intTypePromotion=3

Tìm hiểu văn hóa ứng xử với phụ nữ trong thơ chữ Hán của Nguyễn Du

Chia sẻ: ViKakashi2711 ViKakashi2711 | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:8

0
5
lượt xem
0
download

Tìm hiểu văn hóa ứng xử với phụ nữ trong thơ chữ Hán của Nguyễn Du

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Trước đây đã có nhiều công trình nghiên cứu về sáng tác của Nguyễn Du nói chung và mảng thơ chữ Hán nói riêng. Tuy nhiên, các tác giả của nhiều công trình nghiên cứu đó mới chỉ dừng lại ở việc khai thác, khám phá, tìm hiểu về thể loại, ngôn ngữ, nhân vật mà chưa có điều kiện đi sâu nghiên cứu vấn đề văn hóa ứng xử với phụ nữ trong thơ chữ Hán của Nguyễn Du. Do vậy, bài viết này đã bước đầu đưa ra một vài gợi ý trong việc tìm hiểu văn hóa ứng xử với người phụ nữ trong thơ chữ Hán của ông.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Tìm hiểu văn hóa ứng xử với phụ nữ trong thơ chữ Hán của Nguyễn Du

  1. VĂN HÓA - VĂN HỌC v TÌM HIỂU VĂN HÓA ỨNG XỬ VỚI PHỤ NỮ TRONG THƠ CHỮ HÁN CỦA NGUYỄN DU TRẦN THỊ THU HIỀN* *Học viện Khoa học Quân sự,  qkieutuan@gmail.com Ngày nhận bài: 22/8/2018; ngày sửa chữa: 24/12/2018; ngày duyệt đăng: 26/12/2018 TÓM TẮT Trước đây đã có nhiều công trình nghiên cứu về sáng tác của Nguyễn Du nói chung và mảng thơ chữ Hán nói riêng. Tuy nhiên, các tác giả của nhiều công trình nghiên cứu đó mới chỉ dừng lại ở việc khai thác, khám phá, tìm hiểu về thể loại, ngôn ngữ, nhân vật mà chưa có điều kiện đi sâu nghiên cứu vấn đề văn hóa ứng xử với phụ nữ trong thơ chữ Hán của Nguyễn Du. Do vậy, bài viết này đã bước đầu đưa ra một vài gợi ý trong việc tìm hiểu văn hóa ứng xử với người phụ nữ trong thơ chữ Hán của ông. Từ khóa: Nguyễn Du, phụ nữ, thơ chữ Hán, văn hóa ứng xử 1. MỞ ĐẤU của khái niệm này, nên bắt đầu từ ý nghĩa của hai từ ghép trên. Có thể nói rằng, thơ chữ Hán (thể hiện qua ba tập thơ: Thanh Hiên thi tập, Nam trung tạp ngâm Từ xưa đến nay có rất nhiều các học giả trong và Bắc hành tạp lục) của Nguyễn Du đã được nước và thế giới bàn về khái niệm văn hóa. Phan nghiên cứu sâu sắc trên nhiều bình diện, nhiều Ngọc trong cuốn “Bản sắc văn hóa Việt Nam” đã lĩnh vực khác nhau bởi thơ chữ Hán của ông vô nêu ra định nghĩa về văn hóa: “Văn hóa là mối cùng phong phú và đa dạng. Tuy nhiên, như nhiều quan hệ giữa thế giới biểu tượng trong óc một cá tác phẩm thơ chữ Hán của các tác giả cùng thời, nhân hay một tộc người với cái thế giới thực tại thơ chữ Hán của Nguyễn Du là đối tượng ẩn chứa ít nhiều đã bị cá nhân này hay tộc người này mô nhiều điều mới mẻ, bất ngờ, thú vị. Do vậy, chưa hình hóa theo cái mô hình tồn tại trong biểu tượng. thể có một công trình nào nghiên cứu trọn vẹn về Điều kiện rõ nhất chứng tỏ mối quan hệ này, đó là mảng sáng tác này của đại thi hào. Bài viết của văn hóa dưới hình thức dễ nhận thấy nhất, biểu chúng tôi không có tham vọng đi sâu tìm hiểu hết hiện thành một kiểu lựa chọn của cá nhân hay của những nét mới mẻ ấy mà chỉ dừng lại khám phá tộc người khác” (Phan Ngọc, 1998, tr.17-18). Tác những đặc điểm tiêu biểu về văn hóa ứng xử với giả Trần Ngọc Thêm đưa ra một định nghĩa ngắn phụ nữ trong thơ chữ Hán của Nguyễn Du. gọn và bao quát về văn hóa: “Văn hóa là một hệ thống hữu cơ có giá trị vật chất và tinh thần do 2. NỘI DUNG con người sáng tạo và tích lũy trong quá trình hoạt 2.1. Thế nào là văn hóa ứng xử động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội của mình” (Trần Khái niệm văn hóa ứng xử được kết hợp bởi Ngọc Thêm, 1999, tr.25). Như vậy, văn hóa có thể hai từ văn hóa và ứng xử. Để hiểu được nội hàm hiểu là một hệ thống được định hình và phát triển KHOA HỌC NGOẠI NGỮ QUÂN SỰ Số 17 (01/2019) 61
