sai lầm như xưa, trừ một người đã lôi cuốn được mấy người khác, ông đã ở lại với chúng tôi, chứ không theo đám kia và ông đã nhận được lời giáo huấn đầy đủ về các chân lý đạo Kitô và chịu phép rửa tội, tôi đặt tên là Gioan, ông đã muốn làm đồ đệ đức Giêsu Kitô hơn là môn đồ của Khổng Tử mà cho tới nay ông đã theo. Thực ra Khổng Tử - nhà hiền triết này, trong những sách ông để lại, có nhiều giáo huấn về th uần phong mỹ tục: như khi ông nói, trước hết hãy sửa mình và muôn th ế thì xét mình mỗi ngày ba lần đế sửa điều lầm lỗi. Sau đó mới đem tâm trí và chuyên cần xếp đặt và điều khiển gia đình. Và sau khi đã cẩn thận chu toàn chức vụ đầu tiên này chứ không trước khi đó, thì bấy giò mối lo dìu dắt và cai trị quốc gia2. Ông còn luận về nhiều điều liên hệ tới pháp lý dân chính, về xét xử các vụ kiện và về thi hành công lý, do đó các tiên sĩ Đàng Ngoài nghiên cứu kinh sách của ông một cách chuycn cần như chúng ta khảo sát hiến pháp hay bộ luật. Ong còn 1 . Xem thêm: Phép Giảng tám ngày. 2. Phép tu thân, tề gia, tri quốc, bình thiên hạ. 302
  7. trình bày và phân giải những châm ngôn về chính trị và luật pháp tự nhiên. Vì th ế ông không nói trái với những nguyên lý của Kitô giáo và cũng không nói những gì phải bác bỏ hay bị kẻ tin theo lên án. Nhưng khi ông đề cập trong một bộ sách về nguyên lý độc nhất của vạn vật thì ông rơi vào một cảnh hỗn độn to lớn và mù quáng trí khôn và lý luận không sao hiểu được. Ông nhận nguyên lý đệ nhất thuộc vật thể và vô tri không đáng được kính thò. T hế nhưng ông muôn cho người ta tôn kính và thò cúng Trời mà ông công nhận đã phát sinh và thoát ra từ nguyên lý đệ nhất mà ông chối không cho tôn thờ đó. Và những sự tôn thò này ông còn cho rằng tất cả mọi người không dồng hàng xứng đáng được thực hiện, chỉ có các bậc vua chúa trị dân mà thôi, như thể nghĩa vụ tôn giáo không chung cho người dân cũng như bậc vua chúa. Lại còn đáng trách hơn nữa, trong giáo thuyết và kinh sách nhà hiền triết, đó là ông không đề cập tới đời hằng sông và hồn bất tử, nghĩa là ông chỉ coi con người thuộc về vật thể và nếu có hồn thì cũng là thứ hồn vật lý, chìm trong khôi và tan trong các phần than thổ, như hồn súc sinh mà thôi. Ông cho con người chết là hết, không còn gì, những yếu tô" cấp trên nhận di hài những phần tinh vi và những yếu tô" cấp dưới thì nhận di hài những phần thô kộch. Rõ ràng là dưa tới vô thần và mò xấu, chỉ còn dể lại một hình ảnh, một cái bóng hay hiộn tượng bên ngoài của nhân đức. Thố mà người Đàng Ngoài, sang hay hèn, đểu có lòng tôn kính Không Tử rấ t mực và thò kính như một Thượng đô. Iĩọ dạy con cái lòng tôn thò đó ngay từ khi chúng còn nhỏ, vì ngay ngày đầu tiên đến trường để học chữ Tàu, thì ỗng thầy trước khi nhận trò làm môn đồ, đã quỳ gốì cùng 303