  2. v VĂN HÓA - VĂN HỌC trong quá trình lịch sử, bao gồm nhiều yếu tố hợp quan hệ giữa người với người trên các căn cứ thành như hệ giá trị, tập quán, thói quen, lối ứng pháp luật và đạo lý nhằm thúc đẩy nhanh sự phát xử, các chuẩn mực xã hội; nó mang tính ổn định, triển của cộng đồng, của xã hội”. Phạm Vũ Dũng bền vững và có khả năng di truyền qua nhiều thế (1996, tr.27) cũng định nghĩa: “Văn hóa ứng xử là hệ, là nền tảng của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là hệ thống tinh tuyển những nếp ứng xử, khuôn mẫu động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội. ứng xử, chuẩn mực ứng xử, trong mối quan hệ ứng xử giữa con người với những đối tượng khác thể Còn khái niệm ứng xử được hiểu như thế nào? hiện qua ngôn ngữ, hành vi, nếp sống tâm sinh lí… Theo “Từ điển tiếng Việt” do GS Hoàng Phê chủ Trong quá trình phát triển và hoàn thiện đời sống, biên thì nghĩa của từ ứng mang hai nội dung chính nó đã được tiêu chuẩn hóa, xã hội hóa trở thành sau: thứ nhất là đáp lại, lên tiếng đáp lại lời kêu chuẩn mực của cá nhân, nhóm xã hội, toàn bộ xã gọi; thứ hai là mối quan hệ phù hợp tương đối với hội; phù hợp với đời sống xã hội, với đặc trưng nhau. Còn xử có nghĩa là hành động theo cách nào bản sắc của văn hóa dân tộc, một quốc gia,… đó, thể hiện thái độ với người khác trong một hoàn được cá nhân, nhóm xã hội, cộng đồng, toàn bộ xã cảnh cụ thể nhất định. hội thừa nhận và làm theo”. Bách khoa toàn thư Xô Viết có định nghĩa Tóm lại, văn hóa ứng xử là “hệ thống ứng xử khá ngắn gọn về ứng xử: “Hệ thống các quan hệ giữa con người và thế giới tự nhiên - vũ trụ và hệ tương tác, các phản ứng được thực hiện bởi các thống ứng xử giữa con người với nhau hay trong vật thể sống để thích nghi với môi trường. Ứng xã hội loài người” (Bùi Thiết, 2000, tr.98). xử (hành vi, tập tính) của động vật và con người được nghiên cứu bởi các ngành Tập tính học, Tâm 2.2. Văn hóa ứng xử với phụ nữ trong thơ lý học, Xã hội học” (Theo Trần Thúy Anh, 2000, chữ Hán của Nguyễn Du tr.17). Như vậy, ứng xử là quan hệ tương tác, phản ứng giữa tự nhiên, con người và cộng đồng. Văn hóa là sản phẩm của con người, là sự thích ứng trước thử thách mà thiên nhiên đặt ra cho con Trong truyền thống văn hóa của người Việt người. Cách ứng xử đó làm thành nét văn hóa đặc Nam, ông cha ta đặc biệt quan tâm đến vấn đề, sắc trong nền văn hóa chung của nước Việt. Văn giao tiếp ứng xử, văn hóa ứng xử. Ứng xử của hóa Việt được hun đúc từ trong lịch sử, gắn chặt con người trong xã hội không diễn ra một cách yếu tố cộng đồng, yếu tố cá nhân và trong quá tùy tiện, ngẫu nhiên mà chúng được lặp đi lặp lại trình phát triển, nó được tinh lọc thành bản sắc với thường xuyên bởi nhiều người trong cả không những giá trị nổi bật của tinh thần dân tộc, trong gian lẫn thời gian và do đó, nó đã tạo thành những đó có tình yêu thương con người. Văn hóa ứng xử khuôn mẫu. Cái khuôn mẫu ấy được coi là ứng xử trong thơ chữ Hán của Nguyễn Du đã phát huy có văn hóa. được truyền thống đó, đặc biệt là văn hóa ứng xử với người phụ nữ. Có thể coi, văn hóa ứng xử là “cầu nối, sự đan xen yếu tố bên trong (nội tâm) và yếu tố bên ngoài Thơ chữ Hán của Nguyễn Du đã nêu lên nỗi (ngoại tâm). Nó là điểm cuối cùng của những gì thống khổ của người phụ nữ trong xã hội phong diễn biến trong tâm lí con người và là điểm bắt kiến bằng một thái độ thương mến, trân trọng. Bởi đầu trong hành vi ứng xử của hành động” (Đỗ ông hiểu hơn ai hết, phụ nữ là hạng người xấu số bị Long, 2008, tr.74). Bản chất của văn hóa ứng xử vùi dập nhiều nhất. Khi khảo sát thế giới nhân vật thể hiện thông qua các biểu tượng. Đỗ Long (2008, trong ba tập thơ chữ Hán của Nguyễn Du, chúng tr.73) cho rằng:“Văn hóa ứng xử là một hệ thống tôi nhận thấy ông viết nhiều về những người phụ thái độ, hành vi được xác định để xử lý các mối nữ trong lịch sử Trung Hoa như: các bà vợ của KHOA HỌC NGOẠI NGỮ QUÂN SỰ 62 Số 17 (01/2019)
  3. VĂN HÓA - VĂN HỌC v Vua Thuấn; chị em Tiểu Kiều, Đại Kiều thời Tam quên viếng hai bà bằng chén rượu và trầm ngâm Quốc; Dương Quý Phi; Ngu Cơ; ba người đàn bà tưởng tượng ra tiếng đàn của hai bà: ở núi Tam Liệt;… Nhưng Nguyễn Du đặc biệt rỏ nước mắt thương xót cho hai đối tượng phụ nữ, “Bình ba nhật mộ Tương Đàm viễn, thứ nhất là kiểu phụ nữ danh tiếng, thứ hai là kiểu Bôi tửu bằng lan điếu nhị phi” phụ nữ tài hoa nhưng bất hạnh. Nguyễn Du đã từng nói: “Ngựa không chết già, liệt nữ không chết (Tương Đàm sóng lặng đường chiều thẳm, bệnh, người có khí phách khác thường thì trời đất Rượu viếng hai bà đứng tựa lan) không có chỗ dung” (Lê Thu Yến, 1999, tr.99). (Thương Ngô mộ vũ- Bắc hành tạp lục) Quả đúng là như vậy. Hoặc: “Ngu vương táng xứ vô khâu mộ, 2.2.1. Nguyễn Du bộc lộ thái độ (cái nhìn) Thủy diện huyền thanh tự nhị phi” xót xa, thông cảm trước nỗi thống khổ của người phụ nữ danh tiếng trong xã hội phong kiến (Nơi táng vua Thuấn không thấy mồ mả, Tiếng đàn trên mặt nước nghe như tiếng đàn Đối với kiểu phụ nữ danh tiếng, Nguyễn Du có của hai bà phi) cách nhìn xót xa, thông cảm, đồng cảm sâu nặng đối với họ. Nhà thơ nhìn thấy nỗi thống khổ của (Thương Ngô trúc chi ca III - Bắc hành tạp lục) những người phụ nữ này. Bởi chính họ cũng phải gánh chịu nhiều mất mát, đau khổ trong cuộc đời. Bên cạnh đó, Nguyễn Du tỏ sự thương tiếc, Dưới con mắt của Nguyễn Du, kiểu người phụ nữ kính trọng với ba người phụ nữ tiết liệt như Trương danh tiếng như hai bà phi Nga Hoàng và Nữ Anh Thị, Quách Thị và Lưu Thị đời Minh. Họ đã kiên (vợ Vua Nghiêu - Thuấn), Dương Quý Phi,… luôn quyết chống lại bọn hung bạo và hi sinh để giữ là đối tượng được ông quan tâm. mình được trong sạch. Tấm gương đó nghìn đời vẫn còn sáng mãi: Nguyễn Du thật sự ngưỡng mộ hành động của hai bà phi Nga Hoàng và Nữ Anh khi đi tìm chồng. “Thiên thu bi kiệt hiển tam liệt, Hai bà ngồi khóc bên dòng sông Tương, những Vạn cổ cương thường thuộc nhất môn” giọt nước mắt nhỏ vào những cây trúc trở thành những “vết lốm đốm”: (Bia kệ nghìn năm làm rạng danh ba người đàn bà tiết liệt, “Ngu Đế nam tuần cánh bất hoàn, Cương thường vạn thuở thuộc về một nhà) Nhị Phi sái lệ trúc thành ban” (Tam liệt miếu - Bắc hành tạp lục) (Vua Ngu Thuấn đi tuần ở phương Nam, không trở về nữa Dương Quý Phi là một quý phi được vua Hai bà Phi khóc, nước mắt rưới vào khóm trúc Đường Minh Hoàng vô cùng sủng ái, sắc đẹp thành vết lốm đốm) nghiêng nước nghiêng thành nhưng lại bị đổ tội (Ngô Thương tức sự - Bắc hành tạp lục) oan chỉ vì vua quan bất tài không đuổi được giặc, cuối cùng nàng phải thắt cổ tự tử ở đèo Mã Ngôi. Hành động của hai bà làm cho Nguyễn Du rất Người đời mắng chửi và nguyền rủa Quý Phi, xem xúc động. Trước hành động và cử chỉ cao đẹp đó, nàng là tội nhân của đất nước. Trong khi cả triều nhà thơ đã dành cho hai bà bốn bài thơ trong tập đình “đều như phỗng đứng” thì Nguyễn Du lại là “Bắc hành tạp lục” (Thương Ngô tức sự, Thương người lên tiếng minh oan cho người con gái họ Ngô mộ vũ, Thương Ngô trúc chi ca - bài 3 và bài Dương và những mỹ nhân ngày xưa mắc tội làm 8). Khi có dịp đến sông Tương, Nguyễn Du không “khuynh thành vong quốc”: KHOA HỌC NGOẠI NGỮ QUÂN SỰ Số 17 (01/2019) 63