  8. trò và dạy bài thứ nhất cho trò biết cách phải xưng Khổng Tử th ế nào và phải kêu xin ngài phù hộ cho dể được trí khôn minh mẫn và dễ dàng học nhữ ng điều người ta chỉ bảo cho, gọi là sáng dạ nghĩa là có bụng sáng. Điều mơ ưóc này còn tha thứ được vì họ tưởng các khoa học cũng như thịt thà được nhận và chứa trong bụng; họ tin rằng từ một người chết và vô đạo, họ hy vọng n h ận được một trí thông minh. Cả những tiến sĩ và các văn n h ân cũng rơi vào đicn cuồng này, khi họ đi thi để được bằng cấp, và khi được rồi thì tối phục dưới đất trước bàn thò ông Khổng để lỗ tạ. Thật là một dị đoan điên dại thông dụng nơi lương dân. Nhưng giáo dân tân tòng chỉ nhận có đức Giẽsu Kitô là nguyên lý tối cao và là ánh sáng soi tấ t cả, do đó mà nảy sinh trí minh mẫn. Họ phục lạy ba lần trước ảnh Người, từ lúc còn thơ ấu, xin Người ban ơn vì được hạnh phúc khởi sự, được tiến bộ trong việc học hành và thành đạt trong thi cử. Họ còn tạ ơn Người vì những ơn huệ đã được." [Alexandre de Rhodes 1994 (1651): 38-41] "(Tông phái thứ nhâí thờ Khổng Tủ với 4 vị nam thần và 1 vị nữ thần): Tông phái thứ nhất do nhà hiền triết xưa kia tôn là Khổng Tử đề xướng, ở Trung Quốc và mấy nưốc láng giềng, ông rất mực được tôn sùng. Ong dạy người ta rằng có nám yếu tổ> (ngũ hành): Kim (kim loại), Mộc (cây gỗ), Thủy (nước), Hỏa (lửa), Tho (đất); rằng người ta có hai phần: phần Tinh (hồn) và phần Thô (xác) và khi chết hồn bay lẽn trời, xác ở lại dưới đất. Những người theo phái này có tục hiên tế, thò cúng thất tinh, nhưng trong tất cả các thần và ngẫu tượng (idoles), họ sùng kính đặc biệt bốn vị và một vị nữ thần. Những vị thần đó là Raumu, Betolo, Raumonu, Brama và nữ thần là 304
  9. Satibana được phụ nữ thờ phụng. Nhưng vua và các quan, và n h ất là các nhà Nho lại thờ Tròi." [Jean - Baptiste Tavernier 2007 (1681): 92] "(Nho giáo của Khổng Phu Tử): Dù rằng xứ này có nhiều tôn giáo, nhưng có hai tôn giáo quan trọng nhất: Thứ nhất là Nho giáo của Khổng Phu Tử như người Trung Quốc gọi. Người Đàng Ngoài thì gọi ông là Khổng Tử, triết gia Trung Quốc lâu dòi nhất. Ồng này được tôn kính như Thánh, nổi tiếng vì sự khôn ngoan, không chỉ đối với người Đàng Ngoài, ngưòi Trung Quổc mà cả với người N hật Bản, họ coi ông như đức Salomon chung nhất. Nếu không uyên bác về Nho giáo thì không thể đạt tới bất cứ chức vị nào trong điều hay được giao những nhiộm vụ quan trọng. Tuy nhiên, chân lý và sự tinh tuý của học thuyết mà ta gọi là triết học tinh thần bao gồm những nguyên lý sau đây: Mỗi ngưòi phải biết vươn tới sự hoàn thiện, và từ đó dẫn dắt ngưòi khác đạt tói cùng trình độ ưu tú bằng tấm gương tốt về dạo đức của mình, làm sao để cùng nhau có thể đạt tới cái chân, thiện. Vì thế phải dùi mài học tập triết học, không có nó thì không thể có ý niệm dúng và nhân sinh quan đúng về sự vật, biết cái gì phải theo, cái gì phải tránh và chỉnh đốn ham muôn của mình phù hợp vối lẽ phải. Đó là châm ngôn cùng loại với học thuyết về sự khôn ngoan của Trung Quốc. Nhưng những môn đồ rủa Khổng Tử, dựa trên các nguyên ]ý của ông, đã rút ra nhiều quy tắc và châm ngôn, những điều sau này trở thành đốĩ tượng chính của tín điều và tôn giáo của họ. Họ thừa nhận có một đâng tối cao điều khiển, ngự trị và bảo toàn mọi thứ trên đời. Họ tin ở sự vĩnh hằng của thế 20-TI. 305
  10. giới, không có bắt đầu, không ai tạo ra. Họ bác bỏ sự thò cúng hình ảnh, sùng bái tôn thò thần linh. Họ chò đợi phần thưởng cho những điều thiện, trừng phạt cái ác. Họ tin sự bất tử của linh hồn, cầu khấn ngưòi đã mất. Một sô" tin rằng, linh hồn người chính trực vẫn sống sau khi đã lìa khỏi xác, còn linh hồn kẻ ác sẽ bị hủy diệt. Họ cho rằng những hồn ma nhung nhúc trong không trung luôn luôn đấu tra n h với người sông. Họ khuyên răn học trò phải tôn vinh người chết - cha me, bảng hưu - đặc biệt quan tâm thực hành một sô’ lễ như tôi đã mô tả. Họ còn dạy nhiều học thuyết khác hoàn toàn hợp lý, theo quan điểm của tôi, về nhiều điểm thì không thua kém các triết gia Hy Lạp. Không nên nghĩ rằng những người khôn ngoan nhất, ưu tú nhất trong số họ có đầu óc thiển cận đến mức tin rằng người chết cần thức ăn vì thê phải cúng như tôi đã nói ở bên Tư tưởng của họ cao hơn: Dạy chúng ta như thế, mục đích của họ là tỏ rõ tình yêu và lòng kính trọng đổì với cha mẹ dã qua đời, đồng thời qua đó dạy cho con cái bạn bè, đó là cách tôn vinh chính mình khi mình chưa chết. Tuy nhiên, số dông chỉ phán xét qua những cái họ thực mắt nhìn thấy, tin vào cái đó như tin vào nhiều điều hão huyền trong mê tín dị đoan của họ. Tóm lại, dù tôn giáo này không có chùa chiền, cũng không có nơi thờ thượng đế, không có linh mục để truyền bá học thuyết, không có quy tắc áp đặt hay tuân thủ, và dù nó đế cho mỗi người tự điều khiển hành vi của mình, không gây nên tai tiếng, nó vẫn có môn đồ là các vị vua, hoàng tử, các vị tai to mặt lớn và những người có học trong Vương quốc. Thời xưa, chỉ có vua dưới đâ"t mới được quyền dâng lễ lên vua trên trời: Nhưng từ khi thống soái tiếm quyển thì ông ta 306
  11. cũng tự phong cho mình đặc quyền vựơng giả ấy. Tự ông thực hành dâng lễ ở Soái phủ trong trường hợp có thiên tai như hạn hán, đói kém, bệnh dịch. Không người nào được phép dâng lễ cho thượng đế mà không bị ghép vào tội chết." [Samuel Baron 2008 (1723): 1985-86] 2- P hật giáo. "Có ngưòi thò kính thần Phật kể ở trên; cứ chung chung mà nói thì họ ít sùng Phật (nơi họ chỉ cầu những lợi lộc trần gian), một phần vì họ thông minh, họ nhận ra sự giả trá của thứ đạo này, một phần vì không đủ chư tăng xứng đáng, những vị này không thuộc phái nhà nho1, lại không đủ tư cách dể thuyết phục; hoặc vì họ ưa ngành võ bị hơn2, đặc biệt là pháo binh và súng ông mà họ tỏ ra rất thiện nghệ." [Giuliano Baldinotti 1626 (1629, 1903)] "Vé giáo phái dị doan thứ hai của người Đàng Ngoài: Giáo phái thứ hai người Đàng Ngoài tin theo (gọi là Đạo Thích), Người sáng lập đạo này, theo kinh sách của họ, và tập truyền của họ, là con một ông vua Ân Độ, người Nhật gọi là Xaca, ngưòi Tàu gọi là Xechia và người Đàng Ngoài gọi là Thích Ca, mỗi nơi dọc sai đi một chút. Họ nói là ngài sống vào khoảng một ngàn năm trước công lịch3. Thân phụ ngài là Tịnh Phạn cai trị nước Ân Độ cùng một thòi VỚI vua Salomon. Đức Thích 1. ở đây hé mở cho chúng ta nhận thấy sự xung đột giữa hai khuynh hướng Phật và Khổng, Phật giáo và Khổng giáo. Phật giáo thịnh hành nhất vào đời Lý - Trần, nhưng sang đời Nguyễn thì Nho giáo được tôn trọng hơn. 2. Trịnh Tráng ở miền Bắc phải đương đầu với Nguyễn Phúc Nguyên ở miền Nam, cho nên việc tập luyện về võ nghệ rất mực quan trọng, nhất là so với lực lượng xứ Nam, xứ Bắc đuối thế hơn nhiều. 3. Về Phật giáo, xem thêm Borri và Phép Giảng tám ngày. 307