  4. v VĂN HÓA - VĂN HỌC “Tự thị cử triều không lập trượng, Không dừng lại ở chỗ chỉ miêu tả, than vãn, Uổng giao thiên cổ tội khuynh thành” thương cảm cho hoàn cảnh sầu thảm, bi đát, khốn cùng của những người phụ nữ đẹp, tài hoa hơn (Chỉ vì cả triều đều như phỗng đứng, người mà đồng thời với việc tái hiện bi kịch cuộc Mà nghìn năm còn đổ tội oan cho sắc đẹp đời của họ, Nguyễn Du luôn bộc lộ thái độ trân nghiêng thành) trọng, nâng niu nhan sắc và tài năng của người phụ nữ. Trong thi phẩm của Nguyễn Du, người đọc (Dương Phi cố lý - Bắc hành tạp lục) hôm nay có thể nhận thấy ông luôn đề cao vấn đề Tình cảm của Nguyễn Du không chỉ dừng lại dân chủ, bình đẳng đối với phái đẹp. Phải chăng vì ở chỗ thông cảm mà còn đi đến chỗ đồng cảm với thế, những bài thơ chữ Hán của Nguyễn Du viết về những người phụ nữ phải gánh chịu nhiều mất người đẹp là những bài thơ hay nhất trong di sản mát, đau khổ trong đời. Cuộc đời nhà thơ cũng đã thơ chữ Hán của ông. Bởi mỗi bài thơ đều lắng sâu trải qua nhiều đau khổ, do vậy, hơn ai hết ông hiểu những suy tư, trăn trở của thi nhân về thân phận những nỗi bất hạnh mà cuộc đời gây ra cho mình con người bị đọa đầy trong một xã hội mà mọi giá cũng như những người phụ nữ khác. Nguyễn Du trị đều bị đảo lộn. đã viết về họ bằng những vần thơ chân thành, giản Đọc thơ chữ Hán của Nguyễn Du chúng ta thấy dị. Điều đó cho thấy tác giả có con mắt tinh tế, tấm nàng Tiểu Thanh trong “Độc Tiểu Thanh ký”, cô lòng “nghĩ suốt nghìn đời” và tâm hồn nhạy cảm Cầm trong “Long Thành Cầm giả ca”, người ca nữ với mọi số phận con người trong xã hội. không tên đất La Thành trong “Điếu La Thành ca 2.2.2. Nguyễn Du thể hiện thái độ nâng niu, giả”, mỗi người mang một vẻ đẹp khác nhau. Chỉ trân trọng trước tài năng và nhan sắc của người qua một vài nét chấm phá, vẻ đẹp ngoại hình của phụ nữ trong xã hội phong kiến những người phụ nữ trong thơ chữ Hán Nguyễn Du hiện lên thật quyến rũ. Đó là vẻ đẹp phong Một đặc điểm nổi bật trong thơ chữ Hán của nhã, kiêu sa, trong sáng ở cô Cầm đang độ tuổi Nguyễn Du được nhiều nhà nghiên cứu thừa nhận hoa niên: đó là thơ Nguyễn Du đã bày tỏ tiếng lòng đặc biệt thương cảm đối với người phụ nữ tài hoa nhưng “Hồng trang yểm ái đào hoa diện bất hạnh. Câu chuyện “hồng nhan bạc mệnh” của Đà nhan hám thái tối nghi nhân” các mỹ nhân là vấn đề có căn cứ từ thực tại ở xã (Áo hồng cũng bị mờ nhạt đi trước khuôn mặt hội phong kiến. Câu chuyện này, ngoài Nguyễn hoa đào, Du cũng còn nhiều tác giả khác quan tâm. Song Má hồng vì men rượu, dáng ngây thơ, rất dễ thương). có lẽ Nguyễn Du là người quan tâm đặc biệt nhất. Bởi trong thơ của mình, ông không chỉ quan tâm (Long Thành Cầm giả ca- Bắc hành tạp lục) đến cái đẹp của người phụ nữ như một thứ nhan sắc người đời thường nghĩ đến mà quan trọng hơn, Hay vẻ đẹp của nàng ca nữ đất La Thành. Nàng ông xem cái đẹp ở người phụ nữ như một thân đẹp như một cành hồng thắm từ cõi tiên sa xuống, phận, một hiện hữu, một nhân vị giữa cuộc đời. sắc đẹp làm rung động cả sáu khu trong thành: Tuy hình ảnh người phụ nữ xinh đẹp, tài hoa “Nhất chi nùng diễm há Bồng Doanh xuất hiện trong thơ chữ Hán của Nguyễn Du không Xuân sắc yên nhiên động lục thành” nhiều nhưng sự xuất hiện của họ luôn để lại ấn (Một cành hoa hồng thắm từ cõi tiên sa xuống tượng và sự ám ảnh trong lòng người đọc. Đó là Sắc xuân đẹp tươi làm rung động cả sáu khu nàng Tiểu Thanh trong “Độc Tiểu Thanh ký”, là cô Cầm trong “Long Thành Cầm giả ca”, là người trong thành) ca nữ đất La Thành trong “Điếu La Thành ca giả”. (Điếu La Thành ca giả - Thanh Hiên thi tập) KHOA HỌC NGOẠI NGỮ QUÂN SỰ 64 Số 17 (01/2019)
  5. VĂN HÓA - VĂN HỌC v Nhưng cuộc đời lại bạc mệnh. Nàng chết trẻ, trong cuộc đời với một tấm lòng trân trọng, nâng lúc sống đã không rửa được nghiệp phấn son, niu. Những phụ nữ mà thi nhân không hề quen biết chết đi còn để lại tiếng gió trăng. Nguyễn Du xót đã lưu lại trong cảm thức của ông những nét đẹp thương cho người con gái ấy: độc đáo - đó là vẻ đẹp thiên phú mà không phải ai cũng có: vừa e ấp, dịu dàng vừa rực rỡ, cuốn hút, “Thiên hạ hà nhân liên bạc mệnh quyến rũ đến mê hồn (Quan niệm này nhất quán Trủng trung ưng tự hối phù sinh trong các sáng tác cả chữ Nôm và chữ Hán của Yên chi bất tẩy sinh tiền chướng Nguyễn Du mà “Truyện Kiều” là đỉnh cao). Phong nguyệt không lưu tử hậu danh” Song những người phụ nữ mà chúng ta bắt gặp (Thiên hạ, ai là người thương kẻ bạc mệnh? trong mảng thơ chữ Hán của Nguyễn Du không Dưới mồ chắc cũng hối hận cho kiếp phù sinh chỉ đẹp ở ngoại hình, họ còn là những phụ nữ Nghiệp chướng phấn son lúc sống đã không rửa sạch mang vẻ đẹp nội tâm, là những người thực sự có Sau khi chết chỉ để lại tiếng trăng gió) tài năng nghệ thuật. Mỗi người có một tài riêng: (Điếu La Thành ca giả - Thanh Hiên thi tập) Tiểu Thanh có tài thơ, cô Cầm có tài đàn, cô gái đất La Thành có tài ca hát. Và đặc biệt, tài năng Còn với nàng Tiểu Thanh, Nguyễn Du chỉ của những người phụ nữ này trong cái nhìn của nhắc đến hình ảnh “Tây hồ hoa uyển” cũng làm Nguyễn Du luôn xuất sắc hơn người. Câu danh người đọc mấy trăm năm sau xúc động, nhớ đến ngôn “Sự thông minh và tinh tế ở người đàn bà một vẻ đẹp phong lưu, ngọc ngà, kiều diễm được là thứ nhan sắc không bao giờ tàn phai”, có lẽ rất lưu truyền trong dân gian như huyền thoại. Thế xứng đáng dành tặng cho những người đẹp trong nhưng những người phụ nữ tài hoa ấy có khi nào thi phẩm của Nguyễn Du. được sống hạnh phúc? Có một vấn đề gần như là quy luật của muôn đời 2.2.3. Nguyễn Du thể hiện niềm khao khát về trong cuộc sống (nhất là trong xã hội phong kiến) quyền được sống, được tự do, bình đẳng, hạnh đó là người đàn bà đẹp bao giờ cũng gian truân. Vì phúc của người phụ nữ trong xã hội phong kiến vậy, đã xuất hiện trong nhân gian những cụm từ Xưa nay, khi bàn về trước tác của Nguyễn Du, “hồng nhan đa truân”, “hồng nhan bạc mệnh” như nhiều học giả cho rằng chính những bài thơ chữ một tâm thức hiện sinh ám ảnh biết bao người, nhất Hán của thi nhân đã cho hậu thế thấy phần sâu là đối với phụ nữ. Người đẹp, đặc biệt là người tài kín nhất trong tâm tư, tình cảm của ông. “Tất cả sắc luôn chịu một số phận gian nan, bi kịch mà cái bi kịch rõ nhất là luôn bị lệ thuộc vào người khác những nỗi đau thương u uất như thể dồn lại, về theo những nguyên tắc lễ giáo khắc nghiệt đến phi cuộc đời, về con người, về các triều đại kế tiếp lý của tư tưởng Nho giáo đó là “tại gia tòng phụ, nhau, đã hình thành nên trong nhân sinh quan của xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử” (Ở nhà thì theo Nguyễn Du một ý thức thường trực, một cảm hứng cha, đi lấy chồng thì theo chồng, chồng chết thì bi thiết về sự mong manh của đời người, của số theo con). Vì thế, người phụ nữ hoàn toàn không phận” (Trương Chính, 1978, tr.25). Chúng tôi cho chủ động được cuộc sống của mình, họ không có rằng nhận định trên là hoàn toàn xác đáng. Tuy quyền lựa chọn cho mình cách sống, cách ứng xử, nhiên xem xét những bài thơ chữ Hán của Nguyễn hay thậm chí là không có quyền làm chủ thân xác Du về đề tài người đẹp, thiết nghĩ cần phải bàn và tâm hồn của mình. Trong khi xã hội phong kiến rộng thêm một số giá trị khác như bên cạnh tiếng vốn được xây dựng trên nền tảng tư tưởng Nho lòng xót thương thân phận người phụ nữ thì tiếng giáo coi khinh vai trò của người phụ nữ, nhất là nói thể hiện quan niệm về quyền dân chủ, bình những mỹ nhân thì Nguyễn Du cảm nhận nhan sắc đẳng cho họ đã hiện diện trong thơ chữ Hán của của những người phụ nữ mà ông tình cờ gặp gỡ Nguyễn Du như thế nào? KHOA HỌC NGOẠI NGỮ QUÂN SỰ Số 17 (01/2019) 65