  12. Ca chưa đầy mười bảy tuổi thì đã kết duyên với một công chúa trẻ tuổi tên là Adulala, con gái một vua Ân khác. Hai năm sau thì sinh hạ được một con gái tên là Hầu La. Nhưng (...) ngài đã r ú t lui ẩn dật trong rừng hẻo lánh, ngoài ý của th â n phụ ngài (người rất không bằng lòng), cũng như vợ ngài, bà rắt phàn nàn về sự ly thân này. Sau năm năm, ngài trở vê cung điện vua cha (...), nỗ lực phổ biến học thuyết của mình trong tâm trí dân chúng. Nhưng vì do những nguyên lý đệ nhâ't của lý trí, tính tự nhiên con người không nhận sai lầm và khó bỏ được niềm tin tưởng từ bên trong cho biết là có một thần thánh, nghĩa là một hiện hữu và nguyên nhân đệ nhất làm cội nguồn cho tấ t cả những gì không thể có hiện hữu tự mình được, nên ngài không tìm được kẻ tin theo ngài và làm môn đệ ngài. Đức Thích Ca bực tức vì không được kết quả trong công việc, liền dựa vào lời bàn của thần thánh quen thuộc đã gieo rắc một thứ chuyện hoang đường về thần thánh (...) Thê là có th àn h quả ngay đến nỗi trong bốn mươi năm hoạt động..., vừa dựa vào quyền thế, vừa dựa vào ma thuật, ngài đã cho th àn h lập và phổ biến khắp Ân Độ tín ngưỡng trước đây chưa ai biết... Ngài còn khôn khéo làm cho dân chúng theo tư tưởng mà ngài đã nghiền ngẫm, đó là những thưởng công trên trời đối vói kẻ lành và hình phạt dưới địa ngục đôi với kẻ dữ. Do cách này mà đạo được lan tràn ở Ân Độ (...)• Ngài nói là tất cả những gì ngài giảng dạy chỉ là một bức màn che, màn che những bí quyết về thân xác mà ngài đã giải thích sơ lược (...)• Thế rồi sau khi đã giảng dạy như vậy thì ngài qua đời... Đạo Thích Ca do ngài khởi xướng bởi đâu mà truyền đạt từ An qua Trung Quốc, rồi sau đó vào Lối Đàng Ngoài như 308
  13. chúng tôi đã nói, lúc đó chỉ là một tỉnh nội thuộc nước Tàu. Thật khó mà biết đích xác vì sự viộc đã cũ kỹ lắm rồi. Nếu theo sử liệu Tàu thì do một sứ thần Trung Quổc đã được vua Hán Minh Đế phái tới Tây phương để thỉnh chính đạo, theo như Thượng dế đã báo cho ông trong mộng. Đáng lẽ ông phải qua Tây phương, như lệnh và việc Người ủy thác cho ông, nhưng ngại đường xa và những khó khăn hành trình, ông đã dừng lại ở Ân Độ. Ớ đây ông học hỏi người Balamôn, được biết kinh sách và pháp thuyết Phật (nghĩa là) nhà hiền triết, tên người ta đặt cho Thích Ca như chúng tôi đã nói. Ong đã dưa vê cho vua Trung Quốc là người đầu tiên cho gia nhập vào nước mình đạo giáo này..." [Alexandre de Rhodes 1994 (1651): 41-43] "(Tông phái thứ hai): Tông phái thứ hai do một người ẩn dật tôn là Chacabout (Bụt Thích Ca) được tuyệt đại đa sô" nhân dân tin theo. Ong dạy cho người ta Thuyết luân hồi (Transmigration des ames). Những ngươi theo giáo phái này phải theo đúng mơòi lời răn của đức Phật (Thập giới): 1. K hông được giết người. 2. Không được ăn trộm. 3. Không được làm ô uế thân thể. 4. Không được nói dối. 5. Không được lăng nhục người khác. 6. Không được nói hai lòi. 7. Không được th e o th ị dục. 8. Không được đại ngôn. 9. Không được quá giận. 10. Không ngu muội. 309
  14. Những ai đi tu thì phải thoát tục, từ thiện với người nghèo, diệt dục và tĩnh tầm. Ông lại còn thuyết rằng sau cuộc đời trần tục này, còn có mười nơi nữa là hoan lạc và khổ ải, rằng kẻ nào mặc dù đã cố gắng theo đầy đủ thuyết giảng của ông mà còn không thực hiện điểu nào đó, thì kẻ đó sau khi chết tất phải đầu thai làm nhiều kiếp trong ba nghìn năm rồi mới được tới nơi Cực lạc. Nhưng kẻ nào theo được đúng thuyết pháp của ông thì dược một phần thưởng đặc biệt là không phải chịu kiếp luân hồi như những kẻ khác. Chính người đó đã phải chịu mưòi kiếp luân hồi trước khi hưởng vinh quang hiện thời, vì rằng trong những năm đầu của cuộc đời, người đó không nhận thức được những điểu bí ẩn cao siêu đó. Chính Đức Phật là một trong những nhà truyền giáo lón nhất ở châu Á. Ông truyền đạo của mình sang cả Vương quốc Xiêm, Nhật Bản và từ đó truyền vào Đàng Ngoài1." [Jean - Baptiste Tavernier 2007 (1681): 92-93] "(Phật giáo): Tôn giáo thứ hai là P h ậ t giáo thò thần. Phật tử phần lớn là những người đói rách, bình dân, đặc biột là phụ nữ và hoạn quan. Học thuyết của họ dựa trên sự tôn thò hình ảnh và lòng tin vào thuyết luân hồi. Họ cúng bái ma quỷ để chúng không làm hại họ, họ tin vào vị thần linh gồm ba người hợp nhất. Họ sông trong chùa và theo lối sông khổ hạnh. Họ nghĩ rằng việc làm của họ đem đến cho họ những giá trị, trong lúc vô sô" kẻ ác sẽ phải chịu các cuộc tra khảo và vô sô kẻ mê tín điên rồ khác. Họ cũng không có linh mục dể giảng và truyền bá đạo. Họ chỉ có thầy (Sayes) hay SƯ (Tavernier đã gọi nhầm là linh mục) Họ cũng có những bà vãi 1. Điều này không đúng với thực tế lịch sử. 310
  15. sông quanh chùa, đôi khi ở ngay trong chùa. Các bà vãi thường được mời tham gia các buổi lễ với trông, kèn và nhạc cụ khác. Họ sông phần lớn nhờ có bô' thí và khuyến giáo. Tóm lại, các tôn giáo này đã truyền bá rất rộng giả tưởng và những trò lô" bịch của họ, thực tế đã gieo rắc sự ly giáo và bịp bợm của họ tại một phần hay toàn bộ vùng phương Đông rộng lớn. Đàng Ngoài, Trung Quốc, Triều Tiên, Đài Ĩj0 an, Campuchia, Xiêm (Thái Lan), bồ Biển Coromandel (Côromanđen), bò Biển Bongale... Nó được du nhập từ Trung Quốc vào hai vùng cuối cùng nói trên như sau: Một Hoàng đế Trung Hoa được biết có một luật rất hay truyền bá ở phương Tây, rất có hiộu quả trong việc dạy cho dân sự khôn ngoan và đức hạnh. Ong cũng biết rằng, các nhà bác học và truyền giảng đều là những người ưu tú vì đời sông gương mẫu và việc làm kỳ diệu của họ Hoàng đế bòn phát một sô" hiền triết đi tìm bằng được đạo luật đó mang về Trung Quốc. Các sứ giả này đi lang thang trong ba năm thì đến Hinđoustan hay nước Malaban (Malaba). Họ thấy tôn giáo này rấ t