  6. v VĂN HÓA - VĂN HỌC Bài thơ “Độc Tiểu Thanh ký” của Nguyễn Du tôn nữ ti”, Tố Như tiên sinh đã nâng đỡ Tiểu Thanh từng gây ra nhiều tranh luận, nhất là về vấn đề - một phụ nữ yếu đuối, bất hạnh lên ngang bằng tư liệu và hướng nghiên cứu. Để hiểu bài thơ này với chính mình, coi Tiểu Thanh như người tri âm, người đọc thường phải gắn nó cùng câu chuyện tri kỷ, đồng điệu với mình. như một huyền thoại về cuộc đời của một giai nhân họ Phùng tên Tiểu Thanh mà chúng ta đã từng biết. Xuất phát từ bi kịch của nàng Tiểu Thanh để Như vậy, khác với cô Cầm và ca nữ đất La Thành suy ngẫm và bộc bạch quan điểm của bản thân về là những người sống cùng thời, Nguyễn Du từng thế thái nhân tình, quên mình để nghĩ cho người, gặp đó đây trên mọi nẻo đường, Tiểu Thanh là phải chăng đó chính là hồn cốt làm nên hệ giá người đẹp mà Nguyễn Du chỉ được ngưỡng vọng trị nhân văn sâu sắc trong sự nghiệp lớn lao của qua trang sách. Ở đây không nên quá quan trọng Nguyễn Du. Cho nên hai câu cuối của bài thơ vẫn việc xem xét Tiểu Thanh có thật hay không có là sự tiếp nối dòng cảm hứng đau đáu khát vọng thật, sống trước Nguyễn Du ba trăm năm hay mấy của thi nhân: trăm năm như nhiều người đã tranh luận, theo tôi “Bất tri tam bách dư niên hậu bi kịch của nàng Tiểu Thanh chỉ là cái cớ nghệ Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như” thuật để Nguyễn Du giãi bày quan điểm của ông về kiếp người mong manh trong cõi trần ai đầy bất (Không biết hơn ba trăm năm sau trắc, nhất là thân phận của những người phụ nữ Thiên hạ có ai là người khóc Tố Như?) vừa có nhan sắc vừa có tài năng. Nguyễn Du tưởng nhớ Tiểu Thanh và ngưỡng mộ nàng là bởi nàng (Độc Tiểu Thanh ký - Thanh Hiên thi tập) đoan trang, kiều diễm, cao quý, ngọc ngà, nhưng hơn hết còn bởi nàng là một phụ nữ thông minh, Đã có nhiều ý kiến khi bàn về hai câu kết trên. thơ phú tài hoa, tâm hồn phong phú. Di cảo thơ Tuy nhiên, trong tột cùng của nỗi cô độc, không của nàng còn sót lại như tiếng vọng xa xăm kể về tìm đâu người tri âm, tri kỷ, Nguyễn Du hướng câu chuyện bi thương của cuộc đời nàng. Thương đến một dự báo: Mai sau liệu có ai là người khóc tiếc Tiểu Thanh, xót xa cho nỗi oan khổ của nàng, cùng ông những điều đáng khóc? Khóc cùng ông Nguyễn Du đã thốt lên: nỗi đau về thế thái nhân tình? Khóc cùng ông về những đau khổ bất công, đọa đày phi lý mà con “Cổ kim hận sự thiên nan vấn người (đặc biệt là những giai nhân yếu đuối, mong Phong vận kỳ oan ngã tự cư.” manh, xinh đẹp, tài hoa như nàng Tiểu Thanh, hay những thi nhân một đời chỉ biết sáng tạo và trân (Những mối hận cổ kim, khó mà hỏi trời được. quí cái đẹp như ông) phải gánh chịu? Tại sao một Ta tự coi mình như người cùng một hội với kẻ người con gái xinh đẹp, đức hạnh, tài hoa như Tiểu mắc nỗi oan lạ lùng vì nết phong nhã) Thanh lại phải chết oan ức đến vậy? Với ý nghĩa ấy, thông điệp mà bài thơ “Độc Tiểu Thanh ký” của (Độc Tiểu Thanh ký - Thanh Hiên thi tập) Nguyễn Du ký thác cho đời sau có thể coi là một thông điệp vươn đến tầm tư tưởng nhân văn sâu sắc Nguyễn Du tự coi nàng Tiểu Thanh là người của nhân loại. Mà tư tưởng nhân văn sâu sắc ấy là cùng “một hội với kẻ mắc nỗi oan lạ lùng”. Chưa