phổ cập và được kính nể. BỊ quỷ sứ đánh lừa và chính bản thân họ cũng không muôn lang thang thêm nữa, họ nghĩ đã tìm ra cái họ cần, th ế là không khách khí chút gì, họ lấy luỏn mười hai cuốn sách về chuyện hoang đường, kèm một sô" giai thích. Họ trở về Trung Quốc, được Hoàng đế đón tiếp vui mừng và niềm nở. Hoàng đế hẹ lệnh ngay lập tức phải dạy cho tấ t cả dân chúng học thuyết này. Từ đó, học thuyết ấy đã bám rỗ trong sự mù quáng thảm hại. Tỏi phải nói một điều làm vinh dự cho Giatô giáo. Luật mỏi mà Hoàng đô Trung Hoa nghe nói là bản phổ biến đầu tiôn của Kinh Phúc âm giảng cho người Do Thái và người Gentil của các thánh tông đồ. Bài thuyết giáo ấy có kèm 311
  16. nhiều điều kỳ diệu nên không lạ gi khi tiếng tăm của nó vang tận những nơi xa xôi. Điều đó càng đúng theo những tính toán chính xác nhất thì thòi gian Hoàng đế Trung Hoa được biết về học thuyết trùng khớp vối thòi gian xuât hiện Đấng Cứu thế. Nếu các nhà hiền triết được Hoàng đế phái đi làm tròn nhiệm vụ thì không những đê quốc Trung Hoa mênh mông mà cả những nước chư hầu rộng lớn ngày nay đang chìm đắm trong tà giáo và mê tín dị đoan có thể được cải tạo và đi tới ánh sáng của Giatô giáo. [Samuel Baron 2008 (1723): 1986] "(Sãi ông và gia dinh ở các chùa, việc tụng kinh bằng tiếng cổ Ân Độ): Thế nhưng ở xứ này không thây có những cộng đồng các sư như ở Trung Quốc, mỗi sãi ông (tức thầy sãi chính yếu) ở một phòng sát cạnh chùa với bà vợ và con cái cùng những thầy sãi khác cũng làm việc trong chùa, coi như người phục dịch và thường là những người hy sinh đời mình để phụng thờ thần thánh, v ề các con của thầy sãi thì họ không để cho thừa kế chức vụ, trong khi còn sông họ tìm cho mộl chức vụ khác khá hơn, vì th ế ỏ xứ này có dư luận không tốt đối với các thầy sãi; để thừa kế công việc, họ đặt một trong những thầy phục dịch mà họ cho là có khả năng hơn, có lòng nhiệt thành săn sóc chùa chiền và thần thánh hơn. Sô" các thầy phục dịch không những được dùng trong chùa chiền mà cả trong các đám tang kẻ giàu sang, không phải để chôn cất, việc này thuộc về người khác, như chúng tôi sẽ nói sau, mà để tụng kinh cầu hồn ở giữa ngã ba đường phô", họ dựng bàn thò với những đồ tang, các thầy đứng thành hai hàng và suốt đêm tụng niệm theo cung điệu rất bi thảm, với tiếng nặng nề và cao thấp không đều. Người ta còn nghe hát 312
  17. những kinh bằng thứ tiếng chính người hát cũng không hiểu, họ nói là các bậc tiền bôi truyền lại, người ta cho là những kinh theo tiếng cổ Ân Độ từ buổi đầu đã truyền lại cùng với dị đoan." [Alexandre de Rhodes 1994 (1651): 45] "(Chùa chiền và sư sãi): ớ Vương quốc Đàng Ngoài, ngoài những thành thị là nơi có nhiều chùa chiền, còn thì hầu như làng nào cũng có chùa của làng ấy, mỗi chùa ít ra có hai vị sư và hai thầy sãi. Nhưng có chùa có tới 40 vị sư sống với nhau, dưới quyền của vị sư tổ. Họ tin vào đức Phật Thích Ca và họ thồ một con dê (bouc). Họ deo ở cổ một chuỗi tràng hạt có 100 hạt to bằng gỗ, tay thì chông gậy, ở đầu gậy có một con chim bằng gỗ bóng loáng. Họ đi xin bô" thí để sông. Sư các nước đi cầu thực một cách nghiêm nghị, còn ở đây trái lại sư sãi đi k h â \ thực một cách rất khiêm nhường, chỉ xin đủ dùng thôi; nêu còn thừa thì sau khi ăn xong, họ đem cho những ngưòi đàn bà góa không thể làm lụng để kiếm ăn được và cho những trẻ mồ côi. Luật lệ cho phép họ lấy vợ, miễn là họ ra khỏi nơi Lu hành. Thường thường họ dự vào những đám tang của những đại gia, đọc kinh, gõ mõ, hay thổi kèn, đồng thời cho đánh chuông lớn trong chùa." [Jean - Baptiste Tavernier 2007 (1681): 96] "(Sư sãi ở chùa chiền: giới luật không quá nghiêm khắc, sư sống nhờ voo của bố thí, sư có thể xem bói, quan lại có sư riêng): Có nhiều tu sĩ ngoại giáo ở những ngôi chùa ấy. Người ta nói rằng giới luật buộc họ phải tuân theo những nguyên tắc khổ hạnh, ví như không được gần đàn bà, nhất là phải kiêng nhịn tấl cả mọi Ihức uôYig mạnh và phải sông trong cảnh thanh đạm. Tuy nhiên, không có vẻ gì tỏ ra rằng họ thực hiện các 313
  18. luật lệ ấy một cách đúng mực. Nhưng vì họ hầu như chỉ sông nhò vào đồ cúng bái mà người ta đem đến biếu trong khi họ lại rất đông, cho nên giới tu sĩ thường rất nghèo. Đồ cúng mà người ta mang đến để biếu tu sĩ thông thường gồm một vài nắm gạo, một cơi trầu hoặc một món quà đại loại như thế. Một trong những điều làm cho dân chúng tìm tới đây là để xem bói - điều mà giới tăng lữ tự cho là mình có khả năng. Bởi th ế họ cảm thấy mếch lòng nếu ai đó tỏ vẻ dị nghị về sự hiểu biết của họ hoặc hoài nghi về giáo lý họ đang phụng sự. Họ sống trong những nếp nhà nhỏ và tồi tàn ngay cạnh chùa và họ luôn ở đấy để dâng lên thần thánh những lòi cầu xin của kẻ bần dân - những người rất hay tới đây với mục đích ấy. Bởi người nghèo không có thời gian cầu nguyện nhất định, hoặc giả với họ ngày nào cũng như ngày nào, ngoại trừ những ngày lễ hàng năm của họ. Người nghèo viết ra những điều họ muôn cầu xin và đem đến cho tu sĩ. Vị tu sĩ đọc to điều cầu xin trước tượng thần rồi đcít tờ giấy có lồi cầu khẩn trong một bình hương; người cầu xin luôn phủ phục trong quá trình hành lễ. Tôi cho rằng quan lại và những nhà giàu sang ít khi đến chùa nhưng họ lại có một tăng lữ riêng - người đọc các bản cầu xin ở ngay nhà hoặc sân của gia chủ. Có vẻ như quan lại có cảm nhận về bậc thần thánh tốt hơn so vói dân thưòng bởi vì trong sân vườn của họ không có tượng thần đặt trưốc người hành lễ mà người ta chỉ việc ngước mắt nhìn lên trời. Khi họ ngỏ lòi cầu xin như vậy, họ cho sửa soạn rất nhiều món thịt ngon và tập hợp tất cả gia nhân vào trong sân nơi hành lễ. Ngưòi ta bày biện các món thịt ấy lên trên một cái bàn - chỗ người ta đặt thêm 2 bình hương - sau đó vị quan đưa cho tu sĩ một tờ giấy để ông này đọc to lên: mở đầu là một 314
  19. bài kể lể những thứ mà đức Thượng đế đã ban cho ông quan nọ ví như sức khỏe, của cải, danh vọng, ân điển của đức vua... và tuổi thọ nếu ông ta đã già rồi. Cuối cùng là lòi cầu xin len đức Thượng đê để Ngưòi tiếp tục ban cho những ân huệ, thậm chí ban cho nhiều thêm nữa." [VVilliam Dampier 2007 (1699, 1931): 77-78] "(Chúa bắí nhà sư di lính): Họ vốn là những người có cuộc sông lười nhác, vô dụng và khôn khổ. Khi em tôi ở xứ này, chúa là kẻ thù của những ke lang thang lêu lổng (vagabonđs). Chúa cho gọi một phần lớn sư sãi là những kẻ lười nhác vô dụng đôn trước mặt. Khi họ tới nơi, chúa chọn trong bọn họ những người khỏe mạnh nhất, thân thể cường tráng nhất và phái họ di làm lính đóng ở biên thùy.M [Jean - Baptiste Tavernier 2007 (1681): 94] 3- Dạo giáo. nvể giáo phái thứ ba của người Đàng Ngoài và những phù phép cho người đau yếu: Giáo phái tôi nói ở đây thì tệ hại hon hết tất cả những giáo phái thịnh hành ở xứ Đàng Ngoài, vì rất phô thông và rất liên quan tới ma quỷ. Vì những kẻ tin theo thưòng dùng ma thuật và tận tụy tuân lệnh thần linh ma quái. Người sáng lập là Lão T ừ , nhà ma thuật đồi xưa rất đanh tiếng, đã có và còn có rất nhiều đồ đệ có uy tín với chúa và tất cả kẻ sang trọng trong nước. Chẳng có gì đáng khen, chính chúa và các quan trong phủ cùng bị truyền nhiễm. Điều làm cho giáo phái này dưdc uy tín đó là việc chữa lành các bộnh làm cho dư luận tin theo. Tuy trong nước cũng có 1. Thực ra không phải lý thuyết uyên thảm của Lão Tử trong Đạo đức kinh, nhưng là những phù phép ma thuật. 315
  20. lương y rất có khả năng chữa bệnh, thế nhưng những người có th ế giá vẫn quen chạy đến các thầy phù thủy mà họ rất tin, những người này quả quyết dùng bùa ngải để chữa bệnh, chứ không cần thuốc của lương y. Thế nên khi có ai ngã bệnh thì liền sai gia nhân ra phô" chợ, nếu bệnh nhân không thể đi dược, để hỏi một thầy pháp của giáo phái này (không bao giờ thiếu, n h ấ t là những người nghèo và mù sống bằng nghề này) xem bởi đâu và tại ai mà người này mắc phải bệnh. Vì họ mê muội tin rằng họ chỉ lâm bệnh vì có người trong họ hàng hay tổ tiên đã mất, nhưng không được con cháu cúng tế cho phải đạo hiếu. Thế là thầy pháp ném một đồng tiền lên như để bắt thăm, sau đó ông quả quyết bởi ngưòi họ hàng nào đó làm cho sinh bệnh. Người bệnh tin và theo lời ông được tin như lồi thần thánh không được hồ nghi, bệnh nhân cho mời một thầy pháp khác tới nhà để thầy dùng phẩm vật và đồ cúng cầu khân người mà thầy pháp trước cho là kẻ đã gây nên bệnh. Thầy liền cho dọn một ít thịt ngon để làm nguôi lòng người quá cố. Người ta dựng một bàn thò nhỏ trên đó thầy gieo quẻ để xem bệnh nặng nhẹ thê nào. Cách gieo quẻ như sau. Ngưòi ta làm thịt một con gà, cắt lây hai chân ném vào chậu nước sôi, rồi xem kỹ cách đặt và hướng các móng chân để biết điềm chết hay khỏi. Nếu có nguy cơ thì vào khuya thầy cầu khấn hồn giận dữ người đã mất, rung chuông đặt trên bàn thờ để mời hồn tới. Rồi thầy gọi hồn mà thầy tôn là chúa, thầy van nài hồn phù hộ chống đổì kẻ gây nên bệnh hoạn. Nếu thấy bệnh thêm nặng thì thầy lên cơn nguyền rủa hồn người thân quyến đó và suốt đêm rung chuông inh ỏi làm cho bệnh nhân đau đầu khó chịu và không ngủ nghỉ dược. Rồi giả tảng như hồn ngưòi chết đã hưởng hương khói và mùi thịt 316
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2