các vấn đề mà cả nhân loại đã, đang và sẽ tiếp tục dám bàn đến vấn đề Nguyễn Du đấu tranh vì bàn luận, đó là quyền được làm vợ, được hưởng quyền dân chủ, tự do, bình đẳng cho phụ nữ nhưng cuộc sống hạnh phúc không bị trói buộc, lệ thuộc rõ ràng ở đây sự cảm thông, chia sẻ với nỗi đau vào đàn ông và quyền được bình đẳng, dân chủ, khổ, oan trái mà người phụ nữ tài hoa, xinh đẹp tự do trong mọi sáng tạo dành cho người phụ nữ. phải gánh chịu đã đạt đến độ kết tinh sâu sắc về tư tưởng: đó là tư tưởng nam nữ bình đẳng, bình Nếu qua số phận bi kịch của người đẹp Tiểu quyền. Không hề ngần ngại trước quan niệm “nam Thanh, bên cạnh tiếng kêu thương cho số phận bất KHOA HỌC NGOẠI NGỮ QUÂN SỰ 66 Số 17 (01/2019)
  7. VĂN HÓA - VĂN HỌC v hạnh của nàng, Nguyễn Du hé lộ cho chúng ta thấy Tiếng mạnh như sét đánh tan bia Tiến Phúc tiếng nói khát khao về quyền bình đẳng, tự do, Tiếng buồn như Trang Tích ngâm tiếng Việt khi dân chủ và hạnh phúc cho người phụ nữ thì trong ốm đau) “Long Thành Cầm giả ca” và “Điếu La Thành ca giả” ông lại có một góc nhìn khác về thân phận của (Long Thành Cầm giả ca - Bắc hành tạp lục) những người đẹp, có tài năng hơn người. Trong cảm thức của Nguyễn Du, đây là tiếng Khác với Tiểu Thanh, cô Cầm và người ca nữ đàn độc đáo, nó là sự kết tinh của trí tuệ mẫn tiệp đất La Thành là những kỹ nữ. Trong quan niệm tuyệt vời và tâm hồn phong phú, tiếng đàn lắng của xã hội, loại người này bị coi là “xướng ca vô đọng bao cung bậc thăng trầm của cảm xúc diệu loài”, luôn hứng chịu những thiệt thòi, bị xem kỳ, vừa tinh tế, vừa da diết nồng nàn, vừa bay bổng thường, khinh miệt, coi rẻ. Song trong con mắt của thiết tha. Chính vì tiếng đàn “tuyệt kỹ” như vậy Nguyễn Du, họ là những nghệ sĩ tài hoa điêu luyện nên nó mê hoặc lòng người, có sức quyến rũ lạ chứ không phải đơn thuần chỉ là những kẻ mua vui thường khiến cho: cho thiên hạ. “Tây Sơn chư thần mãn tọa tận khuynh đảo Trong lần đầu gặp gỡ tình cờ nhưng Nguyễn Triệt dạ truy hoan bất tri bão Du đã nhận ra “chất ngọc” của người đẹp đất Long Tả phao hữu trịch tranh triền đầu thành, ông trân trọng ví cô như “báu vật vô giá đất Nê thổ kim tiền thù thảo thảo Trường An”: Hào hoa ý khí lăng vương hầu Ngũ Lăng thiếu niên bất túc dạo”. “Độc thiện Nguyễn Cầm Cử thành chi nhân dĩ Cầm danh (Các quan Tây Sơn trong tiệc thảy đều nghiêng ngả Học đắc tiên triều cung trung Cung phụng khúc Suốt đêm vui chơi không biết chán Tự thị thiên thượng gian đệ nhất thanh”. Phía tả, phía hữu đua nhau gieo thưởng Tiền bạc coi rẻ như đất bùn (Riêng thạo ngón đàn Nguyễn Cầm Vẻ hào hoa của họ lấn lướt cả bậc vương hầu Người trong thành ai cũng gọi là cô Cầm. Bọn thiếu niên đất Ngũ Lăng thì không đáng kể). Nàng học được khúc “Cung phụng” trong cung triều trước (Long Thành Cầm giả ca - Bắc hành tạp lục) Đó là những khúc nhạc hay nhất, tưởng như từ trên trời đưa xuống trần gian) Nàng Cầm được những người Tây Sơn quí trọng, hâm mộ chính là nhờ tài đàn những bản nhạc (Long Thành Cầm giả ca - Bắc hành tạp lục) “hay nhất ở trên trời cũng như giữa cõi người”. Ngón đàn ấy không tàn phai theo năm tháng. Nó Nguyễn Du đã đặc tả một cách tài tình ngón luôn trường tồn. Nhưng không phải lúc nào cũng đàn tuyệt diệu của kỹ nữ Long Thành trong một có những khách tri âm hiểu và trân trọng. Nguyễn đêm tiệc lớn của các tướng lĩnh Tây Sơn. Tiếng Du đau lòng “bồi hồi không yên, ngẩng lên, cúi đàn của nàng là sự tuyệt vời nơi thượng giới cũng xuống, ngậm ngùi cho cảnh xưa và nay” là vì vậy! như trong chốn nhân gian: Sự ngưỡng mộ đối với tài năng cô Cầm đạt đến độ “Hoãn như sơ phong độ tùng lâm đồng cảm, tri âm sâu sắc của Nguyễn Du cho thấy Thanh như song hạc minh tại âm ở ông xuất hiện một tư duy khác xa với nhiều kẻ Liệt như Tiến Phúc bi đầu toái tích lịch đương thời. Với Nguyễn Du bên cạnh nhan sắc, tài Ai như Trang Tích bệnh trung vi Việt ngâm” năng của người phụ nữ cũng là một hệ giá trị để khẳng định thân phận của họ. Những phụ nữ có tài (Tiếng khoan như gió thoảng qua rừng thông năng xuất chúng cũng hoàn toàn xứng đáng được Tiếng trong như đôi chim hạc kêu lúc đêm khuya hưởng sự vinh danh của xã hội và cộng đồng; tài KHOA HỌC NGOẠI NGỮ QUÂN SỰ Số 17 (01/2019) 67
  8. v VĂN HÓA - VĂN HỌC năng không phân biệt giới tính, đẳng cấp sang hèn. Tài liệu tham khảo: Nguyễn Du đã tạc vào lòng người đọc hình ảnh người đẹp gảy đàn đất Long Thành như một biểu Đào Duy Anh (2000), Việt Nam văn hóa sử cương, NXB tượng của cái Đẹp và Tài năng con người. Hội Nhà văn, Hà Nội. 3. KẾT LUẬN Trần Thúy Anh (2000), Thế ứng xử xã hội cổ truyền của người Việt châu thổ Bắc Bộ qua một số ca dao tục Có thể nói, phụ nữ kết tinh trong mình nhiều vẻ ngữ, NXB Đại học Quốc gia, Hà Nội. đẹp nhưng xã hội phong kiến lại quá khắt khe đối Trương Chính (giới thiệu, 1978), Thơ chữ Hán Nguyễn với họ, Nguyễn Du đã lên tiếng thay họ đòi công bằng, đòi quyền sống và đòi quyền được thừa nhận Du, NXB Văn học, Hà Nội. tài năng. Điều làm nên một nhà thơ lớn Nguyễn Phạm Vũ Dũng (1996), Văn hóa giao tiếp, NXB Văn Du là ông đã đưa hình ảnh người phụ nữ vào trung hóa Thông tin, Hà Nội. tâm của thơ để ca ngợi, trân trọng, để nâng họ lên và hơn hết là để bảo vệ, bênh vực và đòi quyền Đỗ Long (2008), Tâm lí học với văn hóa ứng xử, NXB sống cho họ. Và ngày nay, khi đọc thơ chữ Hán Văn hóa Thông tin và Viện Văn hóa, Hà Nội. của Nguyễn Du, chúng ta thấy rõ hơn tính nhân Phan Ngọc (1998), Bản sắc văn hóa Việt Nam, NXB Văn văn cao cả trong thơ ông, đó là tinh thần đấu tranh hóa Thông tin, Hà Nội. cho quyền sống, quyền làm người của những mỹ nữ tài hoa nhưng bạc mệnh. Trong quan niệm nghệ Trần Văn Nhĩ (2015), Thơ chữ Hán Nguyễn Du, NXB thuật của Nguyễn Du, những mỹ nữ ấy đã hiện hữu Văn hóa - Văn nghệ TP. Hồ Chí Minh. không phải chỉ bởi nhan sắc tuyệt trần mà còn là người đa tài, đa cảm, đa tình, biết yêu cái đẹp dẫu Bùi Thiết (2000), Cảm nhận về văn hóa, NXB Văn hóa bi kịch đến đâu vẫn luôn khát khao hướng đến tự Thông tin, Hà Nội. do trong tình yêu và cuộc sống. Như vậy, những Trần Ngọc Thêm (1999), Cơ sở văn hóa Việt Nam, NXB nét ứng xử với người phụ nữ trong thơ chữ Hán của Giáo dục, Hà Nội. Nguyễn Du có thể được xem là nét đẹp của văn hóa truyền thống Việt Nam góp phần làm nên vẻ đẹp Lê Thu Yến (1999), Đặc điểm nghệ thuật thơ chữ Hán nhân văn nổi bật trong thơ chữ Hán Nguyễn Du./. Nguyễn Du, NXB Thanh niên TP. Hồ Chí Minh. UNDERSTANDING THE CODES OF BEHAVIOR TOWARDS WOMEN IN NGUYEN DU’S HAN POETRY TRAN THI THU HIEN Abstract: Previously there were many studies on the composition of Nguyen Du in general and the poetry in Han script in particular. However, the authors of those studies have only explored the genres, languages and characters in the poems, in which no one has been able to deepen the study of codes of behavior in terms of dealing with women in Han poetry by Nguyen Du. This article will provide some initial suggestions for understanding the codes of behavior towards women in Nguyen Du’s Han poetries. Keywords: Nguyen Du, women, Han poetry, codes of behavior Received: 22/8/2018; Revised: 24/12/2018; Accepted: 26/12/2018 KHOA HỌC NGOẠI NGỮ QUÂN SỰ 68 Số 17 (01/2019)

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản