VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN VĂN LƯỢM
TÍN NGƯỠNG THỜ CÚNG TỔ TIÊN
CỦA NGƯỜI KHMER Ở TỈNH TRÀ VINH
Ngành: Văn hóa học
Mã số: 9 22 90 40
LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HÓA HỌC
Người hướng dẫn KH: PGS.TS. NGUYỄN THỊ YÊN
HÀ NỘI - 2023
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng cá nhân tôi trong
quá trình viết luận án. Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong luận án đảm bảo tính
chính xác, tin cậy và trung thực.
Người cam đoan
NGUYỄN VĂN LƯỢM
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .................................................................................................................... 1 Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU ......................................................................................... 8 1.1.Tổng quan tình hình nghiên cứu ........................................................................ 8 1.1.1. Nghiên cứu tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên từ các góc nhìn ........................... 8
1.1.2. Các nghiên cứu về giao lưu và tiếp biến văn hóa trong tín ngưỡng thờ
cúng tổ tiên ......................................................................................................... 19
1.1.3. Nghiên cứu tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Khmer...................... 23
1.1.4. Nhận xét chung ......................................................................................... 26 1.2. Cơ sở lý luận ................................................................................................... 29
1.2.1. Giới thuyết một số khái niệm .................................................................... 29
1.2.2. Vấn đề hỗn dung văn hoá và sự vận dụng vào luận án ............................ 36
1.3. Bối cảnh địa bàn nghiên cứu .......................................................................... 39
1.3.1. Khái quát về tỉnh Trà Vinh ....................................................................... 39
1.3.2. Người Khmer ở Trà Vinh.......................................................................... 42
1.3.3. Những nét văn hóa tiêu biểu của người Khmer ở Trà Vinh ..................... 44
1.3.4. Tín ngưỡng, tôn giáo và thực hành nghi lễ của người Khmer ở Trà Vinh
............................................................................................................................ 47
1.3.5. Thế giới quan của người Khmer thông qua tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên ............ 50 Tiểu kết chương 1 .................................................................................................. 53
Chương 2 ĐẶC TRƯNG TÍN NGƯỠNG THỜ CÚNG TỔ TIÊN CỦA NGƯỜI
KHMER Ở TRÀ VINH .......................................................................................... 56 2.1. Đối tượng thờ cúng và sự phối thờ ................................................................. 56
2.1.1. Đối tượng thờ cúng ................................................................................... 56 2.1.2. Sự phối thờ ............................................................................................... 58
2.2. Bàn thờ tổ tiên và vật thờ ................................................................................ 63 2.2.1. Bàn thờ ..................................................................................................... 63 2.2.2. Vật thờ ...................................................................................................... 70
2.3. Người chịu trách nhiệm thờ cúng và thực hành nghi lễ ................................. 74 2.3.1. Người chịu trách nhiệm thờ cúng ............................................................. 74 2.3.2. Người thực hành nghi lễ cúng tổ tiên ....................................................... 77
2.4. Nghi lễ tang ma – dấu mốc chuyển đổi linh hồn người chết về với Phật và tổ
tiên ......................................................................................................................... 78
2.4.1. Tang ma - một thực hành nghi lễ đời người quan trọng của người Khmer ............................................................................................................................ 78
2.4.2. Những thủ tục và lễ thức cơ bản trong tang ma ....................................... 81
2.5. Thực hành nghi lễ thờ cúng tổ tiên ................................................................. 88
2.5.1. Thực hành nghi lễ thờ cúng hằng ngày .................................................... 88 2.5.2. Lễ Chôl Chnăm Thmây (lễ vào năm mới hay lễ chịu tuổi) ...................... 90
2.5.3. Lễ cúng tổ tiên thường niên (Sel Đôlta) ................................................... 92
2.5.4. Lễ cầu siêu và đại cầu siêu ....................................................................... 97
Tiểu kết chương 2 ................................................................................................ 100
Chương 3 BIẾN ĐỔI TRONG TÍN NGƯỠNG THỜ CÚNG TỔ TIÊN CỦA
NGƯỜI KHMER Ở TRÀ VINH HIỆN NAY .................................................... 101 3.1. Biến đổi về hình thức và nội dung ................................................................ 101
3.2. Sự tác động của thay đổi kinh tế đối với việc thờ cúng tổ tiên .................... 105
3.3. Sự biến đổi của tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên do tác động của hôn nhân đa tộc
người .................................................................................................................... 112
3.4. Biến đổi qua giao lưu văn hóa với các tộc người cộng cư ........................... 115
3.5. Biến đổi trong nhận thức của thế hệ trẻ về tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên ................ 120
Tiểu kết chương 3 ................................................................................................ 124
Chương 4 TÍN NGƯỠNG THỜ CÚNG TỔ TIÊN CỦA NGƯỜI KHMER Ở
TRÀ VINH: MỐI LIÊN HỆ VỚI PHẬT GIÁO NAM TÔNG, CỘNG ĐỒNG
VÀ CÁC TỘC NGƯỜI CỘNG CƯ ..................................................................... 126 4.1. Ảnh hưởng của tư tưởng Phật giáo đến nhân sinh quan của người Khmer .. 126
4.2. Mối quan hệ tương hỗ giữa Phật giáo và tín ngưỡng dân gian trong thực hành
tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Khmer ..................................................... 133 4.3. Thờ cúng tổ tiên trong mối liên hệ với cộng đồng ....................................... 141
4.4. Thờ cúng tổ tiên với vấn đề cộng cư và nhu cầu thể hiện văn hóa tộc người ............................................................................................................................. 146 Tiểu kết chương 4 ................................................................................................ 148
KẾT LUẬN ............................................................................................................ 151 TÀI LIỆU THAM KHẢO .................................................................................... 155
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Thờ cúng tổ tiên là một hiện tượng mang tính tất yếu của xã hội đã tồn
tại ở nhiều quốc gia trên thế giới trong đó có Việt Nam. Trên lãnh thổ Việt Nam
với 54 tộc người anh em, mỗi tộc người có một niềm tin về linh hồn của ông
bà tổ tiên cũng như việc ứng xử với họ. Từ đó, có những hình thức thể hiện
niềm tin hay sự hiếu thảo khác nhau: Người Kinh thờ cúng tổ tiên thể hiện qua
việc chăm sóc mồ mả, cúng giỗ, chăm sóc hương khói hằng ngày; người Ba
Na, Ê Đê thể hiện qua việc chăm sóc mồ mả từ lúc qua đời cho đến khi làm lễ
bỏ mả; người Khmer thể hiện qua việc chăm sóc tro cốt ông bà, làm những việc
thiện để tạo phước, đọc kinh cầu siêu và cúng Đôlta,.... Những giá trị văn hoá
tốt đẹp đó đã góp phần quan trọng tạo nên bản sắc văn hoá Việt.
Tỉnh Trà Vinh nơi có số lượng đồng bào Khmer sinh sống đúng thứ 2 ở
vùng đất Nam bộ. Đây cũng là địa bàn cư trú khá cổ xưa của người Khmer khi
họ di cư đến đồng bằng sông Cửu Long. Văn hoá dân gian của người Khmer ở
đây rất phong phú và đa dạng, nổi bật là thờ cúng tổ tiên, cúng thần, các lễ hội
gắn liền với Phật giáo Nam tông. Bên cạnh đó, những truyền thuyết, thần thoại
lí giải các hiện tượng tự nhiên, xã hội đã tạo nên diện mạo văn hóa đặc sắc của
người Khmer ở Trà Vinh nói riêng và Nam bộ nói chung. Tuy nhiên, dưới tác
động của sự phát triển kinh tế xã hội văn hoá của người Khmer ở Trà Vinh đã
và đang thể hiện sự giao lưu tiếp biến mạnh mẽ với các tộc người cộng cư.
Trong quá trình hình thành tộc người tại vùng đất Trà Vinh, người Khmer
chọn những vùng đất giồng cao ráo để định cư, xây dựng chùa để làm nơi sinh
hoạt tôn giáo và cố kết cộng đồng. Phật giáo Nam tông là tôn giáo mà người
Khmer tại Trà Vinh tôn kính. Ngôi chùa là nơi ngự trị của Đức Phật là nơi cả
cộng đồng tin tưởng và ra sức xây dựng, bảo vệ. Người Khmer tin rằng tất cả
mọi hoạt động trong cuộc đời con người đều được đức Phật (Phật Thích Ca
Mâu Ni) ghi nhận, họ tin tưởng vào kinh Phật, những lời dạy của đức Phật luôn
là chân lý trong ứng xử của con người. Trong cuộc sống sản xuất, người Khmer
rất tin tưởng vào các vị thần thánh được lý giải thông qua các truyền thuyết
1
Phật giáo. Trong tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên Phật giáo Nam tông giữ vai trò rất
quan trọng: tạo ra thế giới cho linh hồn tổ tiên, kinh Phật là con thuyền đưa linh
hồn đến bến bờ giải thoát, ngôi chùa là nơi để linh hồn nương tựa, góp phần
giải thích nguồn gốc tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Khmer. Tuy nhiên,
tôn giáo này cũng không khắt khe nguyên tắc mà gắn bó với tâm tư nguyện
vọng của Phật tử, dung hợp những quan niệm tiến bộ trong đời sống thường nhật
góp phần xây dựng chủ trương “tốt đời đẹp đạo”. Thông qua ảnh hưởng của tôn
giáo, tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Khmer ở Trà Vinh vừa mang âm
hưởng của một tín ngưỡng dân gian vừa mang màu sắc của một lễ hội tôn giáo,
vừa ở không gian gia đình gia tộc, vừa thuộc không gian cộng đồng dân tộc.
Từ những đặc trưng trên, người Khmer ở Trà Vinh đã sống và ứng xử
theo những nguyên tắc của Phật giáo. Lấy lời dạy của Phật làm kim chỉ nam
trong sinh hoạt thường nhật. Nhân cách và đạo đức của con người được đánh
giá qua lăng kính tư tưởng của Phật giáo Nam tông. Theo chúng tôi nghiên cứu
tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Khmer là một việc làm cần thiết, để làm
rõ những đặc điểm riêng của nó trong hệ thống tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên
của người Việt Nam. Bên cạnh đó, thông qua tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên có
thể thấy được sự giao lưu tiếp biến của Phật giáo Nam Tông với các giá trị
văn hóa trong đời sống của người Khmer tại địa phương. Từ những tièn đề
trên, tác giả đặt ra câu hỏi nghiên cứu rằng: “Sự hỗn dung trong tín ngưỡng thờ
cúng tổ tiên của người Khmer ở Trà Vinh được biểu hiện như thế nào?”.
Với những lý do trên, tác giả đã quyết định chọn đề tài “Tín ngưỡng thờ
cúng tổ tiên của người Khmer ở Trà Vinh” để làm đề tài luận án tiến sĩ văn
hóa học của mình.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
Mục đích nghiên cứu: Nghiên cứu một cách hệ thống về tín ngưỡng thờ
cúng tổ tiên của người Khmer để thông qua đó thấy được sự hỗn dung các giá
trị văn hoá trong đời sống của người Khmer ở tỉnh Trà Vinh.
Nhiệm vụ nghiên cứu: Từ mục đích trên, các nhiệm vụ cơ bản của luận
án được đặt ra như sau:
2
+ Tìm hiểu bối cảnh văn hóa xã hội và tín ngưỡng tôn giáo của người
Khmer tại địa bàn nghiên cứu;
+ Khảo sát những biểu hiện của tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người
Khmer từ quan niệm thờ cúng đến thực hành nghi lễ;
+ Xem xét biểu hiện của các hoạt động thường nhật cũng như những
nguyên tắc ứng xử của người Khmer trong mối liên hệ với tín ngưỡng dân gian
và Phật giáo Nam tông.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Luận án chọn tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Khmer ở Trà Vinh
làm đối tượng nghiên cứu, gồm những khía cạnh: Quan niệm thờ cúng, đối
tượng thờ, biểu tượng thờ, điện thờ, thực hành nghi lễ.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi vấn đề nghiên cứu: Luận án tập trung nghiên cứu về vấn đề
giao lưu tiếp biến văn hoá trong tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người của
người Khmer ở Trà Vinh ở hai phương diện:
Một là vấn đề biểu hiện của Phật giáo Nam tông trong tín ngưỡng thờ
cúng tổ tiên của người Khmer vì kết quả nghiên cứu vấn đề này giúp luận án lí
giải được vai trò của Phật giáo Nam tông trong tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên
thông qua đó thấy được gắn bó của Phật giáo Nam tông với tín ngưỡng thờ
cúng tổ tiên của người Khmer
Hai là vấn đề ảnh hưởng của các yếu tố văn hóa dân gian và văn hóa của
các tộc người cộng cư đến tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Khmer, thông
qua đó thấy được biểu hiện của sự hỗn dung văn hoá trong tín ngưỡng thờ cúng
tổ tiên của người Khmer.
Phạm vi không gian: Luận án chỉ giới hạn trong phạm vi tỉnh Trà Vinh.
Trà Vinh là địa bàn đã có người Khmer sinh sống khá sớm với mật độ
dân cư tập trung động. Người Khmer ở đây được đánh giá là còn lưu giữ nhiều
nhất những giá trị văn hóa tiêu biểu của cộng đồng người Khmer Nam bộ. Vùng
đất Trà Vinh với nhịp phát triển khá ổn định. Trong những thập niên gần đây,
3
Trà Vinh đã đẩy mạnh việc công nghiệp hóa hiện đại hóa để kịp đà phát triển
của đất nước nên văn hóa các cộng đồng dân cư có những biến động nhất định
mà tiêu biểu là người Khmer. Bên cạnh đó, trong quá trình du nhập, tín ngưỡng
thờ cúng tổ tiên của người Khmer ở Trà Vinh chịu ảnh hưởng của Bàlamôn
giáo, Phật giáo nhưng hiện tại Phật giáo Nam tông là tôn giáo chính có ảnh
hưởng sâu rộng đến cuộc sống của họ còn Bàlamôn giáo chỉ tồn tại với tư cách
là một tàn tích văn hóa trong lịch sử phát triển của người Khmer. Với những
điều kiện trên, chúng tôi xem Trà Vinh như là địa bàn nghiên cứu tiêu biểu cho
vấn đề nghiên cứu của luận án. Trên cơ sở đánh giá địa bàn nghiên cứu, chúng
tôi chọn mẫu nghiên cứu tại ba địa bàn tiêu biểu của tỉnh Trà Vinh là: Thành
phố Trà Vinh, huyện Châu Thành và huyện Trà Cú bởi những lý do sau:
Thứ nhất: Thành phố Trà Vinh là trung tâm kinh tế xã hội của tỉnh, nơi
có nhịp độ phát triển kinh tế, văn hóa sôi động nhất và là nơi diễn ra cuộc sống
cộng cư của các tộc người rõ nét nhất. Vấn đề tiếp biến và giao lưu văn hóa
diễn ra khá mạnh mẽ và đa dạng.
Thứ hai: Huyện Châu Thành là địa bàn tiếp giáp giữa trung tâm Thành
phố Trà Vinh với địa bàn nghiên cứu thứ ba, là huyện có đông tộc người Khmer
đứng thứ 2 toàn tỉnh. Vì vị trí tiếp giáp như vậy nên chúng tôi xem đây là địa
bàn phản ánh quá trình giao lưu tiếp biến của vấn đề nghiên cứu.
Thứ ba: Huyện Trà Cú là nơi có đông tộc người Khmer nhất của tỉnh.
Các hoạt động kinh tế, văn hóa của tộc người Khmer còn lưu giữ nhiều yếu tố
nguyên sơ. Chúng tôi xem đây là địa bàn quan trọng để đánh giá các giá trị văn
hóa truyền thống của người Khmer ở Trà Vinh.
Phạm vi thời gian: Trong phạm vi một luận án, chúng tôi khảo sát tín
ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Khmer trong thời điểm thực tại và theo các
vấn đề nghiên cứu cụ thể như: Quan niệm về tín ngưỡng, nghi thức thực hành
tín ngưỡng, không gian và thời gian thực hành các nghi lễ, biểu tượng thờ, điện
thờ,… Qua đó chỉ ra nét đặc trưng mang bản sắc tộc người trong mối tương
quan với Phật giáo Nam tông và các tộc người khác trong cuộc sống đương đại.
4
Từ đó, chúng tôi tìm ra những biểu hiện của vấn đề hỗn dung trong tín ngưỡng
thờ cúng tổ tiên của người Khmer trên địa bàn nghiên cứu.
Thời gian khảo sát: Tư liệu của luận án được khảo sát qua các năm 2017,
2018 và năm 2019.
4. Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện mục đích và nhiệm vụ của luận án, chúng tôi tiếp cận
phương pháp nghiên cứu chuyên ngành văn hóa dân gian và phương pháp
nghiên cứu liên ngành trong nghiên cứu Khoa học xã hội. Nghiên cứu định tính
là phương pháp chủ yếu mà chúng tôi sử dụng trong luận án này, gồm các
phương pháp cụ thể sau:
4.1. Phương pháp điền dã dân tộc học: Đây là phương pháp được sử
dụng phổ biến trong nghiên cứu văn hóa dân gian. Với phương pháp này chúng
tôi đặt mình vào vị thế của của người trong cuộc để cùng tham dự và quan sát
các biểu hiện của tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên trong các dịp Sel Đôlta năm (2017,
2018, 2019) tại địa bàn nghiên cứu. Ngoài ra chúng tôi còn lưu ý đến đặc điểm
nhóm tuổi và hoàn cảnh của người cung cấp thông tin. Trên cơ sở đó, chúng tôi
xử lý và sắp xếp thông tin theo các tầng lớp ý nghĩa từ người cung cấp thông tin
liên quan đến đối tượng nghiên cứu. Với phương pháp này, chúng tôi thực hiện
thao tác tại các địa bàn như sau:
+ Quan sát tham dự, mô tả: cùng tham dự, quay phim, chụp ảnh cách thức
thực hành các nghi lễ thờ cúng tổ tiên trong các lễ Đôlta năm 2017, 2018, 2019
từ gia đình đến cộng đồng, các dịp lễ hiếu hỉ tại gia, tang lễ qua đó quan sát và
mô tả cách tỉ mỉ, chi tiết tất cả các hành vi, hành động thực hành các nghi lễ của
chủ thể văn hóa.
+ Phỏng vấn sâu, hồi cố: chúng tôi tập trung vào các nhóm đối tượng
chính như: Nhóm các vị sư sãi trong các ngôi chùa để thu thập các thông tin về
các nghi lễ cũng như quan niệm của tôn giáo. Nhóm các vị Achar (người hướng
dẫn thực hành nghi lễ) để tìm hiểu các giá trị văn hóa dân gian trong đời sống
văn hóa của người Khmer. Nhóm các hộ gia đình từ ba đến bốn thế hệ, các hộ
gia đình từ một đến hai thế hệ để xem xét những nhận định đánh giá của chủ
5
thể văn hóa về đối tượng nghiên cứu. Nhóm các cán bộ quản lý cấp huyện, xã
để thu thập các thông tin các chính sách về kinh tế, văn hóa, xã hội và tôn giáo
tín ngưỡng trên địa bàn nghiên cứu. Với thao tác nghiên cứu này chúng tôi có
điều kiện đi sâu tìm hiểu tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Khmer trong
mỗi tương quan với yếu tố tôn giáo, kinh tế xã hội và các giá trị văn hóa dân
gian từ đó làm cơ sở phân tích, đánh giá, tổng hợp và diễn giải các vấn đề đặt
ra cho nhiệm vụ của luận án.
4.2. Phương pháp xử lí văn bản, thông tin: Sau quá trình thu thập tài
liệu, chúng tôi sẽ đọc và xử lí các văn bản và tài liệu liên quan; xử lí các thông
tin sau quá trình khảo sát thực tế, qua ghi chép các bài phỏng vấn, mô tả, hồi
cố, tài liệu phim ảnh lần 1 (2017) và lần 2 (2018) tại địa bàn nghiên cứu. Từ đó
phân tích, đánh giá ở lần khảo sát thứ 3 (2019) để rút ra các luận điểm trọng
tâm của luận án.
4.3. Phương pháp nghiên cứu tổng hợp liên ngành: được coi là phương
pháp kết hợp nghiên cứu của nhiều ngành liên quan như: dân tộc học, xã hội
học, văn hóa dân gian, tôn giáo học... chúng tôi sử dụng để lý giải một cách hệ
thống về văn hóa dân gian, nghệ thuật, tín ngưỡng… trong hệ thống các nghi
lễ thờ cúng tổ tiên của người Khmer.
Ngoài ra chúng tôi còn sự dụng các phương pháp khác để cụ thể hóa các
chương như sau:
- Phương pháp tổng hợp: để hệ thống hoá tình hình nghiên cứu có liên
quan đến nội dung luận án (chương 1)
- Phương pháp lịch sử: để tìm hiểu sự hình thành và đặc trưng tín ngưỡng
thờ cúng tổ tiên của người Khmer ở Nam bộ nói chung, ở Trà Vinh nói riêng
(chương 1).
- Phương pháp thống kê, phương pháp phân tích, đánh giá, phương pháp
so sánh, phương pháp luận giải, điền dã dân tộc học… sẽ được sử dụng khi
nghiên cứu (chương 2,3)
-Phương pháp phân tích, đánh giá, bình luận, phương pháp quy nạp,
phương pháp diễn giải (Chương 4)
6
5. Đóng góp mới về khoa học của luận án
Luận án là công trình đầu tiên nghiên cứu một cách hệ thống về tín
ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Khmer ở Trà Vinh. Luận án vận dụng quan
điểm về giao lưu tiếp biến văn hoá để xem xét tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của
người Khmer nhằm chỉ ra đặc điểm hỗn dung văn hoá trong tín ngưỡng thờ
cúng tổ tiên của họ.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
6.1. Ý nghĩa lý luận
Luận án cung cấp thêm một hệ thống dữ liệu cho việc nghiên cứu về tôn
giáo và tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên tộc người tại một địa bàn cụ thể. Bên cạnh
đó, luận án mở ra một hướng tiếp cận cho những quan tâm về vấn đề giao lưu
tiếp biến trong nghiên cứu văn hóa tộc người.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Luận án góp phần phân tích những yếu tố truyền thống và đương đại
trong tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Khmer thông qua đó nhận định
những biểu hiện của vấn đề hỗn dung tôn giáo với các yếu tố văn hóa tộc người.
Kết quả nghiên cứu của luận án sẽ là tài liệu tham khảo để các nhà quản
lý văn hóa, hoạch định những chính sách và giải pháp cụ thể trong việc bảo tồn
và phát huy các giá trị văn hóa của tộc người Khmer tại địa phương.
7. Kết cấu của luận án
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo và Phụ lục,
luận án được kết cấu thành 4 chương.
Chương 1.Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lí luận và địa bàn nghiên cứu
Chương 2. Đặc trưng tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Khmer ở Trà Vinh
Chương 3. Biến đổi trong tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Khmer
ở Trà Vinh hiện nay
Chương 4. Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Khmer ở Trà Vinh:
Mối liên hệ với Phật giáo Nam tông, cộng đồng và các tộc người cộng cư
7
Chương 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN
VÀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU
1.1.Tổng quan tình hình nghiên cứu
1.1.1. Nghiên cứu tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên từ các góc nhìn
1.1.1.1. Các công trình về đặc trưng tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của
người Việt
Việc khảo cứu về tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Việt đã sớm
được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm. Các tài liệu về vấn đề này thường tập
trung giới thiệu về quan niệm, hình thức thực hành nghi lễ, các kiêng kỵ và
những bài văn khấn tổ tiên. Thành công của các tác giả đã tạo nên một bức
tranh đa màu sắc về văn hóa Việt Nam ở khía cạnh tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên.
Một số công trình đề cập đến tục thờ cúng tổ tiên như sau:
Từ góc độ phong tục, trong cuốn Phong tục Việt Nam [3] tác giả Toan
Ánh đã trình bày về các quan niệm, ý nghĩa, nghi thức, mẫu văn khấn theo
phong tục cổ truyền trong việc thờ cúng tổ tiên, thờ cúng các vị thần tại gia và
các nghi lễ thờ cúng trong những ngày giỗ (kỵ), tết. Theo xu hướng đó, trong
cuốn Phong tục thờ cúng trong gia đình Việt Nam [4] tác giả đã khảo tả khá chi
tiết về các nghi thức thờ cúng tổ tiên, quan niệm thờ cúng kể cả các ngày giỗ
ông bà và các bước thực hiện, đặc biệt là vấn đề giỗ chạp. Qua đó, cho thấy tầm
quan trọng của tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên trong đời sống và văn hóa tộc người.
Từ góc độ lịch sử, có công trình Thờ cúng tổ tiên người Việt [40] của tác
giả Võ Phương Lan. Trong công trình này, ngoài những kết quả khảo cứu về
tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên và gia đình Việt, tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên ở Việt
Nam và Trung Quốc, nghi lễ tang ma, phong kiến Nho giáo và tín ngưỡng thờ
cúng tổ tiên - ảnh hưởng xưa và nay, tác giả còn khảo cứu tín ngưỡng thờ cúng
tổ tiên qua các giai đoạn lịch sử từ thời Bắc thuộc cho đến kết thúc triều Nguyễn.
Có thể xem đây là một nguồn tư liệu tham khảo cần thiết cho luận án khi chúng
tôi xem xét tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên theo chiều dài lịch sử.
8
Từ góc độ tâm linh, có công trình Đặc khảo về tín ngưỡng thờ gia thần
[75] của nhóm tác giả Huỳnh Ngọc Trảng – Nguyễn Đại Phúc. Với công trình
này, nhóm tác giả đã khảo cứu tập tục thờ cúng tổ tiên của người Việt thông
qua các yếu tố vong hồn, vấn đề âm linh, âm hồn và thế giới bên kia qua đó đưa
ra nhận định “Ngoài khía cạnh văn hóa mang ý nghĩa đạo lý, đây còn là một
dạng thức tín ngưỡng liên quan đến tín ngưỡng thờ hồn người chết”[75, tr. 11].
Nhận định của nhóm tác giả đã tạo tiền đề cho việc tiếp cận tín ngưỡng thờ
cúng tổ tiên theo hướng “tín ngưỡng thờ hồn người chết”.
Từ góc độ nghi lễ vòng đời người, tác giả Bùi Xuân Mỹ với công trình Tục
thờ cúng của người Việt [50] đã hệ thống hóa các nghi lễ liên quan đến đời người,
thờ cúng các gia thần và các ngày lễ tết trong năm. Công trình đã khái quát tục
thờ cúng tổ tiên theo vòng đời mỗi con người. Cùng hướng nghiên cứu đó, tác
giả Vũ Mai Thùy đã tách tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên thành hai yếu tố tang lễ và
các nghi lễ thờ cúng tổ tiên trong công trình Phong tục tập quán người Việt [72].
Theo tác giả vấn đề bàn thờ gia tiên và các đối tượng được thờ cúng theo các thứ
bậc là yếu tố quan trọng để giáo dục vấn đề tôn ti trong gia đình dòng tộc.
Đặt trong mối quan hệ với dòng tộc, tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên cũng đã
được tác giả Phan Hồng Ngọc phân tích trong luận văn cao học, Lễ giỗ họ của
dòng họ Phan Văn, xã Quỳnh Bá – huyện Quỳnh Lưu – tỉnh Nghệ An [53].
Thông qua công trình, tác giả minh chứng tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên không
chỉ giới hạn ở phạm vi gia đình mà còn rất quan trọng ở cấp độ dòng họ với
việc tái tạo truyền thống, vai trò giáo dục, giữ gìn và phát huy lễ giỗ.
Trong mối tương quan với các tục thờ khác, thờ cúng tổ tiên cũng được
đề cập trong các công trình giới thiệu chung về các hình thức thờ cúng khác
trong văn hóa Việt Nam:
Trong cuốn Tín ngưỡng và văn hóa tín ngưỡng ở Việt Nam do Ngô Đức
Thịnh chủ biên [64], nội dung về thờ cúng tổ tiên được tác giả Phạm Quỳnh
Phương phân tích một cách hệ thống từ nguồn gốc và bản chất đến nghi thức
thờ cúng tổ tiên. Thông qua các số liệu điều tra thực tế, tác giả còn đưa ra một
số nhận xét về vấn đề tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên trong đời sống hiện đại như:
9
sự phục hồi tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên một cách mạnh mẽ trên toàn quốc, mức
độ phục hồi không được đồng đều ở các vùng, vấn đề phổ cập tín ngưỡng thờ
cúng tổ tiên trong gia đình Việt và xu hướng phục hồi theo hướng phô trương.
Tác giả quan tâm đến vấn đề “Làm thế nào để phục hồi tín ngưỡng nhưng vẫn
giữ được trong nó giá trị nhân văn quý giá buổi ban đầu, và thích nghi, phù hợp
với cuộc sống hiện đại, đó là điều rất đáng quan tâm” [64, tr. 57].
Trong công trình, Nghi lễ thờ cúng tổ tiên đền, chùa, miếu truyền thống
và hiện đại [63] tác giả Trương Thìn đã đóng góp rất lớn về số lượng các bài
văn khấn tổ tiên trong các dịp cúng bái, đặc biệt là các bước tiến hành nghi lễ
và khoảng thời gian thực hiện. Cùng xu hướng nghiên cứu giới thiệu chuỗi các
nghi lễ truyền thống, tác giả Hồ Đức Thọ đã dành dung lượng 219 trang sách
trong công trình, Nghi lễ thờ cúng truyền thống của người Việt tại nhà và chùa,
đình, miếu, phủ, danh sơn cổ tích [70] để giới thiệu các nghi lễ thờ cúng truyền
thống của người Việt từ nghi lễ thờ cúng tổ tiên ông bà ở gia đình đến nghi lễ
lên chùa khấn vái, cúng đình, miếu, phủ và danh sơn cổ tích.
Ở góc độ thực hành, Trong cuốn Thờ cúng tổ tiên (và tang lễ, ma chay,
giỗ chạp) như thế nào [27], tác giả Mai Thanh Hải đã phân tích về nguồn gốc,
quan niệm, kiêng kỵ, việc lập bàn thờ, việc chăm sóc mộ phần của ông bà tổ
tiên. Tác giả đặc biệt quan tâm đến các nghi thức và nghi lễ trong thờ cúng tổ
tiên đồng thời nhận xét “Thờ cúng tổ tiên ở Việt Nam được nhiều cộng đồng dân
cư truyền qua từ đời này sang đời khác, đã trở nên một nếp sống thanh lành, một
truyền thống tốt đẹp, một sắc thái văn hóa quí báu của dân tộc”[27, tr. 17] và
“Người Việt Nam ta ngày nay vẫn chăm bẵm gìn giữ tục lệ thờ cúng tổ tiên với
tấm lòng thành kính biết ơn đối với cha mẹ, ông bà, cụ kỵ đã khuất.”[27, tr. 18].
Cùng ý tưởng nghiên cứu đó, nhóm tác giả Diệu Thanh – Trọng Đức có quyển
Phong tục và những điều kiêng kỵ [60]. Trong công trình này, nhóm tác giả đã
miêu tả rất chi tiết vấn đề nghi lễ và thực hành nghi lễ bằng các chuyên mục:
cúng lễ, nghi thức cáo gia tiên, cúng giỗ, gửi giỗ, thờ vọng, ngày tiên thường,
ngày giỗ chính, hóa vàng và chăm sóc mộ phần trong thờ cúng tổ tiên. Để cụ thể
hơn vấn đề, tác giả còn giới thiệu một số bài văn khấn trong các lễ cúng bái.
10
Bằng phương pháp hệ thống hóa vấn đề nghiên cứu dưới dạng hỏi đáp,
tác giả Minh Nghiêm đã đóng góp vào việc giới thiệu nghi lễ thờ cúng tổ tiên
qua quyển, 101 câu hỏi về lễ nghi thờ cúng tổ tiên [52]. Tác giả không chỉ dừng
lại ở việc giới thiệu mà còn giải thích các vấn đề có liên quan đến các nghi lễ
thờ cúng tổ tiên chủ yếu trong các ngày lễ tết, ma chay, cưới hỏi và ý nghĩa của
một số bài văn khấn tổ tiên. Thông qua những công trình này giúp chúng tôi
hình dung được vai trò quan trọng của các bài văn khấn trong tín ngưỡng thờ
cúng tổ tiên. Từ đó làm cơ sở để chúng tôi chú ý quan tâm đến vấn đề cầu khấn,
kinh kệ trong tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Khmer.
Bên cạnh đó, còn có các các công trình giới thiệu về tín ngưỡng thờ cúng
tổ tiên của người Kinh theo hướng khái quát những điểm chung nhất về nghi lễ
thờ cúng tổ tiên như sau:
Có thể xem công trình Gia lễ xưa và nay của tác Phạm Côn Sơn [58] là
một tài liệu quan trọng trong việc hướng dẫn thực hành nghi lễ thờ cúng tổ tiên
tại gia. Tác giả đã nghiên cứu rất hệ thống về những tập tục của người Việt
trong hôn nhân, tang lễ, thờ phụng tổ tiên trong lịch sử. Bằng việc so sánh với
chiều hướng gia lễ ngày nay, tác giả công trình cũng đã đúc kết lại khá chi tiết
các bước thực hiện nghi lễ trong thờ cúng tổ tiên. Tác giả Hà Hoài Dung với
quyển Tìm hiểu nghi lễ cưới hỏi, thờ cúng trong dân gian [16]. Công trình cung
cấp những kiến thức về nghi lễ thờ cúng của dân tộc, đồng thời giới thiệu các
bài văn khấn dùng trong các ngày lễ quan trọng. Tác giả khái quát công trình
nghiên cứu qua các nội dung chính như: nghi lễ thờ cúng trong cung đình xưa,
nghi lễ thờ cúng trong sản xuất, nghi lễ thờ cúng trong sinh hoạt, một số bài
văn khấn phổ biến nhằm hướng dẫn các nghi lễ trong đời sống thường nhật.
Có thể thấy, các công trình nghiên cứu đi trước đã tiếp cận tín ngưỡng
thờ cúng tổ tiên ở nhiều góc độ khác nhau. Sự đa dạng và phong phú đó đã cho
thấy tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên là một vấn đề đáng được quan tâm. Qua đây
cũng tạo ra cơ sở tiền đề cho chúng tôi có những nhận định bao quát về vấn đề
thờ cúng tổ. Những thành quả nghiên cứu đã được tinh lọc từ nhiều nguồn tài
liệu là nền tảng rất quan trọng cho chúng tôi khi nghiên cứu về tín ngưỡng thờ
11
cúng tổ tiên của người Khmer. Từ kết quả của các công trình trên đặt ra cho
chúng tôi vấn đề nghiên cứu tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên trong xã hội đương đại
và sự tác động của xã hội đương đại đến nó, việc nghiên cứu tín ngưỡng thờ
cúng tổ tiên trong một hệ thống các yếu tố văn hoá, vai trò của các nghi thức
thực hành nghi lễ trong thờ cúng tổ tiên.
1.1.1.2. Các nghiên cứu về tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên người Việt trong
bối cảnh đương đại
Việc nghiên cứu tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên trong xã hội đương đại rất được
quan tâm trong những thập niên gần đây và được xem xét dưới nhiều khía cạnh
khác nhau. Có rất nhiều bài viết đề cập đến vấn đề này trong cuốn Kỷ yếu Tín
ngưỡng thờ cúng tổ tiên trong xã hội đương đại (nghiên cứu trường hợp tín ngưỡng
thờ Hùng Vương ở Việt Nam) [84]. Dưới đây xin lược thuật một số bài tiêu biểu:
Bằng phương pháp vận dụng lý thuyết để lý giải biểu hiện xã hội, Jo
Caust đã dùng quy tắc đạo đức của MacIntyre để giải quyết các câu hỏi nghiên
cứu của mình trong bài viết “Liệu có thể làm mới cái cũ, hiện tại và tìm ra một
khuôn khổ đạo đức cho tương lai: vị trí của việc thờ cúng tổ tiên ở Việt Nam”
[84, tr. 223-237]. Thông qua bài viết này, tác giả làm rõ nhiều khía cạnh của tín
ngưỡng thờ cúng tổ tiên trong xã hội đương đại từ nhu cầu nội sinh của cá nhân
thực hiện hành vi đến các nhu cầu ngoại sinh, việc giáo dục truyền thống đạo
đức và vấn đề nhận thức của giới trẻ trong tương lai, từ những biến đổi tất yếu
cho đến những tác động không mong muốn của xã hội. Hơn nữa, tác giả đã
nhìn nhận rằng xu hướng coi trọng truyền thống của tín ngưỡng thờ cúng tổ
tiên ảnh hưởng đến phong tục đương đại. Như vậy, thông qua công trình này
tác giả đã đặt vấn đề nghiên cứu trong hai mặt của xã hội. Một là, sự tác động
của các vấn đề xã hội đến tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên. Hai là, tín ngưỡng thờ
cúng tổ tiên cũng có những tác động ngược lại với các vấn đề của xã hội thông
qua nhu cầu nội sinh.
Tác giả Lương Văn Hy quan tâm đến các vấn đề kinh tế xã hội trong việc
cúng giỗ ông bà, tổ tiên. Trong bài viết “Giỗ tổ tiên và động thái kinh tế xã hội:
Phân tích so sánh hai cộng đồng nông thôn Bắc bộ và Nam bộ” [84, tr. 344-
12
352]. Tác giả đã dùng phương pháp so sánh và phỏng vấn thực hành giỗ tổ tiên
tại hai địa bàn Hoài Thị (Bắc Bộ) và Khánh Hậu (Nam Bộ) để phân tích các
yếu tố kinh tế - xã hội ảnh hưởng đến giỗ tổ tiên như: Chia tài sản cho người
chịu trách nhiệm tổ chức cúng giỗ, việc tổ chức qui mô cúng giỗ phụ thuộc vào
yếu tố kinh tế - các mối quan hệ xã hội, việc tăng cường củng cố các mối quan
hệ xã hội giữa các gia đình trong ngày giỗ. Đáng chú ý là việc anh em chia giỗ
và nguyên nhân dẫn đến vấn đề này. Theo tác giả việc nghiên cứu văn hóa
không thể tách ra khỏi các động thái kinh tế xã hội.
Vấn đề biến đổi của tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên trong xã đương đại cũng
được nhiều tác giả quan tâm qua những bài viết sau:
Bằng phương pháp phân tích các giá trị truyền thống trong tín ngưỡng
thờ cúng tổ tiên của người Việt kết hợp với điền dã phỏng vấn các hộ gia đình
ở Hà Nội, tác giả Nguyễn Thị Minh Ngọc đã minh chứng những biến đổi của
tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên trong bài viết “Biến đổi của tín ngưỡng thờ cúng tổ
tiên trong xã hội Việt Nam đương đại” [84, tr. 488-496]. Qua bài viết cho thấy
sự chuyển hóa vai trò của người thờ cúng từ nam giới sang nữ giới ngày càng
phổ biến, vai trò của người phụ nữ trong công việc tâm linh ngày càng được đề
cao. Sự tác động của các yếu tố trong xã hội đương đại đã dẫn đến những biến
đổi về hình thức và nội dung thờ cúng từ nhận thức đến thời gian và thức thực
hành nghi lễ. Đây có thể xem là một cách nhìn nhận mới trong nghiên cứu tín
ngưỡng thờ cúng tổ tiên.
Cùng xu hướng nghiên cứu biến đổi, trong bài viết “Tín ngưỡng thờ
cúng tổ tiên – truyền thống và biến đổi (Qua khảo sát một số xã ngoại thành Hà
Nội)” [84, tr. 498-506]. Tác giả Trần Đức Ngôn đã dùng phương pháp nghiên
cứu định lượng với 1500 phiếu phỏng vấn để tổng hợp nghiên cứu. Thông qua
bài viết cho thấy: Đời sống kinh tế của các hộ dân ngoại thành Hà Nội đã được
cải thiện tốt hơn, đồng thời nhu cầu đời sống tâm linh của họ cũng tăng lên và
được biểu hiện qua việc trang hoàng bàn thờ tổ tiên, nâng cao giá trị lễ vật, qui
mô tổ chức ngày giỗ lớn hơn. Tuy nhiên không gian thờ cúng đã bị thay đổi
hoàn toàn so với không gian truyền thống, thời gian tổ chức cúng giỗ cũng bị
13
thay đổi do vấn đề việc làm và kinh tế. Sự thay đổi này đã làm giảm đi vai trò
giáo dục truyền thống gia đình đến thế hệ con cháu, đồng thời có nguy cơ thế
hệ trẻ ngày càng xa rời ý nghĩa của tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên truyền thống.
Qua bài viết “Việc họ: tín ngưỡng thờ tổ tộc, tổ chức xã hội và biến đổi văn
hóa” [84, tr. 42-54], tác giả Phan Phương Anh đã chỉ ra những biến đổi văn hóa
– xã hội của làng xã đương đại. Ở cấp độ làng, thiết chế dòng tộc đã có nhiều
hình thái và hoạt động mới nhằm thể hiện tầm quan trọng của tín ngưỡng thờ
tổ tộc, xu hướng khoa trương danh thế bằng cách nâng cao giá trị vật chất trong
việc thờ cúng, sưu tầm và bổ sung những giá trị cao quí cho gia phả, xu hướng
ganh đua về mặt thanh thế của các cộng đồng nhỏ theo dòng họ trong cùng làng
hay các cá nhân trong cùng một họ.
Giáo dục truyền thống văn hóa trong xã hội đương đại thông qua tín
ngưỡng thờ cúng tổ tiên cũng được nhiều tác giả quan tâm phân tích qua một
số bài viết sau:
Tác giả Nguyễn Văn Cương đã đề cập đến vấn đề giáo dục thờ cúng tổ
tiên trong bài viết “Việc thờ cúng tổ tiên và vấn đề giáo dục gia đình” [84, tr.
105-112]. Qua những phân tích về hành vi thực hành thờ cúng tổ tiên, tác giả
đã đi vào phân tích vai trò giáo dục cụ thể như: giáo dục chữ nhân, chữ hiếu,
chữ lễ, chữ tâm. Từ đó khẳng định vai trò quan trọng của việc giáo dục truyền
thống gia đình thông qua việc tổ chức thờ cúng tổ tiên.
Nhóm tác giả Lê Hồng Lý – Đào Thế Đức, đã chỉ ra việc phát huy vai trò
giáo dục trong tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Việt để xây dựng thành
công hình tượng vua Hùng và giáo dục truyền thống thờ Vua tổ. Trong bài viết
“Từ tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên đến giỗ tổ Hùng Vương – sự củng cố cộng đồng
trước nhu cầu tồn tại và phát triển quốc gia” [84, tr. 1048-1060], các tác giả đã
so sánh giữa tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên trong gia đình người Việt với giỗ tổ
Hùng Vương sau đó chỉ ra sự giống nhau về nội dung tổ chức và khác nhau về
cấp độ tổ chức của hai hình thức thờ cúng tổ tiên. Thông qua bài viết, các tác giả
chỉ ra sự thành công lớn nhất của các thế hệ đi trước là việc khéo léo vận dụng
14
giá trị truyền thống về nguồn cội trong tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên để xây dựng
thành công biểu tượng chung cho dân tộc là vị Vua Tổ.
Bàn về sự biến đổi của tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên trong thời đại công
nghiệp hóa hiện đại hóa, trong luận văn cao học Bàn thờ tổ tiên của người Việt
ở ngoại thành Thành phố Hồ Chí Minh (Trường hợp huyện Bình Chánh) [22]
tác giả Trần Thị Thanh Đào sau khi khái quát các đặc điểm chung và riêng của
tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên trên địa bàn nghiên cứu so với tín ngưỡng thờ cúng
tổ tiên của người Việt nói chung đã chỉ ra vấn đề của xã hội đương đại đã tác
động trực tiếp đến tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Việt trên địa bàn
nghiên cứu. Chẳng hạn như việc thay đổi kết cấu nhà ở làm thay đổi vị trí bàn
thờ tổ tiên và làm giảm giá trị giáo dục cội nguồn trong tín ngưỡng thờ cúng tổ
tiên, vấn đề việc làm của gia chủ làm thay đổi ngày giỗ của tổ tiên, vấn đề thời
gian học tập của các thế hệ con cháu đã làm giảm đi đối tượng tham gia các
nghi lễ,… Nhìn chung, tác giả công trình nhận định rằng sự biến đổi của các
vấn đề xã hội đã có những tác động trực tiếp đến tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên.
Kết quả nghiên cứu những vấn đề đương đại của tục thờ cúng tổ tiên ở
người Việt tại các địa bàn nghiên cứu cụ thể sẽ làm cơ sở để luận án xem xét
đến vấn đề đương đại của thờ cúng tổ tiên ở người Khmer ở tỉnh Trà Vinh.
1.1.2.3. Các nghiên cứu về tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên theo quốc gia,
vùng miền, tộc người
Từ góc độ các quốc gia trong khu vực châu Á, nghiên cứu về ảnh hưởng
của các nghi lễ thờ tổ tiên đến xã hội ở Hàn Quốc, tác giả Roger L.Janeli có bài
viết “Những ảnh hưởng xã hội của các nghi lễ thờ tổ tiên ở Hàn Quốc”[84,
tr.610-617]. Bài viết của tác giả chỉ ra rằng, các nghi lễ khác nhau về tổ tiên
xuất phát từ những động cơ khác nhau và tạo thành những kết quả khác nhau.
Có những nghi lễ vừa tăng cường lại vừa chia rẽ tính đoàn kết trong dòng họ,
những nghi lễ lại biểu hiện sự nuôi dưỡng tình cảm dân tộc một cách rất mạnh
mẽ và sâu sắc. Bên cạnh đó, việc được quốc tế công nhận là “di sản” cũng là
yếu tố tác động trực tiếp đến vấn đề nuôi dưỡng lòng tự hào dân tộc. Trong bài
viết này, tác giả quan niệm tổ tiên không chỉ là những người có quan hệ huyết
15
thống mà còn là những vị thần của dân tộc như Dangun (Dangun là vị thần
trong truyền thuyết hình thành người Hàn Quốc). Đồng thời nghi lễ cho các vị
vua của triều đại Joeson cũng được xem là nghi lễ tổ tiên.
Nghiên cứu về tục thờ cúng tổ tiên ở Thái Lan, tác giả Trịnh Hiểu Vân
có bài viết “Sự biến chuyển của xã hội, tục thờ cúng tổ tiên và công tác tái dựng
bản sắc dân tộc của người Dai Lue – Qua nghiên cứu trường hợp tại một bản
người Dai Lue ở miền bắc Thái Lan” [84, tr. 754-768]. Trong bài viết này, tác
giả đã mô tả một cách chi tiết về tục thờ cúng tổ tiên truyền thống của người
Dai Lue. Nét độc đáo nhất trong tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên họ là xem linh hồn
của con người xuất hiện ngay từ lúc mới sinh ra và nó được quản lí bởi một
thần linh của bản. Cho đến khi con người chết đi linh hồn được tổ chức cúng tế
một vài lần và được khai báo với thần linh rằng linh hồn đó không còn là linh
hồn của bản nên không được tồn tại trong bản. Họ quan niệm linh hồn sẽ quay
trở về với vùng đất tổ nơi mà họ đã từng sinh sống trước khi đến sinh sống tại
vùng đất hiện tại (vùng đất tổ theo quan niệm của người Dai Lue là vùng
Xishuangbana của Trung Quốc). Thông qua bài viết này tác giả cũng nhận định
rằng; tập tục thờ cúng tổ tiên cũng như việc giáo dục các thế hệ thanh niên đã
góp phần bảo tồn nhận thức của người Dai Lue về nguồn gốc cộng đồng của tổ
tiên cũng như những giá trị văn hoá truyền thống đặc sắc của họ. Truyền thống
tôn sùng và thờ cúng tổ tiên thể hiện sự tôn sùng người thủ lĩnh của thời khai
sơn lập địa của tộc người. Vì vậy cho dù ngày nay đa số người Dai Lue tại địa
bàn nghiên cứu đều chưa từng đến Xishuangbanna nhưng họ đều tin rằng tộc
người và tổ tiên của hộ đều đến từ vùng đất Xishangbanna.
Kết quả của các bài viết đã cho thấy sự đa dạng trong tín ngưỡng thờ
cúng tổ tiên ở mỗi quốc gia không chỉ là số lượng mà còn là đối tượng thờ cúng
cũng như các nghi thức và sự ảnh hưởng của các tôn giáo. Thông qua các bài
viết đi trước cho chúng tôi những tiền đề nhất định khi nghiên cứu về tín
ngưỡng thờ cúng tổ tiên như: phạm vi về đối tượng được khái niệm là “tổ tiên”,
những tác động của xã hội đến đối tượng nghiên cứu, những ảnh hưởng của
hành vi thờ cúng tổ tiên đến các vấn đề xã hội,…
16
Từ góc độ vùng miền và tộc người, bước đầu tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên
của các tộc người thiểu số đã được đề cập đến trong các công trình, bài viết về
văn hóa của các tộc người thiểu số ở các vùng miền địa phương trên lãnh thổ
Việt Nam như sau:
Về các tộc người ở Tây Bắc, có thể kể đến quyển sách Văn hóa các dân
tộc Tây Bắc thực trạng và những vấn đề đặt ra [10] do Trần Văn Bính làm chủ
biên là công trình khá tiêu biểu nghiên cứu về sự tương tác của văn hóa truyền
thống và các vấn đề đương đại ở một khu vực nhất định (Tây Bắc) trong đó có
tục thờ cúng tổ tiên. Về người Mường, trong bài “Đặc trưng văn hóa Mường”
của tác giả Nguyễn Ngọc Thanh [10, tr. 170-237], tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên
được tác giả khảo tả chi tiết thành một giá trị văn hóa đặc trưng của tộc người.
Qua đó cho thấy các đặc trưng văn hóa độc đáo trong tín ngưỡng thờ cúng tổ
tiên của người Mường ở Tây Bắc. Tác giả cũng khẳng định một trong những
giá trị độc đáo trong tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Mường trên địa bàn
nghiên cứu là “Người Mường không có thờ cúng hằng năm vào ngày mất của
cha mẹ, ông bà” [10, tr. 225]. Trong bài viết, “Lễ hội văn hóa Thái, Mường và
Mông thực trạng và thách thức”, [10, tr. 114-128] tác giả Đinh Văn Ân đã đề
cập đến vấn đề thờ cúng tổ tiên của ba tộc người này ở góc độ lễ tang. Thông
qua miêu tả thực hành tang lễ của ba tộc người, tác giả bài viết cho rằng tuy có
sự khác nhau về cách thức thực hiện nghi lễ nhưng mục đích chung của các tộc
người đều nhằm để thể hiện sự quan tâm của người còn sống đối với người đã
qua đời. Về người Mông, bài viết, “Tín ngưỡng, tôn giáo truyền thống của dân
tộc Mông và sự xâm nhập của đạo Tin lành hiện nay” [10, tr.363-376], vấn đề
thờ cúng tổ tiên của người Mông được tác giả Ngô Hữu Thảo hệ thống hóa
đồng đẳng với các tín ngưỡng khác như: tô tem giáo, báo vật giáo và vật linh
giáo, thờ cúng “Xử ca”, thờ cúng ma buồng, thờ cúng ma bếp, thờ cúng ma cửa,
thờ cúng ma cột cái, Sa man giáo. Các khía cạnh của thờ cúng tổ tiên như: phạm
vi thờ cúng, vị trí đặt bàn thờ và thời gian thực hành nghi lễ cũng được tác giả
giới thiệu và xem tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên là một yếu tố quan trọng để phản
ánh các đặc trưng về tôn giáo và tín ngưỡng của người Mông.
17
Ngoài ra, tục thờ cúng tổ tiên của người Thái ở Tây Bắc cũng đã được so
sánh với người Thái Đen trong cuốn Then giải hạn của người Thái Trắng ở thị
xã Mường Lay, tỉnh Điện Biên của nhóm tác giả Nguyễn Thị Yên và Vàng Thị
Ngoạn, trong đó có phần trình bày về tục thờ cúng bên ngoại (cúng nhà bé) khá
đặc sắc của người Thái Trắng [91, tr.28-32]. Bên cạnh đó, trong bài “Kin pang
Một trong đời sống tín ngưỡng và phong tục của người Thái ở huyện Tân Uyên,
tỉnh Lai Châu” tác giả Nguyễn Thị Yên còn xem xét tục thờ cúng tổ tiên của
người Thái thông qua thực hành nghi lễ Kin pang Một và tục thờ cúng hồn vía
của người sống [85, tr.283-300].
Gần đây tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của một số tộc người thiểu số tại các
địa bàn cụ thể cũng đã trở thành đề tài nhiều luận văn cao học. Có thể coi luận
văn cao học Tục thờ cúng tổ tiên của người Mường ở xã Bắc Phong, huyện Cao
Phong, tỉnh Hòa Bình, của Nguyễn Thị Mai Hương [30] là một đề tài đầu tiên
khảo sát kỹ về tục thờ cúng tổ tiên của người Mường ở một địa bàn nghiên cứu
cụ thể. Tác giả đã khảo sát tục thờ cúng tổ tiên của người Mường ở xã Bắc
Phong và chỉ ra sự giao thoa trong tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Mường
và người Kinh. Qua đó cho thấy tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Mường
đã bị thay đổi so với truyền thống.
Với các tộc người người Tày, Nùng ở vùng Đông Bắc, tục thờ cúng tổ
tiên được tác giả Nguyễn Thị Yên trình bày khá tập trung trong cuốn Tín
ngưỡng dân gian Tày, Nùng Cụ thể, vấn đề thờ cúng tổ tiên của người Tày,
Nùng được tác giả đặt trong mục giới thiệu về tín ngưỡng thờ tổ và coi đó là
một nội dung cơ bản trong tín ngưỡng thờ tổ của người Tày, Nùng: tổ tiên gia
đình, tổ tiên dòng họ, thủ lĩnh dân tộc, tổ ngành nghề, tổ làng,…[ 90, tr.61-66].
Bên cạnh đó, phần thực hành nghi lễ liên quan đến thờ cúng tổ tiên trong tang
ma cũng đã được đề cập đến qua khảo sát hai lễ thức là “Quyển Đẳm trong đám
tang thầy cúng người Tày” và “Hát thợ trong đám tang của người Tày”, tập
trung vào mô tả nghi lễ tiễn hồn người chết về cư trú với tổ tiên ở trên mường
Trời của người Tày, cùng với nó là những biểu hiện giao lưu với văn hóa Hán
và văn hóa của người Kinh miền xuôi [90, tr.437-523].
18
Về các tộc người bản địa Tây Nguyên, giả Trần Đình Thêm có cuốn, Văn
hóa các dân tộc Tây Nguyên Việt Nam [62]. Trong công trình nghiên cứu này,
tục thờ cúng tổ tiên không được giới thiệu như một chuyên mục cụ thể nhưng
tác giả đã đề cập đến hai nội dung rất quan trọng trong tín ngưỡng về thờ cúng
tổ tiên của các dân tộc vùng Tây Nguyên là lễ bỏ mả và văn hóa nhà mồ, tác
giả xem đây là một trong những di sản nổi bật của vùng. Thông qua lễ bỏ mả
cho thấy các dân tộc vùng Tây Nguyên quan niệm tổ tiên là những người có
cùng chung huyết thống, linh hồn của tổ tiên vẫn còn tồn tại xung quanh con
cháu đến trước khi làm lễ bỏ mả. Con cháu phải chăm sóc linh hồn tổ tiên bằng
hình thức móm cơm hằng ngày tại mộ. Sau khi làm lễ bỏ mả xem như linh hồn
đã được giải thoát và đi đầu thai kiếp khác.
Nhìn chung, về dung lượng các tài liệu nghiên cứu tục thờ cúng tổ tiên ở
các tộc người thiểu số tại các vùng miền còn khá ít so với dung lượng tài liệu về
tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên người Việt. Những nghiên cứu đến vấn đề giao lưu
tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của các tộc người thiểu số đã được quan tâm tuy
nhiên việc xem xét các thành tố trong tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên theo hướng
hỗn dung văn hóa chưa được đề cập đến.
1.1.2. Các nghiên cứu về giao lưu và tiếp biến văn hóa trong tín
ngưỡng thờ cúng tổ tiên
Vấn đề giao lưu tiếp biến văn hóa trong tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên là
vấn đề phổ biến đã được các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước đề cập và bàn
luận đến trong các nghiên cứu.
Trên thế giới, bàn về phong tục thờ cúng tổ tiên dưới góc nhìn xã hội học
tôn giáo có bài viết “Bàn về tục thờ cúng tổ tiên của người Thái Trung Quốc
dưới góc nhìn xã hội học tôn giáo – Nghiên cứu trường hợp thờ cúng các vị
thần tại gia và thần bảo hộ bản của người Thái ở huyện Mãnh Hải khu vực
Xishuangbanna” của nhóm tác giả Chu Á và Trương Chấn Vĩ [84, tr. 31-41].
Từ góc nhìn xã hội học tôn giáo các tác giả giải thích hiện tượng thờ cúng tổ
tiên theo ba nhân tố: Nhận thức về sự tồn tại của linh hồn, tình cảm về mối quan
hệ huyết thống với tổ tiên của mình; lợi ích của hành vi thờ cúng tổ tiên đối với
19
cộng đồng dân tộc. Qua bài viết, nhóm tác giả đã chỉ rằng tín ngưỡng thờ cúng
tổ tiên của người Thái đã hình thành trước khi Phật giáo truyền vào. Tín ngưỡng
thờ cúng tổ tiên ảnh hưởng rộng rãi đến đời sống tinh thần và vật chất của người
Thái, đồng thời là bộ phận không thể thiếu trong văn hoá truyền thống của họ.
Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên góp phần duy trì phát triển xã hội nông nghiệp
truyền thống của người Thái, tăng cường bảo vệ tính đa dạng văn hoá trong quá
trình toàn cầu hoá. Tuy nhiên trong bài viết này, “tổ tiên” được nhóm tác giả
xem xét là các vị gia thần và thần bảo hộ bản làng.
Tác giả Gaura Mancacaritadipura có bài viết “Thờ cúng và tôn kính tổ
tiên ở Inđônêxia: tín ngưỡng và tập quán, các giá trị văn hoá và lịch sử” [84,
tr.181-190]. Mục đích của tác giả thông qua bài viết là phân biệt giữa khái niệm
“thờ cúng” và “tôn kính”. Thông qua kết quả nghiên cứu và khảo sát tác giả
nhận định việc thờ cúng và tôn kính tổ tiên được tìm thấy ở nhiều nơi tại
Inđônêxia. Thờ cúng tổ tiên bắt nguồn từ phong tục truyền thống, trong khi tôn
kính tổ tiên bắt nguồn từ các tôn giáo lớn. Trong thực tế, sự dung hợp giữa các
yếu tố tôn giáo và phong tục tuyền thống đều ảnh hưởng đến việc thờ phụng và
tôn kính tổ tiên ở Inđônêxia. Việc thờ cúng và tôn kính tổ tiên có liên quan đến
di sản văn hoá phi vật thể vì phong tục truyền thống hay lễ kỷ niệm tôn giáo
đều tạo cho người tham gia một ý thức về bản sắc và sự kế thừa văn hoá.
Tác giả Nguyên Duy Thiệu quan tâm đến sự giao lưu tiếp biến giữa văn
hoá và tôn giáo qua bài viết “Tục thờ phụng tổ tiên của người Lào theo Phật
giáo tiểu thừa (theravada)”[84, tr. 639-653]. Trong bài viết này tác giả khảo sát
đối tượng được người Lào quan niệm là tổ tiên là những người có quan hệ huyết
thống, phụng thờ tổ tiên là phụng thờ linh hồn của những người có quan hệ
huyết thống. Thông qua bài viết tác giả nhận xét rằng; tại những nước mà Phật
giáo Theravada được xem là quốc giáo (đương nhiên tác giả cũng cho rằng Phật
giáo Theravada là quốc giáo ở Lào) thì các nghi thức thờ phụng Phật giáo đã
có sự ảnh hưởng nhất định đối với các tôn giáo bản địa, Phật giáo đã tích hợp
tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên vào các nghi lễ của mình, các tôn giáo du nhập đã
20
không loại bỏ các nghi lễ cũng như tôn giáo bản địa mà hoà nhập vào nó để tạo
nên sự đa dạng của văn hoá tộc người.
Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên ở Nhật Bản được tác giả Vũ Hoa Ngọc mô
tả khá sinh động trong bài viết “Thử tìm hiểu phong tục thờ cúng tổ tiên của
Việt Nam, Nhật Bản và Hàn Quốc”[84, tr.475-487]. Tín ngưỡng thờ cúng tổ
tiên của người Nhật cũng có những nét tương đồng với người Việt. Thông qua
bài viết của tác giả chúng tôi nhận thấy có những nét tương đồng trong tín
ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Việt, người Nhật và người Hàn Quốc. Tuy
nhiên cũng có những khác biệt nhất định như: Các nghi lễ thờ cúng tổ tiên ở
Việt Nam diễn ra một cách thường xuyên trong khi đó ở Hàn Quốc và Nhật
Bản chỉ được tổ chức vào những dịp nhất định trong năm (ngày giỗ, xá tội vong
nhân, rằm trung thu,..), việc bày trí bàn thờ tổ tiên tại Hàn Quốc và Nhật Bản
rất cầu kỳ, tính bình đẳng giới trong tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên được thể hiện
phóng khoáng hơn ở Nhật Bản và Hàn Quốc.
Ở Việt Nam, xem xét tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên trong mối tương quan
với Phật giáo, tác giả Phan Nhật Trinh có công trình Sự dung hợp giữa Phật
giáo và tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Việt hiện nay (Qua khảo cứu tại
một số chùa ở thành phố Hà Nội) [76]. Trên cơ sở vận dụng các lý thuyết về
giao lưu tiếp biến văn hóa, thống nhất các sự kiện văn hóa, hệ thống hóa văn
hóa, tác giả công trình đã cho rằng giữa Phật giáo và tín ngưỡng thờ cúng tổ
tiên của người Việt có nhiều sự dung hợp được thể hiện ở các khía cạnh. Kết
quả của công trình đã cho thấy sự dung hợp của tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên và
tín ngưỡng tôn giáo trên một địa bàn nghiên cứu cụ thể. Tác giả xem sự dung
hợp của hai đối tượng nghiên cứu (tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên và Phật giáo) là
một nhu cầu tất yếu của cuộc sống hiện đại. Sự dung hợp trên không bắt buộc
cũng như không có sự phụ thuộc của hai đối tượng nghiên cứu nhưng đó là xu
thế mang đến lợi ích chung cho cả hai để cuộc sống thêm “tốt đời đẹp đạo”.
Bên cạnh đó tục thờ cúng tổ tiên của người Việt qua ảnh hưởng của Công
giáo được tác giả Trần Văn Nhàn trình bày khá cụ thể và chi tiết tại một địa bàn
nghiên cứu ở Nghệ An thông qua luận văn cao học Tục hiếu kính tổ tiên của
21
người Công giáo vùng Trung bộ Việt Nam (Qua nghiên cứu làng đạo Quy
Chính, xã Vân Diên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An), [54]. Thành công của tác
giả đã cung cấp cho người đọc một khía cạnh khác trong tín ngưỡng thờ cúng
tổ tiên là sự ảnh hưởng của tôn giáo đến vấn đề hiếu kính tổ tiên, nó không chỉ
theo qui định của đạo đức gia đình gia tộc mà còn theo qui định của tôn giáo
mà cộng đồng tôn sùng, tục hiếu kính tổ tiên là kết quả của sự tương tác giữa
tôn giáo và chủ thể văn hóa bản địa (làng đạo Quy Chính). Tác giả cũng nhận
định nguyên nhân biến đổi của tục hiếu kính tổ tiên là do nền kinh tế thị trường
và xu thế toàn cầu hóa, xu hướng bảo tồn văn hóa dân tộc.
Tác giả Lương Văn Sáu trong luận văn cao học Tục thờ cúng tổ tiên của
người Việt Nam bộ [55], Thông qua công trình này, tác giả cho rằng tín ngưỡng
thờ cúng tổ tiên của người Việt ở Nam bộ chịu ảnh hưởng từ tư tưởng coi trọng
gia đình, lấy gia đình làm gốc trong triết lý của Nho giáo được người Hoa mang
đến. “Khi Nho giáo thâm nhập vào xã hội người Việt đã góp phần làm nâng
cao, hệ thống hóa và làm sâu sắc hơn phong tục thờ cúng tổ tiên; nghi thức
cúng giỗ, tang ma đều phỏng theo Nho giáo” [55, tr 79]. Tín ngưỡng thờ cúng
tổ tiên của người Việt Nam bộ chịu ảnh hưởng từ tính chất huyền bí, thoát tục
trong Đạo giáo, việc tập hợp con cháu về nhà cúng ông bà, mời các thầy sư về
tụng kinh cầu cho ông bà tổ tiên được siêu thoát, đi chùa cúng viếng để cầu
phước cho tổ tiên là chịu ảnh hưởng từ văn hóa của người Khmer. Tư tưởng từ
bi hỉ xả của Phật giáo là yếu tố đã tạo nên ảnh hưởng mạnh mẽ đến quan niệm
và nghi thức thờ cúng tổ tiên của người Việt ở Nam bộ. Bên cạnh đó, tác giả
còn đề cập đến sự tác động của xã hội đương đại đến yếu tố truyền thống trong
tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Việt ở Nam bộ.
Sự giao lưu tiếp biến văn hoá thông qua tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên cũng
thể hiện qua công trình Triết học trong tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người
Việt ở Nam bộ của tác giả Lê Thị Son [56]. Với kết cấu hai chương, tác giả cho
thấy diễn biến của quá trình lịch sử hình thành vùng đất và cư dân Nam bộ đã
tạo nên sắc thái riêng của tục thờ cúng tổ tiên. Theo tác giả, người Việt đã tiếp
thu tư tưởng coi trọng chữ hiếu trong Nho giáo để nâng lên thành đạo hiếu, tiếp
22
thu các qui định khắt khe của Nho giáo về tang ma, thờ cúng tổ tiên để sáng tạo
thành các nghi thức trong thờ cúng tổ tiên. Người Việt đã tiếp thu các yếu tố
ma thuật huyền bí của Đạo giáo để sáng tạo ra thế giới thứ hai cho ông bà tổ
tiên và suy diễn các vật chất cần có trong nghi lễ. Sự ảnh hưởng của văn hóa
Khmer đến tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên thể hiện qua quan niệm về linh hồn và
gửi linh hồn vào chùa. Sự ảnh hưởng các yếu tố của văn hóa Ấn Độ thông qua
Phật giáo. Ảnh hưởng nền văn hóa Chăm thông qua quan niệm ông bà tổ tiên
có khả năng phù hộ cho con cháu, tục mở cửa mả, sự quấy phá của linh hồn.
Qua công trình, tác giả đã mở ra một hướng nghiên cứu khác về tín ngưỡng thờ
cúng tổ tiên đó là cách nhìn vấn đề dưới góc độ triết học.
Qua các công trình trên giúp chúng tôi nhận định rằng: Khi xem xét tín
ngưỡng thờ cúng tổ tiên trong mối quan hệ cộng cư cần quan tâm đến các yếu tố
văn hoá được hỗn dung trong quá trình giao lưu tiếp biến văn hoá. Thông qua đó
gợi mở vấn đề phải đặt tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Khmer ở Trà Vinh
trong sự tương tác nhiều chiều của các tộc người cộng cự trên địa bàn nghiên cứu.
1.1.3. Nghiên cứu tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Khmer
Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên là thành tựu văn hóa song hành với lịch sử
hình thành tộc người. Để ổn định tại vùng đất Trà Vinh nói riêng và Nam bộ
nói chung là cả một quá trình di cư và đấu tranh với thiên nhiên và cuộc sống
xã hội để tồn tại. Do vậy, tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Khmer được
biểu hiện khá đa dạng và phong phú. Chính vì lẽ đó, trong các công trình nghiên
cứu về văn hóa Khmer tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên được trình bày từ các góc
độ tiếp cận khác nhau.
Từ góc độ lễ hội, có thể kể đến cuốn, Văn hóa người Khmer vùng Đồng
bằng sông Cửu Long [48] do tác giả Trường Lưu làm chủ biên được xem như
một tư liệu khá đầy đủ về văn hóa của người Khmer Nam bộ. Vấn đề thờ cúng
tổ tiên được tác giả Đặng Vũ Thị Thảo đề cập trong mảng nghiên cứu về hệ
thống lễ hội của người Khmer ở vùng đồng bằng sông Cửu Long. Lễ cúng ông
bà (đôlta) được tác giả miêu tả rất chi tiết qua các ngày tổ chức và các nghi thức
tổ chức. Tuy nhiên, đây chỉ là lễ cúng ông bà trong thực hành thờ cúng tổ tiên
23
của người Khmer Nam bộ. Một nghi lễ khác trong tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên
của người Khmer là lễ tang được tác giả Thạch Voi đề cập đến ở chương thứ 4
của công trình. Ở phần này, tác giả đã dựa vào các tư liệu lịch sử và quan sát
cách thực hiện nghi lễ trong tang ma để giải thích ý nghĩa của việc thờ cúng
ông bà, thời gian, cách thức thực hiện nghi lễ. Tác giả cũng đã đưa ra được
những cứ liệu tôn giáo để giải thích quan niệm của người Khmer về mối liên
hệ giữa người còn sống và linh hồn của người đã khuất.
Năm 1998, công trình Tìm hiểu vốn văn hóa dân tộc Khmer Nam Bộ [81]
được Viện Văn hóa kết hợp với nhà xuất bản tổng hợp tỉnh Hậu Giang xuất
bản. Vấn đề thờ cúng tổ tiên được giới thiệu trong phần nghiên cứu phong tục lễ
nghi của người Khmer đồng bằng sông Cửu Long. Tác giả giới thiệu chi tiết về
lễ cúng ông bà (Đôlta) của người Khmer ở các khía cạnh như thời gian, đối tượng
và cách thức thực hành nghi lễ. Tuy nhiên tác giả xem xét vấn đề dưới góc nhìn
lễ hội và xem đây là một trong 3 lễ hội lớn trong năm của người Khmer.
Nghiên cứu về người Khmer Nam bộ không thể không nhắc đến tác giả
Trần Văn Bổn, công trình Một số lễ tục dân gian người Khmer ở Đồng bằng
sông Cửu Long [13] của ông là một dấu ấn quan trọng nghiên cứu về các lễ tục
dân gian của người Khmer Nam bộ. Trong công trình này tác giả không dành
riêng một nội dung nghiên cứu về tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên mà xếp vào nội
dung phần nghiên cứu về lễ tục vòng đời. Thông qua công trình này, người đọc
hình dung được tục thờ cúng ông bà của người Khmer qua các lễ: chúc thọ,
tang lễ, lễ giỗ, cầu siêu, đại cầu siêu, lễ ông bà. Tác giả xem xét nguồn gốc của
tục thờ cúng tổ tiên qua một truyền thuyết Phật giáo từ đó giải thích các nghi
thức thực hiện nghi lễ trong ngày lễ Đôlta của người Khmer.
Qua những công trình được đề cập trên chúng tôi nhận thấy có một xu
hướng chung là: Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Khmer còn được nhiều
nghiên cứu xem đó là lễ hội truyền thống của tộc người. Trong đó có một số
tác giả xem đó là lễ hội tôn giáo, một số tác giả xem đó là lễ tục dân gian. Cũng
cần nói rõ rằng các tác giả không lấy hoàn toàn các biểu hiện của tín ngưỡng
thờ cúng tổ tiên để xếp vào phần lễ hội mà chỉ lấy một biểu hiện trong hệ thống
24
các thành tố cấu thành tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Khmer là lễ cúng
ông bà (Lễ Đôlta).
Từ góc độ so sánh đối chiếu, trong thời gian gần đây một số công trình
nghiên cứu đã hệ thống hóa đầy đủ hơn về tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của
người Khmer. Cách hệ thống hóa này mở ra một hướng nghiên cứu mới trong
nghiên cứu về văn hóa của người Khmer và đặt ra nhiều vấn đề trong nghiên
cứu thờ cúng tổ tiên của các tộc người thiểu số.
Tiêu biểu cho hướng nghiên cứu này là cuốn, Tín ngưỡng dân gian ở
Thành phố Hồ Chí Minh [9] của tác giả Võ Thanh Bằng cùng các cộng sự. Đây
được xem là công trình đầu tiên hệ thống hóa tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của
người Khmer thành một chuyên đề nghiên cứu. Các tác giả tập trung vào các
vấn đề; thờ phụng phụ tổ và cha mẹ, lễ bái cúng dường, lễ giỗ, vấn đề hương
hỏa để làm sáng tỏ tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Khmer. Công trình
mang tính chất giới thiệu về tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Khmer ở
Thành phố Hồ Chí Minh nhưng trong các nội dung của tín ngưỡng tác giả đặt
trong sự so sánh với tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Việt trên địa bàn
nghiên cứu. Qua đó cho thấy những đặc trưng riêng trong tín ngưỡng thờ cúng
tổ tiên của người Khmer.
Quyển Văn hóa Khmer Nam bộ nét đẹp trong bản sắc văn hóa Việt Nam
[26] do Phạm Thị Phương Hạnh làm chủ biên là một công trình khá qui mô về
văn hóa Khmer Nam bộ. Trong đó, tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên được đề cập
trong phần nghiên cứu về lễ hội, nhóm tác giả tập trung khai thác lễ hội Đôlta
(lễ cúng ông bà) của người Khmer để so sánh với lễ Vu Lan của người Kinh.
Bằng việc đặc tả các biểu hiện của lễ Đôlta, các tác giả đã rút ra được ý nghĩa
của lễ hội cũng như quan niệm của người thực hành nghi lễ. Tuy chỉ chọn hai
lễ hội có liên quan đến tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của hai tộc người để làm đối
tượng so sánh nhưng phương pháp nghiên cứu này đã làm nổi bật giá trị ý nghĩa
của quan niệm hiếu đạo trong tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của cả hai tộc người.
Gần đây nhất, trong luận văn cao học ngành văn hóa học, So sánh tục thờ
cúng tổ tiên giữa người Việt với người Khmer ở huyện Trà Ôn, tỉnh Vinh Long
25
[25] tác giả Phạm Trường Giang đã hệ thống lại tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của
người Khmer một cách khá đầy đủ để từ đó làm cơ sở so sánh với tín ngưỡng
thờ cúng tổ tiên của người Kinh tại địa bàn cụ thể là huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh
Long. Thành công của công trình là chỉ ra được những nét tương đồng và khác
biệt giữa tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của hai tộc người từ quan niệm, mục đích,
cách thức thực hành nghi lễ.
Phần lớn các công trình nói trên thường đề cập đến một hoặc một số lễ
nghi trong tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên để làm nổi bật đặc trưng văn hóa của tộc
người Khmer. Một số công trình đã hệ thống hóa lại các lễ nghi trong tín
ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Khmer sau đó đặt trong phép so sánh đối
chiếu với tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Kinh để tìm ra sự giống và
khác nhau của loại hình tín ngưỡng này ở hai tộc người. Qua đó cho thấy vấn
đề hỗn dung văn hóa thông qua tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Khmer
còn là vấn đề bỏ ngỏ chưa được đề cập.
1.1.4. Nhận xét chung
Từ việc khảo cứu các nguồn tài liệu đi trước nghiên cứu về tín ngưỡng
thờ cúng tổ tiên có thể rút ra những nhận xét như sau:
Thứ nhất, các công trình chọn tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên để làm đối tượng
nghiên cứu đã có đóng góp ở rất nhiều góc nhìn khác nhau. Ngoài những công
trình khảo tả về tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Kinh nhằm góp phần làm
phong phú và đa dạng cho bức tranh văn hóa của dân tộc Việt, các công trình
thiên về nghiên cứu tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên trong bối cảnh xã hội đương đại
đã cho thấy sự tác động của các yếu tố xã hội đến quan niệm và thực hành nghi
lễ trong tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên đồng thời nhu cầu nội sinh của tín ngưỡng
thờ cúng tổ tiên cũng trở thành yếu tố tác động đến hành vi xã hội của chủ thể
thờ cúng và những đối tượng có liên quan. Bên cạnh đó, các công trình nghiên
cứu về tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên tại các vùng miền khác nhau cũng cho thấy
sự ảnh hưởng của địa bàn nghiên cứu đến tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, quan niệm
về nguồn gốc hay quê hương của tổ tiên cũng ảnh hưởng đến tâm lý và hành vi
của chủ thể thực hiện hành vi thờ cũng tổ tiên. Thông qua kết quả của các công
26
trình trên giúp chúng tôi lưu ý về sự giao lưu tương tác giữa tín ngưỡng thờ cúng
tổ tiên với các yếu tố văn hoá xã hội cũng như cần quan tâm đến yếu tố nội sinh
của tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên.
Thứ hai, Các công trình về giao lưu tiến biến văn hoá trong tín ngưỡng
thờ cúng tổ tiên đã tạo nên một hệ thống tư liệu về quá trình hình thành cũng
như đặc trưng văn hoá trong tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của các tộc người khác
nhau. Sự giao lưu tiếp biến không chỉ diễn ra ở các hình thức tín ngưỡng thờ
cúng tổ tiên của các tộc người với nhau mà còn có sự giao lưu với văn hoá bản
địa và tôn giáo du nhập. Sự giao lưu tiếp biến giữa tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên
với các tôn giáo là cơ sở quan trọng để chúng tôi quan tâm đến mối quan hệ của
tôn giáo với đối tượng nghiên cứu của đề tài. Bên cạnh đó, việc xem xét sự biến
đổi của tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên dưới sự tác động của các yếu tố xã hội hay
xem tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên là kết quả của quá trình giao lưu văn hóa của
các tộc người đã tạo ra tiền đề để chúng tôi quan tâm đến các vấn đề đương đại
trong quá trình nghiên cứu. Cùng với xu hướng nghiên cứu tín ngưỡng thờ cúng
tổ tiên theo địa bàn, tộc người, giao lưu tiếp biến việc nghiên cứu tín ngưỡng
thờ cúng tổ tiên của các tộc người thiểu số cũng đã được nhiều tác giả quan
tâm. Ngoài những công trình, bài viết chỉ đơn thuần giới thiệu đặc trưng tín
ngưỡng thờ cúng tổ tiên của một tộc người bằng phương pháp thực địa còn có
những công trình tìm ra các đặc trưng văn hóa chung của một hoặc nhiều tộc
người thông qua so sánh tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của họ. Thông qua hướng
nghiên cứu so sánh để tìm ra sự tương quan của các đối tượng nghiên cứu tạo
nền móng để chúng tôi lưu ý đến sự tương đồng của các yếu tố văn hóa cộng
đồng và bản địa trong tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Khmer tại Trà Vinh.
Thứ ba, trong các công trình nghiên cứu về tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên
của người Khmer đã được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm. Theo nhận định của
chúng tôi các công trình này nổi trội ở hai xu hướng. Xu hướng xem tín ngưỡng
thờ cúng tổ tiên của người Khmer là một lễ hội của cộng đồng hoặc lễ hội tôn
giáo. Hướng nghiên cứu này chỉ tập trung vào lễ cúng ông bà (Lễ Đôlta) của
người Khmer để miêu tả và giới thiệu đặc trưng văn hóa tộc người. Xu hướng
27
thứ hai là hệ thống hóa lại tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Khmer và đặt
trong sự so sánh với người Kinh trên cùng một địa bàn nghiên cứu. Kết quả của
hướng nghiên cứu này là chỉ ra những yếu tố giao lưu giữa hai nền văn hóa cộng
cư Kinh – Khmer. Trong nhóm các công trình này cho thấy một vấn đề còn bỏ
ngỏ như: Những biểu hiện của tôn giáo trong tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, sự gắn
bó giữa tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên với Phật giáo Nam tông, sự phụ thuộc lẫn
nhau giữa tôn giáo và tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Khmer, sự hỗn dung
các thành tố văn hóa trong tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Khmer.
Thứ tư, nhìn tổng thể thì vấn đề giao lưu văn hóa trong tín ngưỡng thờ
cúng tổ tiên của người Kinh và các tộc người thiểu số đã được thực hiện ở mức
độ đánh giá những giá trị văn hóa truyền thống đã bị tác động của các yếu tố
văn hóa khác hoặc sự tác động của xã hội làm nó biến đổi. Bên cạnh đó cũng
có những công trình đề cập đến sự xâm nhập và ảnh hưởng của tôn giáo đến tín
ngưỡng thờ cúng tổ tiên. Tuy nhiên việc hệ thống hóa tín ngưỡng thờ cúng tổ
tiên của tộc người Khmer cũng như phân tích sự tương tác giữa tôn giáo với tín
ngưỡng thờ cúng tổ tiên, sự hỗn dung các giá trị văn hoá trong cùng một hiện
tượng văn hoá vẫn còn là một vấn đề bỏ ngỏ để chúng tôi quan tâm và thực hiện.
Từ những phân tích trên chúng tôi nhận thấy còn một số vấn đề mà đề
tài cần hướng tới:
Vận dụng hướng nghiên cứu giao lưu tiếp biến để tìm hiểu sự hỗn dung
văn hoá trong tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Khmer ở Trà Vinh.
Hệ thống lại tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Khmer trên một địa
bàn cụ thể là tỉnh Trà Vinh
Tìm hiểu hiện tượng hỗn dung các giá trị văn hoá trong tín ngưỡng thờ
cúng tổ tiên của người Khmer tại Trà Vinh thông qua thực hành thờ cúng tổ tiên.
Sự tác động của các vấn đề đương đại đến tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên
của người Khmer tại Trà Vinh.
28
1.2. Cơ sở lý luận
1.2.1. Giới thuyết một số khái niệm
1.1.1.1. Khái niệm Nhân sinh quan
Theo giải thích trong cuốn Từ điển Bách khoa Việt Nam thì: Nhân sinh
quan là một bộ phận của thế giới quan (hiểu theo nghĩa rộng), gồm những quan
niệm về cuộc sống của con người: lẽ sống của con người là gì? Mục đích, giá
trị, ý nghĩa của cuộc sống con người ra sao và sống như thế nào cho xứng đáng?
Trả lời những câu hỏi đó là nhân sinh quan. Bất kì người nào cũng có quan
niệm của mình về cuộc sống. Trong đời thường, đó là nhân sinh quan tự phát,
“ngây thơ” của đại chúng; các nhà tư tưởng khái quát những quan điểm ấy,
nâng lên thành lí luận, tạo ra nhân sinh quan tự giác, mang tính nguyên lý triết
học. Nhân sinh quan phản ánh tồn tại xã hội của con người. Nội dung của nó
biểu hiện những nhu cầu, lợi ích, khát vọng và hoài bão của con người trong
mỗi chế độ cụ thể [2, tr. 325 – 326].
Bàn về phạm trù nhân sinh quan, các nhà triết học phương Tây quan tâm
đến khía cạnh khoa học tự nhiên hoặc hoạt động lý tính của con người để lý
giải bản chất của con người và các vấn đề khác có liên quan. Nếu các nhà triết
học duy tâm giải thích bản chất lý tính của con người thì các nhà triết học duy
vật đưa ra quan niệm về bản chất vật chất của con người, coi con người cũng
như mọi vật khác trong giới tự nhiên không có gì là huyền bí, con người cũng
được cấu tạo từ các thể của vật chất.
Chúng tôi nhận thấy rằng, đối với các quốc gia phương Đông trong đó
có Việt Nam thường hay sử dụng các khái niệm: nhân sinh quan, triết lý nhân
sinh, đạo đức làm người, đạo lý theo hướng nghĩa tương tự nhau. Nhưng thực
chất đó là những hình thức biểu hiện của nhân sinh quan với mục đích giáo dục
con người, khích lệ cá nhân hay cộng đồng hiểu và vận dụng các giá trị, sắc
thái khác nhau của nhân sinh quan.
Từ những quan điểm và cách lý giải trên, chúng tôi tạm hiểu một cách khái
quát nhất về nhân sinh quan sử dụng trong luận án này là: nhân sinh quan là quan
niệm về con người và cuộc sống của con người, mục đích và giá trị của cuộc sống.
29
1.1.1.2. Khái niệm vũ trụ quan
Trong Từ điển Tiếng Việt, tác giả Bùi Quang Tịnh và Bùi Thị Tuyết
Khanh cho rằng vũ trụ quan “là quan niệm về vũ trụ”[69, tr.992]. Khi bàn luận
vấn đề quan niệm về vũ trụ trong thần thoại Việt Nam tác giả Phạm Văn Hùng
quan niệm rằng vũ trụ quan của con người được biểu hiện trong nhiều lĩnh vực
khác nhau. Trong thần thoại Việt Nam, quan niệm về sự hình thành của vũ trụ
thể hiện qua ba thời kỳ: Thời kỳ hỗn mang; thời kỳ vũ trụ hình thành còn khiếm
khuyết; thời kỳ vũ trụ ổn định và hài hòa;, Quan niệm về các yếu tố hợp thành
vũ trụ gồm có: Trời, đất và nước. Khi nghiên cứu về bản chất của các yếu tố
hình thành nên vũ trụ trong quan niệm của phương Đông nói chung và của Việt
Nam nói riêng, Giáo sư Trần Ngọc Thêm cho rằng “Trong cuộc sống, dân tộc
nào cũng va chạm với những cặp đối lập “Trời – đất”, “đực – cái” , “nóng –
lạnh”, “cao – thấp””,…[61, tr. 52] trên cở sở sự hợp nhất của những cặp đối lập
này mà hình thành nên vũ trụ. Cũng từ sự tương tác của các cập đôi này đã hình
thành nên bộ tam tài thiên – địa – nhân trong cấu trúc vũ trụ. Theo ông Tam tài
“là tên gọi xuất hiện về sau dùng để gọi sự vận dụng cụ thể một quan niệm triết
lý cổ xưa về cấu trúc không gian vũ trụ dưới dạng mô hình ba yếu tố”[61, tr.62].
Như vậy, khi đề cập đến vấn đề vũ trụ quan là đề cập đến vấn đề quan niệm của
con người về không gian và thời gian vũ trụ. Trong đó ở mỗi tộc người có niềm
tin khác nhau về sự tồn tại của mình tronghệ thống các không gian nhất định.
Thông quan những ứng xử xã hội và những nghi lễ trong cuộc sống thường
nhật có thể thấy được quan niệm của mỗi tộc người về sự tồn tại của vũ trụ.
Trong khuôn khổ của một luận án, tác giả không đi tìm quan niệm của người
Khmer về quá trình hình thành của vũ trụ hay các yếu tố hợp thành vũ trụ mà
thông qua những biểu hiện của tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, tác giả quan tâm
đến quan niệm của người Khmer về không gian vũ trụ mà con người đang tồn
tại cũng như các đối tượng tồn tại trong không gian ấy.
1.2.1.1. Khái niệm tổ tiên và quan niệm về tổ tiên của người Khmer
Để giải quyết vấn đề về quan niệm tổ tiên của người Khmer trong luận
án này, chúng tôi thực hiện bước xác định nội hàm của khái niệm tổ tiên. Thông
30
qua tổng hợp các nghiên cứu đi trước về thờ cúng tổ tiên chúng tôi nhận thấy
có nhiều quan niệm khác nhau về tổ tiên như: xem tổ tiên là những người có
quan hệ huyết thống, tổ tiên là tổ làng, tổ tiên là tổ nghề và tổ nước,….. Chẳng
hạn theo tác giả Lê Đức Hạnh thì: “Khi hiểu tổ tiên là những người đã khuất,
nếu chỉ đơn thuần là những người thân trong dòng họ, gia đình, việc thờ cúng
có sự khác nhau giữa các nhóm tộc người. Khi hiểu tổ tiên là những người đã
mất, bao gồm cả những người ngoài dòng tộc, như những người có công với
làng nước, thì việc thờ cúng cũng có sự khác nhau” [84, tr. 237-238].
Bàn về bản chất của tín ngưỡng ngưỡng và vần đề tổ tiên, tác giả Ngô
Đức Thịnh không phủ nhận quan điểm trên. Tuy nhiên, theo ông nếu vận dụng
hoàn toàn quan điểm trên thì khái niệm về tổ tiên sẽ được mở rộng ra rất nhiều
và không phân biệt rõ ràng vì “Trong thực tế, rất nhiều bậc tổ làng (tiền hiền
khai ấp, hậu hiền khai cơ) được tôn sùng là Thành hoàng cai quản không gian
thiêng liêng của làng. Trong số các thần Thành hoàng cũng có một số nghề”
[64, tr. 31]. Cũng theo tác giả khái niệm “tổ tiên” nên được giới hạn trong trục
huyết thống theo mối quan hệ thân tộc tổ nhà tổ họ hoặc có thể mở rộng hơn là
vị thần tổ của nước – vua Hùng theo quan niệm hình thành tộc người trong
truyền thuyết của người Việt.
Đúc kết từ những quan điểm trên để vận dụng vào luận án, chúng tôi giới
hạn khái niệm “tổ tiên” trong tiêu chí quan hệ huyết thống, quan hệ thân tộc.
Mặt khác, khi chọn giớn hạn trên chúng tôn nhằm phân biệt khái niệm “tổ tiên”
với khái niệm “tổ tiên – Tôtem giáo” được phổ biến ở nhiều tộc người. Trong
lịch sử văn hoá tín ngưỡng cho thấy tín ngưỡng thờ “tổ tiên – Tôtem giáo” được
ra đời khá sớm. Các thị tộc tôn sùng một biểu tượng Tôtem như tổ tiên của
mình, đó có thể là biểu tượng thực vật, động vật hoặc nữa người, nữa vật. Theo
tác giả Ngô Đức Thịnh tục lệ của một tộc người cũng được xem là biểu hiện
của hình thức tôn sùng tổ tiên theo Tôtem giáo “Một vài tộc người ở Tây
Nguyên vốn có tục “cà răng” như dấu ấn về sự mong muốn có hình dáng gần
gũi với đặc trưng của tổ tiên (loài vật nhai lại)”[64, tr. 32]. Trong luận án này
31
chúng tôi xem xét đối tượng được khái niệm là “tổ tiên” trong tín ngưỡng thờ
cúng tổ tiên của người Khmer theo tiêu chí huyết thống thân tộc.
Thật vậy, trong thực tế người Khmer ở Trà Vinh quan niệm tổ tiên là
những người có quan hệ huyết thống. Người Khmer gọi là “tổ tiên” là chỉ các
linh hồn của người đã qua đời có mối quan hệ huyết thống với người thờ cúng
và những người có cùng chung huyết thống với người thờ cúng. Trong mối
quan hệ huyết thống với “tổ tiên”, người Khmer không phân biệt thứ bậc, chi
họ, bên nội hay bên ngoại. Những người có cùng chung huyết thống với người
đã khuất thì có trách nhiệm thờ cúng tạo phước cho linh hồn và cho chính họ.
1.2.1.3. Khái niệm tín ngưỡng và tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên
Hiện nay, khái niệm tín ngưỡng vẫn chưa được thống nhất về quan điểm
của nhiều nhà nghiên cứu, từ kết quả tổng hợp cho thấy có ba nhóm quan niệm
về tín ngưỡng như sau:
Thứ nhất, một số nhà nghiên cứu quan niệm rằng tín ngưỡng và tôn giáo
là hai đối tượng nghiên cứu khác nhau. Tiêu biểu như quan niệm của Ngô Đức
Thịnh. Theo Ông cần phân biệt giữa tôn giáo và tín ngưỡng với nhiều tiêu chí
để thấy sự khác nhau như: Tín ngưỡng - chưa có hệ thống giáo lý, mà chỉ mới
có các huyền thoại, thần tích, truyền thuyết; chưa thành hệ thống thần điện còn
mang tính chất đa thần, tản mạn; còn có sự hòa nhập nhất định giữa thế giới
thần linh và con người; chưa mang tính cứu thế, gắn với cá nhân và cộng đồng
làng xã; chưa thành giáo hội; nơi thờ cúng và nghi lễ còn phân tán và chưa qui
ước chặt chẽ, mang tính chất dân gian, gắn với đời sống nông dân. Trong khí
đó, tôn giáo đã có hệ thống giáo lý, kinh điển thể hiện quan niệm vũ trụ và nhân
sinh; truyền thụ qua học tập ở các tu viện, thánh đường; thần điện đã thành hệ
thống dưới dạng đa thần hay nhất thần giáo, tách biệt thế giới thần linh và con
người; xuất hiện hình thức “cứu thế”; tổ chức giáo hội, hội đoàn khá chặt chẽ,
hình thành hệ thống giáo chức; nơi thờ cúng riêng, nghi lễ thờ cúng chặt chẽ,
không mang tính dân gian, có chăng chỉ là sự biến dạng theo kiểu dân gian
hóa,…Từ sự phân biệt trên, tác giả Ngô Đức Thịnh đã đưa ra quan điểm của
mình “Chúng tôi sử dụng khái niệm tín ngưỡng với tư cách như một hình thức
32
thể hiện niềm tin vào cái thiêng liêng của con người, của một cộng đồng người
nào đó ở một trình độ phát triển xã hội cụ thể”[64, tr. 11]
Thứ hai, quan niệm của những nhà nghiên cứu cho rằng tín ngưỡng cũng
là tôn giáo. Tiêu biểu như quan niệm của Đặng Nghiêm Vạn. Trong bài viết
“Tôn giáo hay tín ngưỡng”, tác giả nhận định “Thuật ngữ tôn giáo bao gồm
nhiều mức độ, nhiều sắc thái. Nếu ta coi tôn giáo là niềm tin vào Đấng tối cao
tuyệt đối, đầy lớn lao và hoàn hảo” thì “ ta phải nói Việt Nam không có tôn
giáo”. Bởi lẽ, theo phân tích của ông ở Việt Nam có những tôn giáo mà người
sáng lập không phải là đấng tối cao. Một khía cạnh khác là cách hiểu của người
phương Tây về khái niệm tín ngưỡng “Khi ta nói tín ngưỡng, người Châu Âu
hiểu rằng đó là niềm tin nói chung (bilief, bilieves (Anh), verôvanhie (Nga) hay
croyace religieuse (Pháp),…). Có thể hiểu belief…là tín ngưỡng và cũng là tôn
giáo nên khi nói tự do tín ngưỡng thường được dịch ra tiếng Pháp là liberté de
la religion, tự do tôn giáo”. Theo tác giả “Có người phân biệt tín ngưỡng là một
tôn giáo không có tổ chức, lại gán cho đó là ý của C. Mác, Ph. Ăngghen là
không đúng” hơn nữa, nếu phân biệt tôn giáo với tín ngưỡng với các tiêu chí
đã đưa ra thì “Vậy lẽ nào những tôn giáo như đạo Phật mà Giáo hoàng Phaolô
II đã một lần phủ nhận, như đạo Tổ tiên với những nghi lễ, những quan niệm
thống nhất từ người bình dân đến các tri thức lại bị hạ xuống là tín ngưỡng –
một thứ tôn giáo hạng hai như một số người quan niệm”. Theo ông không nên
phân biệt giữa tôn giáo và tín ngưỡng cũng như việc đưa ra các tiêu chí để phân
biệt nó. Cũng đồng quan điểm này, trong bài viết “Nhận thức lại về các khái
niệm “tín ngưỡng” và “tôn giáo” từ góc độ nghiên cứu tôn giáo”, tác giả Nguyễn
Quốc Tuấn đã khẳng định “Cần khẳng định rằng, không có những cái quen gọi
là tín ngưỡng lại có thể tồn tại một cách riêng lẻ, đơn lập mà không phụ thuộc
trực tiếp hay gián tiếp vào một đời sống tâm linh nào đó, ở một tộc người nào
đó”. Từ việc dẫn chứng các thuật ngữ Phương Đông và Phương Tây thông qua
việc phân tích các chức năng của hiện tượng tín ngưỡng, tác giả đã nhận định
rằng “Nói cách khác, cái mà chúng ta gọi là “tín ngưỡng dân gian” thực ra là
“Tôn giáo”, nếu như muốn dùng khái niệm này, dù hiểu theo nghĩa bản thể hay
33
định nghĩa chức năng” và theo quan điểm của tác giả thì không nên gọi “Tín
ngưỡng dân gian”, mà nên gọi là “Tín ngưỡng tôn giáo đại chúng”. Theo các
quan điểm này thì “Tôn giáo” và “Tín ngưỡng” là một hình thái không tách rời
nhau mà được gọi chung là “Tôn giáo”.
Thứ ba, quan niệm trung dung của các nghiên cứu không muốn đề cập
đến vấn đề phân biệt hay không phân biệt giữa tín ngưỡng và tôn giáo mà nên
nhìn nhận các đặc điểm của hai đối tượng. Có lẽ Nguyễn Hữu Thông là tác giả
trung dung nhất trong việc đánh giá các khái niệm, “Dù hiểu trên góc độ nào,
tín ngưỡng - tôn giáo vẫn là một hình thái ý thức xã hội, cũng là một nhu cầu
của xã hội. Và một khi những nhu cầu ấy chưa được những hình thái khác của
ý thức xã hội hoàn toàn thỏa mãn thì đối với một số tầng lớp xã hội, tín ngưỡng
- tôn giáo vẫn là nguồn gốc của giá trị đạo đức, niềm an ủi, sự nâng đỡ về tâm
lý” [43, tr. 12]. Đồng quan điểm nghiên cứu, tác giả Vũ Ngọc Khánh và Phạm
Minh Thảo phân tích về tín ngưỡng dân gian như sau: “Từ xa xưa, con người
cảm nhận thế giới qua những niềm tin vào các lực lượng siêu nhiên đã hình
dung ra thần thánh có sức mạnh diệu kỳ, mặc nhiên thống trị cuộc sống dân
gian. Niềm tin đó tạo nên những hoạt động tương ứng, biểu hiện qua việc thờ
cúng, các nghi lễ, tập tục. Tất cả những điều này làm nên tín ngưỡng dân gian”
[37, tr. 890 - 891]. Có thể thấy, tín ngưỡng là hệ thống những niềm tin và cách
thức biểu đạt đức tin của con người đối với những hiện tượng tự nhiên hay xã
hội; nhân vật lịch sử hay huyền thoại có liên quan đến cuộc sống của họ nhằm
cầu mong sự che chở, giúp đỡ từ những đối tượng siêu hình mà người ta thờ
phụng. Tác giả Phạm Trường Khang và Hoàng Lê Minh cho rằng: “Tín ngưỡng
là lòng tin và sự ngưỡng vọng và một lực lượng siêu nhiên thần bí, vô hình, tác
động đến đời sống tâm linh và được tôn thờ” [36, tr 344]. Các tác giả chỉ ra rằng,
tín ngưỡng không chỉ có nguồn gốc lâu đời trong cội nguồn văn hóa dân tộc mà
luôn là “lĩnh vực nhạy cảm gây nên nhiều cách đánh giá khác nhau” [36, tr. 344].
Như vậy, theo những quan niệm trên, “tín ngưỡng” là yếu tố độc lập với
“tôn giáo”. Tín ngưỡng là cấp độ nhận thức cơ bản của tôn giáo để thúc đẩy
làm nảy sinh tôn giáo. Tôn giáo xem như là cấp độ hoàn thiện của các tín
34
ngưỡng. Sự tách biệt giữa “tín ngưỡng” và “tôn giáo” như vậy còn nhiều vấn
đề phải bàn luận hay không? Đó là nguyên căn dẫn đến xu hướng thứ hai muốn
bàn luận lại vấn đề khái niệm “tín ngưỡng” và “tôn giáo”.
Từ những lược thuật như trên, chúng tôi tạm hiểu. Tín ngưỡng là niềm
tin của quần chúng nhân dân vào một hiện tượng siêu nhiên chi phối đến cuộc
sống của con người mà họ không thể làm chủ, giải thích được. Từ đó các cá
nhân và cộng đồng cùng nhau qui ước thành niềm tin và tôn thờ cùng các thực
hành nghi lễ với ước mong cuộc sống tốt đẹp hơn. Về nguồn gốc nảy sinh là do
sự tác động của lực lượng siêu nhiên đến con người. Về hình thức biểu tượng
là do mỗi cộng đồng qui ước. Về cách thức tôn thờ và thực hành nghi lễ là sự
kế thừa truyền thống và sáng tạo tích luỹ của cộng đồng. Luận án căn cứ vào
ba đặc điểm này của tín ngưỡng để khảo sát tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của
người Khmer trên địa bàn nghiên cứu.
Xét ở phương diện nội dung thì tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên là quan niệm
về sự tồn tại của linh hồn và ứng xử của người còn sống với linh hồn người đã
khuất (chủ yếu xét theo tiêu chí quan hệ huyết thống) theo quan niệm hồn người
đã khuất quay về bên cạnh con cháu, các hành vi của người còn sống nhằm giúp
đỡ, phục vụ cho người đã khuất theo các tiêu chí truyền thống của gia tộc và
phù hợp với những chuẩn mực được qui định bởi cộng đồng. Trong đó, động
lực lớn nhất để người còn sống thực hiện lặp đi lặp lại các thực hành thờ cúng
là niềm tin vào sự tồn tại của linh hồn người đã chết và sự cộng hưởng của đạo
lý uống nước nhớ nguồn. Một mặt, con cháu bày tỏ lòng biết ơn đối với các bậc
sinh thành, lúc đã chết cũng như khi còn sống. Mặt khác, nó thể hiện trách
nhiệm liên tục truyền – nối của các thế hệ đối với ông bà tổ tiên. Trách nhiệm
được thể hiện không chỉ ở các hành vi khi còn sống (tiếp nối truyền thống) mà
còn trong các hành vi cúng tế cụ thể.
Như vậy, có thể hiểu “tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên” là niềm tin của con
người vào sự linh thiêng của ông bà mà cụ thể là tin vào sự tồn tại của phần
hồn. Biểu hiện của niềm tin đó là hành vi thờ cúng của những người còn đang
sống đối với người đã chết.
35
1.2.2. Vấn đề hỗn dung văn hoá và sự vận dụng vào luận án
Để tìm hiểu và vận dụng vấn đề hỗn dung văn hoá, trong luận án này
chúng tôi bắt đầu từ việc tìm hiểu vấn đề giao lưu tiếp biến văn hoá. Khi nghiên
cứu về giao lưu và tiếp biến văn hóa, tác giả Ngô Đức Thịnh đã khẳng định
“Một trong những thuộc tính của văn hóa là có thể chia sẻ, tức là văn hóa có
thể giao lưu, ảnh hưởng, vay mượn qua lại từ cộng đồng người (dân tộc, quốc
gia, khu vực…) này sang cộng đồng khác.”[65, tr. 123]. Như vậy giao lưu, đã
xuất hiện từ khi có văn hóa. Trong quá trình giao lưu và tiếp biến văn hóa làm
cho cái truyền thống được đổi mới, để cái truyền thống được đổi mới thì phải
nhờ vào sự thúc đẩy của các yếu tố nội sinh. Tác giả cũng cho rằng “Giao lưu,
ảnh hưởng, vay mượn còn là một nhân tố quan trọng trong qui luật truyền thống
và đổi mới của văn hóa”[65, tr. 123] bởi vì trong quá trình diễn ra qui luật
truyền thống đổi mới thì giao lưu và tiếp biến là chất xúc tác đảm bảo sự
thành công của qui luật. Theo tác giả Ngô Đức Thịnh “Trong quá trình phát
triển văn hóa, không ít hiện tượng lúc đầu chỉ là yếu tố vay mượn, ảnh hưởng,
nhưng dần biến đổi theo xu hướng dân tộc hóa, trở thành văn hóa dân tộc, ít
nhiều mang dấu ấn tộc người”[65, tr. 130]. Mặt khác, tác giả cũng cho rằng
“Khi bàn tới con đường hay các phương thức thâm nhập và xuất hiện của cái
mới trong văn hóa dân tộc, người ta thường kể tới ba nhân tố cơ bản, đó là sự
phát triển nội tại, bị kích thích và vay mượn”[65, tr. 132]. Từ quan điểm này
cho thấy, muốn xem xét vấn đề văn hoá phải dựa trên sự xuất hiện của cái mới,
trên cơ sở cái mới còn phải tìm ra nhân tố sản sinh ra nó từ đó biết được đó là
cái mới thuộc văn hóa dân tộc hay văn hóa của dân tộc. Như vậy có thể thấy
quá trình giao lưu tiếp biến văn hoá sẽ xảy ra các trường hợp: Không chọn lấy
toàn bộ mà chỉ chọn những giá trị văn hoá thích hợp, tiếp nhận cả hệ thống
những vận dụng theo quan điểm của tộc người, mô phỏng và biến thể thành tựu
văn hoá của tộc người khác.
Tương tự, bàn về vấn đề tiếp xúc và giao lưu văn hoá, tác giả Chu Xuân
Diên cho rằng giao lưu văn hoá là kết quả cuối cùng của quá trình tiếp xúc kinh
tế - xã hội giữa các cộng đồng người với nhau. Quá trình tiếp xúc văn hoá làm
36
lan truyền các giá trị văn hoá, trong sự lan truyền văn hoá xuất hiện việc tiếp
nhận những yếu tố văn hoá mới bên cạnh những giá trị văn hoá bản địa. Các
giá trị văn hoá mới này có tác động làm đổi mới cái cũ của nền văn hoá bản địa
hoặc bị bản địa hoá. Như vậy tiếp xúc và giao lưu văn hoá tạo nên sự hỗn dung
các giá trị văn hoá với nhau trong cùng một nển văn hoá hay một khía cạnh văn
hoá nào đó dẫn đến các giá trị văn hoá mới xuất hiện. Giá trị văn hoá mới này
phụ thuộc vào mức độ tiếp nhận và dung hợp của chủ thể văn hoá.
Bên cạnh đó, tác giả Trần Quốc Vượng (chủ biên) xem sự giao lưu tiếp
biến văn hoá như một tất yếu của xã hội “Giao lưu và tiếp biến văn hoá là sự
vận động thường xuyên của xã hội, gắn bó với tiến hoá xã hội nhưng cũng gắn
bó với sự phát triển của văn hoá, là sự vận động thường xuyên của văn hoá”
[89, tr.50]. Với quan điểm này tác giả cũng cho rằng sự giao lưu tiếp biến văn
hoá là do sự trao đổi về mặt kinh tế và “phi kinh tế”. Theo tác giả, “Ngoài hoạt
động trao đổi kinh tế còn có những hoạt động trao đổi “phi kinh tế” mà ảnh
hưởng của chúng đến giao lưu văn hoá không nhỏ (sự trao đổi tặng phẩm, vật
phẩm tôn giáo…). Sự tiếp xúc văn hoá còn có thể có được nhờ những tiếp xúc
khác như quan hệ hôn nhân, quan hệ ngoại giao…”[89, tr.51].
Đúc kết từ những quan điểm trên chúng tôi nhận thấy rằng, hỗn dung là
một mức độ tiếp xúc văn hoá tất yếu trong quá trình giao lưu và tiếp biến của
các nền văn hoá, hỗn dung là sự dung hợp từ nhiều mặt khác nhau của chủ thể
văn hoá trong xã hội như: tôn giáo, kinh tế, tín ngưỡng,...nhưng chưa biểu hiện
sự biến đổi hay bài trừ các giá trị văn hoá. Kết hợp với tư liệu ở phần tổng quan
cho thấy đã có sự giao lưu tiếp tiến văn hoá của các tộc người trong cùng một
quốc gia và có cả sự hỗn dung văn hoá của các quốc gia với nhau. Bên cạnh đó,
văn hoá, tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của các tộc người ở Việt Nam cũng như
các nước ở Châu Á đã có sự hỗn dung vay mượn các giá trị văn hoá với nhau,
có cả sự hỗn dung các yếu tố tôn giáo và văn hoá bản địa.
Cùng xu hướng nghiên cứu đặc điểm hỗn dung của văn hoá, Thông qua
bài viết “Hỗn dung văn hoá trong tín ngưỡng dân gian” tác giả Huỳnh Thăng
đã minh chứng hỗn dung văn hoá trong tín ngưỡng dân gian là một đặc trưng
37
của cư dân Nam bộ mà minh chứng là địa bàn Cà Mau. Quá trình khẩn hoang
tất yếu dẫn đến tâm lý tiếp nhận cái mới để đảm bảo cho sự sống là nguyên
nhân nội sinh của sự hỗn dung văn hoá. Con người đã tiếp nhận nhiều dạng
thức của tín ngưỡng (thờ cúng tổ tiên, thần tại gia, thờ Bà Chúa xứ, thờ mẹ Nam
hải, thờ Cá Ông, Bà Cậu, Thuỷ Long,…) để an ủi cuộc sống tinh thần an tâm
phát triển vật chất. Tương tự như vậy, trọng bài viết “sự hỗn dung văn hoá trong
tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên ở Nam bộ” tác giả Huỳnh Ngọc Trảng cho rằng tín
ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Việt là sự hỗn dung từ các tôn giáo: Nho
giáo, Đạo giáo, Phật giáo. Các lễ nghi và quan niệm trong tín ngưỡng thờ cúng
tổ tiên của người Việt ở Nam bộ đều được bắt nguồn từ quan niệm và tư tưởng
của ba tôn giáo trên.
Trên cơ sở nhận định các quan niệm và nghiên cứu đi trước chúng tôi
vận dụng hướng nghiên cứu về sự tất yếu của hiện tượng hỗn dung văn hoá vào
việc tìm hiểu tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Khmer ở Trà Vinh để tìm
ra đặc trưng văn hoá độc đáo của họ.
Trong khuôn khổ của một luận án, chúng tôi vận dụng quan điểm về sự
giao lưu tiếp biến văn hoá để tìm hiểu những yếu tố văn hoá đã và đang được
hỗn dung vào tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Khmer tạo nên sự đa dạng
và phong phú cho các giá trị văn hoá. Chúng tôi dùng thuật ngữ hỗn dung văn
hoá với cách hiểu: Trong biểu hiện của một hiện tượng văn hoá đồng thời xuất
hiện các yếu tố văn hoá của tộc người chủ thể cùng với các yếu tố tôn giáo, văn
hoá đã và đang là đặc trưng trong nền văn hoá của các dân tộc cộng cư khác.
Cụ thể trong luận án này, chúng tôi xem xét những nghi lễ, quan niệm, biểu
hiện hành vi thờ cúng tổ tiên của người Khmer ở Trà Vinh trong sự tương quan
với tôn giáo (Phật giáo Nam tông) và tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của các tộc
người cộng cư tại địa bàn nghiên cứu nhằm thấy được các yếu tố văn hoá được
cộng gộp và tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Khmer.
38
1.3. Bối cảnh địa bàn nghiên cứu
1.3.1. Khái quát về tỉnh Trà Vinh
Trà Vinh là tỉnh đồng bằng ven biển, nằm giữa hạ lưu sông Tiền và sông Hậu tiếp giáp biển Đông. Diện tích tự nhiên của tỉnh là 2.369,37km2. Phía Đông
và Đông Nam giáp biển Đông, phía Nam và Tây Nam giáp tỉnh Sóc Trăng, phía
Tây và Tây Bắc giáp tỉnh Vĩnh Long, phía Bắc và Đông Bắc giáp với tỉnh Bến
Tre. Trung tâm tỉnh lị là Thành phố Trà Vinh nằm trên quốc lộ 53, cách Thành
phố Hồ Chí Minh khoảng 202 km và cách Thành phố Cần Thơ khoảng 100 km.
Tổng diện tích tự nhiên của tỉnh chiếm 5,63% diện tích vùng đồng bằng sông Cửu
Long và 0,67% diện tích cả nước. Tỉnh Trà Vinh có 7 huyện và một Thành phố.
Chúng tôi lưu ý đến 3 địa bàn mẫu sau:
Thành Phố Trà Vinh được thành lập vào ngày 04/03/2010 với diện tích
68,03 km², dân số năm 2019 là 112.584 người, mật độ dân số đạt 1.655
người/km²[79]. Thành phố Trà Vinh nằm bên bờ sông Tiền, trên Quốc lộ 53 và
cách Thành phố Hồ Chí Minh khoảng 202 km và cách thành phố Cần
Thơ 100 km, cách bờ biển Đông 40 km, với hệ thống giao thông đường
bộ và đường thủy khá hoàn chỉnh thuận tiện để phát triển kinh tế, văn hóa - xã
hội với các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long và là vùng kinh tế trọng điểm của
tỉnh.
Huyện Châu Thành nằm ở phía đông bắc của tỉnh Trà Vinh, nằm tiếp
giáp với thành phố Trà Vinh khoảng. Phía đông giáp huyện Mỏ Cày Nam và
huyện Thạnh Phú thuộc tỉnh Bến Tre, phía tây giáp huyện Tiểu Cần, phía nam
giáp huyện Cầu Ngang và huyện Trà Cú, phía bắc giáp thành phố Trà Vinh và
huyện Càng Long. Toàn huyện có 13 xã và 1 thị trấn; gồm các xã: Đa Lộc,
Thanh Mỹ, Mỹ Chánh, Lương Hòa, Lương Hoà A, Nguyệt Hóa, Song Lộc,
Hưng Mỹ, Phước Hảo, Hòa Thuận, Hòa Lợi, Long Hòa, Hòa Minh và thị trấn
Châu Thành. Huyện Châu Thành có diện tích 348 km², dân số năm 2019 là
144.040 người, mật độ dân số đạt 414 người/km² [79], đây cũng là huyện tập
trung nhiều người Khmer sinh sống với 46.942 người chiếm 33,6%, dân tộc
khác như Hoa, Chăm có 539 người.
39
Huyện Tiểu Cần nằm về phía tây của tỉnh Trà Vinh, thuộc tả ngạn sông
Hậu, có vị trí địa lý: Phía đông giáp huyện Châu Thành, phía tây giáp huyện Cầu
Kè, phía nam giáp huyện Trà Cú và sông Hậu, phía bắc giáp huyện Càng Long.
Huyện Tiểu Cần có diện tích 227,22 km², dân số năm 2019 là 107.846
người[79], mật độ dân số đạt 475 người/km². Trong đó, người Khmer khoảng
33191 hộ chiếm 30,24% dân số toàn huyện. Tiểu Cần là huyện có đông tộc
người Khmer sinh sống nhất của tỉnh Trà Vinh.
Về mặt địa hình, Trà Vinh là dãy đồng bằng ven biển có độ cao trung
bình từ 2 – 3m so với mặt nước biển. Dãy đồng bằng này có nhiều chỗ gợn lên
như các lớp sóng là do quá trình bồi tụ phù sa lâu đời. Cư dân địa phương đã
quen gọi những chỗ nhô lên như vậy là “giồng” hay “gò” và cũng từ đó hình
thành nên tên gọi của các vùng đất trong tỉnh này.
Về khí hậu, Trà Vinh là tỉnh có khí hậu nhiệt đới gió mùa cận xích đạo
nhưng ngoài ảnh hưởng của gió mùa cực đới. Trong năm, Trà Vinh có hai mùa,
mùa mưa từ tháng 4 đến tháng 10 âm lịch và mùa khô từ tháng 10 đến tháng 4
năm sau. Lượng mưa phân bố không ổn định, phân hóa mạnh theo thời gian và
không gian, giảm dần từ Bắc xuống Nam, cao nhất ở Càng Long, Trà Vinh;
thấp nhất ở Cầu Ngang và Duyên Hải. Chính điều kiện tự nhiên này cũng là
một trong những nhân tố tác động đến đời sống của các cư dân ở đây và ảnh
hưởng rõ rệt lên văn hóa của các tộc người cùng cộng cư ở vùng đất này. Địa
hình và khí hậu như trên có ảnh hưởng rất lớn đến phương thức sản xuất cũng
như sự phân bố dân cư và biểu hiện các giá trị văn hóa của các tộc người cùng
cộng cư trên địa bàn tỉnh Trà Vinh.
Địa danh hành chính và tình hình dân cư
Thời Nguyễn tỉnh Trà Vinh thuộc địa hạt Long Hồ, tên gọi Trà Vinh theo
tiếng Khmer là Préah Tropéang – tức Ao Phật [9, tr.3]. Dưới thời Pháp thuộc,
Trà Vinh thuộc phủ Lạc Hóa, tỉnh Vĩnh Long, sau đó là tỉnh Trà Vinh. Năm
1957 được đổi tên thành tỉnh Vĩnh Bình. Năm 1975, Trà Vinh và Vĩnh Long
được sáp nhập lại thành tỉnh Cửu Long. Năm 1992, được chia tách và thành lập
lại tỉnh Trà Vinh như ngày nay.
40
Trà Vinh có dân số khoảng 1.009.940 người (Theo Cục thống kê tỉnh Trà
Vinh năm 2020) Đây là vùng đất đa tộc người, là nơi tụ cư lâu đời của tộc người
Khmer, người Kinh, người Hoa và một số người Chăm. Trong đó, người Khmer
chiếm 1/3 dân số toàn tỉnh, người Hoa khoảng 15000 người, người Chăm
khoảng 100 người. Trà Vinh là nơi hội tụ nhiều tôn giáo khác nhau như: Phật
giáo, Công giáo, Tin Lành, Hồi giáo, đạo Cao Đài, đạo Hòa Hảo,..
Chính sách phát triển tộc người thiểu số
Theo báo cáo tổng kết chính sách dân tộc giai đoạn 2016 – 2020 và đề
xuất chính sách giai đoạn 2021 – 2025 trên địa bàn tỉnh Trà Vinh của Uỷ ban
nhân dân tỉnh Trà Vinh, giai đoạn 2016 – 2020 tỉnh Trà Vinh đã triển khai thực
hiện 2 chương trình (chương trình 30a và chương trình 135) mục tiêu quốc gia
giảm nghèo bền vững theo quyết định số 1722/QĐ-TT ngày 02/9/2016 của Thủ
tướng Chính phủ, tổng kinh phí 216.223,35 triệu đồng. Đáng chú ý là chương
trình này được chia ra nhiều dự án nhỏ hết hợp với nhiều chính sách của địa
phương để phát triển kinh tế, văn hoá đồng bào Khmer tại địa phương. Trong
đó nổi bật các nội dung như: tập trung phát triển kinh tế, nâng cao đời sống
nhân dân vùng có đông đồng bào Khmer sinh sống; giải quyết tốt các vấn đề
bức xúc trên lĩnh vực văn hoá, xã hội, nâng cao dân trí gắn với giữ gìn và phát
huy bản sắc văn hoá tốt đẹp của đồng bào Khmer, thực hiện tốt chính sách đại
đoàn kết toàn dân tộc, chính sách dân tộc, chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà
nước; giữ vững ổn định chính trị và trật tự xã hội trên địa bàn; củng cố và nâng
cao hiệu quả hoạt động của thể chế chính trị nhằm tập trung các nguồn lực phát
triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc Khmer trên địa bàn tỉnh Trà Vinh.
Trong nhóm các chính sách giáo dục đào tạo và bảo tồn phát triển văn
hoá, thông tin tuyên truyền, du lịch vùng dân tộc thiểu số, tỉnh Trà Vinh đã triển
khai dạy học bổ túc văn hoá chứ Khmer ở các điểm chùa trong các dịp hè, cấp
phát miễn phí báo chữ Khmer cho người có uy tín trong đồng bào Khmer trên
địa bàn tỉnh, phối hợp với các chùa Khmer đẩy mạnh việc dạy tiếng nói, chữ
viết của đồng bào dân tộc Khmer, chú trọng bồi dưỡng nâng cao trình độ cho
đội ngũ giáo viên là người Khmer giúp cho công tác tuyên truyền về văn hoá
41
Khmer tại các địa phương được nâng cao đặc biệt là bảo tồn giá trị văn hoá
ngôn ngữ tộc người trong cộng đồng người Khmer. Bên cạnh đó tỉnh đã tổ chức
tập huấn, bồi dưỡng kiến thức, thăm hỏi khi ốm đau, viếng khi người có uy tính
hoặc người thân người có uy tín khi qua đời, tổ chức đưa người có uy tín đi
tham quan để nâng cao vai trò của các vị Achar và người có uy tín tại địa
phương qua đó góp phần nâng cao tinh thần đoàn kết trong cộng đồng người
Khmer. Tổ chức mở lớp tập huấn chuyên đề bình đẳng giới, toạ đàm triển khai
mô hình ngăn ngừa và giảm thiểu tác hại của bạo lực trên cơ sở giới. Thông
qua đó góp phần nâng cao nhận thức về bình đẳng giới và hạn chế tình trạng
hôn nhân huyết thống, thúc đẩy nhận thức hôn nhân tự do.Trong các chính sách
hỗ trợ phát triển đời sống vùng đồng bào Khmer, tỉnh Trà vinh đã dành nguồn
vốn nhất định để hỗ trợ xây dựng Nhà hoả táng cho người Khmer. Thông qua
các chính sách đã thúc đẩy sự phát triển về mọi mặt đời sống của tộc người
Khmer trên địa bàn nghiên cứu.
1.3.2. Người Khmer ở Trà Vinh
- Quá trình du nhập và sự phân bố dân cư
Có rất nhiều nhận định cho rằng người Khmer là tộc người đến khai phá
sớm nhất ở vùng đất Trà Vinh. Tuy nhiên, chứng cứ khoa học thì chưa thật sự
rõ ràng. Theo kết quả nghiên cứu của tác giả Đặng Nghiêm Vạn [80], người
Khmer ở Trà Vinh là một bộ phận của người Khmer ở đồng bằng sông Cửu
Long, thuộc nhóm ngôn ngữ Môn – Khmer và có chung nguồn gốc với người
Khmer ở Campuchia. Tuy nhiên, do quá trình sống cộng cư với các tộc người
anh em tại vùng đồng bằng sông Cửu Long người Khmer ở Trà Vinh đã tạo nên
những nét văn hóa độc đáo mang dấu ấn bản địa tại vùng đất này, tạo những
nét khác biệt với văn hóa của người Khmer ở Campuchia.
Về kết quả thống kê dân số của người Khmer ở Trà Vinh qua các thời kỳ
như sau:
Năm 1928, người Khmer ở Trà Vinh có 77.842 người trong tổng số
235.986 người dân toàn tỉnh.
42
Năm 1937 người Khmer ở Trà Vinh có khoảng 82.000 người so với
350.000 người Khmer ở Nam bộ lúc bấy giờ.
Đến 1965, theo thống kê dân số của các tỉnh thì người Khmer ở Trà Vinh
là: 237.330 người (lúc bấy giờ Trà Vinh còn là tỉnh Vĩnh Bình) [79, tr. 30].
Năm 1999 người Khmer chiếm 30,08% tỉ lệ dân số toàn tỉnh Trà Vinh
[79, tr. 14].
Qua những thống kê trên cho thấy người Khmer là một trong những tộc
người đã đến định cư tại vùng đất Trà Vinh khá sớm đồng thời phát triển khá
nhanh về số lượng. Hiện nay Trà Vinh là tỉnh có người Khmer sinh sống đông
thứ 2 của khu vực (sau tỉnh Sóc Trăng). Đây cũng là một trong những tiền đề
quan trọng khi xem xét, đánh giá các đặc điểm văn hóa của tộc người này trên
địa bàn nghiên cứu.
- Đời sống kinh tế xã hội
Về mặt xã hội, phum, sróc là tổ chức xã hội truyền thống của người
Khmer ở Trà Vinh. Trước kia, người Khmer cư trú chủ yếu trên các giồng đất
cao, khoảng 5 – 10 nóc nhà thì họp lại thành một phum, từ 10 phum trở lên thì
họp lại thành sróc. Trong phum, sróc thường có mối quan hệ huyết thống giữa
các gia đình. Ngày nay địa giới hành chính đã thay đổi theo qui định của nhà
nước là: ấp – xã – huyện – tỉnh nhưng trong cộng đồng người Khmer vẫn dùng
đơn vị phum, sróc để chỉ ranh giới và định danh không gian cư trú. Theo địa bàn
nghiên cứu của chúng tôi thì việc duy trì địa giới hành chính truyền thống này bị
giảm dần theo thứ tự: Trà Cú – Châu Thành – Tp Trà Vinh. Hiện tượng này theo
chúng tôi là một sự phù hợp. Bởi lẽ sự phân bố người Khmer trên các địa bàn
cũng được giảm dần theo thứ tự như trên. Về tôn ti thứ bậc xưng hô, theo truyền
người Khmer thường không qui định theo vai vế, tôn ti của dòng tộc. Trong họ
hàng, thân tộc đời thứ nhất hễ ai thấy mặt trời trước (được sinh ra trước) thì mặc
nhiên là người lớn hơn người thấy mặt trời sau.
Về kinh tế, đại đa số người Khmer ở Trà Vinh là cư dân nông nghiệp nên
lúa và các loại cây lương thực ngắn ngày như: bắp, khoai, dưa, đậu là những
loại cây mang lại nguồn thu nhập chủ yếu. Ngoài ra họ còn chăn nuôi (trâu, bò,
43
heo, gà, vịt), nuôi trồng thủy sản (cá, tôm) và sản xuất thủ công nghiệp (đan lát,
dệt chiếu). Ngày nay nghề sản xuất gỗ thủ công mỹ nghệ là một trong những nghề
phát triển bậc nhất của người Khmer ở Trà Vinh. Ở Trà Vinh còn có một số ít
người Khmer cư trú ven biển làm nghề đánh bắt hải sản nhưng số lượng người
làm nghề này không nhiều nên cũng không đủ tạo nên sự khác biệt văn hoá.
Người Khmer ở Trà Vinh vừa cư trú tập trung trong phum, sróc trên các
giồng cát vừa cư trú xen kẽ với người Kinh và người Hoa trên từng địa bàn dân
cư. Giữa các tộc người đã hình thành những mối quan hệ gắn bó với nhau từ
lâu đời trong rất nhiều mặt. Tuy nhiên, mỗi tộc người vẫn tạo dựng cho mình
một bản sắc văn hóa độc đáo mang màu sắc đặc trưng nhất định.
Về giáo dục cho con em tộc người Khmer, trên địa bàn tỉnh có 1 trường
Phổ thông dân tộc nội trú. Trường này vẫn hoạt động theo nguyên tắc và chương
trình đào tạo của các trường Phổ thông khác nhưng được dạy bằng hình thức
song ngữ (tiếng Việt và tiếng Khmer). Ngoài ra con em người Khmer cũng
được tạo điều kiện để đến học ở các lớp học về tiếng Pali và văn hoa Khmer tại
các chùa. [7]
1.3.3. Những nét văn hóa tiêu biểu của người Khmer ở Trà Vinh
- Về ngôn ngữ và chữ viết
Ở phương diện ngôn ngữ, khi giao tiếp với các tộc người tại địa phương,
người Khmer vẫn sử dụng ngôn ngữ tiếng Việt phổ thông nhưng khi giao tiếp
trong cộng đồng tộc người thì người Khmer sử dụng ngôn ngữ riêng của mình.
Đó là loại ngôn ngữ “Thuộc nhóm ngôn ngữ Môn – Khmer, nằm trong ngữ hệ
Nam Á (Austroasiatic), có nguồn gốc bản địa, được bổ sung bởi các ngôn ngữ
du nhập”[26, tr. 36]. Về chữ viết, trong cuộc sống thường nhật người Khmer
vẫn sử dụng loại chữ viết quốc ngữ như người Kinh. Tuy nhiên, họ có chữ viết
riêng của tộc người gọi là “Satra” (là loại chữ viết bằng tiếng Khmer cổ hay
tiếng Pali theo trường phái Thomanadut và Mahainikai, xuất hiện từ thế kỷ 19).
Loại chữ này được viết khá công phu trên lá của cây có tên là cây Buông. Hiện
nay, loại chữ viết trên lá Buông chỉ còn tồn tại với tư cách là di sản văn hóa của
tộc người Khmer tại Trà Vinh. Trong hệ thống giáo dục văn hoá tộc người tại
44
các ngôi chùa, các vị sư vẫn dạy viết loại chữ viết riêng của người Khmer được
phát triển trên nền tảng tiếng Pali.
- Về âm nhạc và sân khấu
Có thể nói rằng đời sống âm nhạc của người Khmer khá đa dạng và phong
phú, mang tính quần chúng rộng rãi, nội dung thấm nhuần những giá trị nhân
văn và đời sống tâm linh tôn giáo. Theo nhiều nguồn ý kiến cho rằng, người
Khmer có khoảng 40 loại nhạc cụ khác nhau. Tuy nhiên, trên địa bàn tỉnh Trà
Vinh hiện nay dàn nhạc ngũ âm và dàn nhạc dây là 2 loại nhạc cụ được sử dụng
phổ biến nhất của Khmer. Dàn nhạc ngũ âm – là dàn nhạc được chế tạo từ 5
chất liệu khác nhau như: gỗ, đồng, sắt, da, hơi. Dàn nhạc này chỉ được sử dụng
trong các dịp lễ hội và được bảo quản tại chùa. Mỗi khi mang dàn nhạc ra biểu
diễn các nhạc công phải nhờ các vị sư sãi làm lễ cúng tổ rất phức tạp. Dàn nhạc
dây – được dùng để phục vụ cho các cuộc sinh hoạt vui chơi giải trí, hát xướng
mừng đón những niềm vui, những kết quả tốt đẹp của cuộc sống. Tuy nhiên,
khi nói về âm nhạc của người Khmer một cách khái quát như vậy vẫn chưa
phản ánh được toàn bộ sự độc đáo và đặc trưng của âm nhạc trong văn hóa của
họ bởi lẽ bên trong mỗi nhạc cụ còn có thanh sắc, kỹ thuật cũng như bài bản và
sự phối hợp của các loại nhạc cụ với nhau. Nhưng trong một nội dung khái quát
về văn hóa Khmer tại Trà Vinh chúng tôi xin giản lược tối thiểu nhất những nội
dung cơ bản của vấn đề.
Về sân khấu, người Khmer ở Trà Vinh có hai loại hình sân khấu rất đặc
sắc là sân khấu RôBăm và hát YuKê. RôBăm là một loại vũ kịch, chủ yếu dùng
ngôn ngữ múa để biểu đạt nội dung cần phản ánh. Tùy theo nội dung cần diễn
đạt mà sân khấu RôBăm qui định rất nhiều điệu múa như: múa chằn, múa đồng
tiền, múa sinh hoạt, múa kiếm, múa đèn, múa mô phỏng chim, múa khỉ,... Trong
mỗi điệu múa lại có những qui định khắc khe về cách thức và đường nét múa.
Ngoài ra còn có những qui định về trang phục, mặt nạ, mũ mảo của các nhân
vật tham gia biểu diễn, đề tài chủ yếu là các tích truyện từ những câu truyện cổ
hoặc những trích đoạn ngắn trong những câu chuyện Phật giáo. YuKê là loại
hình sân khấu ra đời sau RôBăm. Đây là loại hình sân khấu được kết hợp khá
45
đồng đều giữ ca và múa nhưng tập trung chủ yếu vào phần lời ca và biểu cảm
của nghệ sĩ. Vì lấy ca hát là chính nên các làn điệu sử dụng trong YuKê cũng
được qui định rất rõ ràng, loại hình này khá giống với cải lương của người Kinh
ở Nam bộ bởi những vở diễn được xây dựng với những lớp tuồng và phân đoạn
khác nhau, nội dung phản ánh khá đa dạng và phong phú từ các tuồng tích cho
đến những nội dung phản ánh xã hội và các cuộc chiến tranh,…Điều đặc biệt
nhất của loại hình này là các diễn viên chỉ là nam mà không có nữ.
- Về kiến trúc và nghệ thuật tạo hình
Khi nói đến kiến trúc của người Khmer là người ta nghĩ ngay đến các
ngôi chùa. Chùa Khmer ở Trà Vình thường được xây dựng ở các trung tâm của
phum, sróc ngày xưa, đó là những gò đất cao không bị ngập lụt, xung quanh
được bao bọc bằng những cây cổ thụ như cây dầu, cây sao. Điểm cao nhất của
nóc chùa phải vượt lên trên chiều cao của các cây cổ thụ để nhắc nhở những
người trong cộng đồng dù có đi xa cũng nhìn thấy phum, sróc của mình mà
quay trở về. Ấn tượng nhất trong quần thể kiến trúc chùa là chính điện với đặc
trưng nhiều tầng mái với màu ngói vàng rực, nơi tiếp giáp các góc mái luôn
cong vút lên trời với hình ngọn lửa hoặc đuôi của rắn thần. Quanh các bờ tường,
đầu nối cột kèo là tượng các vị thần, chim thần, tiên nữ, chằn,…với ý nghĩa bảo
vệ cho sự bình yên nơi cửa Phật. Bên trong chánh điện chỉ thờ duy nhất Phật
Thích Ca với các tư thế khác nhau. Các khoảng không của các bờ tường trong
chánh điện luôn được tận dụng để vẽ các bức tranh thể hiện cuộc đời của Đức
Phật Thích Ca. Lối trang trí này như một lời răn dạy cho các Phật tử khi đến
chùa phải luôn luôn hiểu và ghi nhớ về nguồn gốc của tôn giáo mà cộng đồng
đang tôn kính. Trong khuôn viên chùa còn có các công trình được xây dựng rất
công phu khác như: Sala (nhà ăn của cá vị sư sãi), tháp cốt; các ngôi tháp này
có kiến trức khá đặc biệt, có khích thước khác nhau được xây dựng trong khuôn
viên của chùa mà thường là xung quanh chánh điện, kiến trúc của tháp thường
có 3 phần: Chân tháp rỗng có hình vuông, có một cửa để đưa tro cốt của người
chết vào bên trong, thân tháp có nhiều tầng, được thiết kế nhỏ dần từ thấp lên
cao, trên cùng là tượng đầu thần bốn mặt (Pru muk buôl) đội chiếc mảo có chớp
46
nhọn (Đầu thần bốn mặt với ý nghĩa nhắc nhỡ sự thắng thế của Phật giáo so với
Bà La Môn giáo trong lịch sử đồng thời cũng là lời nhắc nhỡ con người sống
“từ, bi, hỷ, xả”). Từ bờ rào đến cổng chùa và các công trình bên trong là một
quần thể kiến trúc thẩm mỹ hoàn hảo chứa đựng nhiều triết lý nhân sinh sâu xa
thông qua bàn tay nghệ thuật điêu luyện của các nghệ nhân Khmer. Đặt biệt ấn
tượng nhất trong lối kiến trúc tạo hình của người Khmer là mô típ họa tiết hoa
văn cách điệu mà chùa Khmer nào cũng có: Hoa văn dây leo Pha – nhi – vo,
Pha – nhi – pha – lơng, hoa văn có dạng như ngọn lửa đang uốn lượn, hoa Ddok
– chăn – hiên thanh khiết với 4 cánh thể hiện cho bốn phương trời quanh ngọn
núi Mêru, hoa Tuông – Hok hoa sen, tượng đầu rồng, rắn thần Naga…Tất cả
hòa quyện vào nhau thể hiện tinh thần chất phát, đôn hậu của người Khmer
trong cuộc sống thuần nông, thuần khiết và nghiêm trang của chốn Phật môn,
sự tôn kính đức Phật thông qua sự công phu và tỉ mỉ từng chi tiết.
1.3.4. Tín ngưỡng, tôn giáo và thực hành nghi lễ của người Khmer ở
Trà Vinh
- Các hình thức tín ngưỡng tiêu biểu
Là cư dân có nguồn gốc bản địa nên ở người Khmer cũng có các tín
ngưỡng phổ biến như các tộc người khác của cư dân nông nghiệp Đông Nam Á.
Tín ngưỡng nông nghiệp: Người Khmer sống chủ yếu bằng nghề nông
nghiệp, chịu ảnh hưởng từ các yếu tố thiên nhiên nên việc cầu khấn vào trời
đất, mong cho “mưa thuận gió hòa” là rất quan trọng trong gieo trồng.
Để cầu cho mùa mưa đến, người Khmer thường tổ chức lễ cầu an (Bon
Kâmsan) cho phum, sróc. Lễ này diễn ra vào tháng 4 âm lịch, thời gian tổ chức
tuỳ vào các địa phương do mùa mưa đến sớm hoặc muộn. Trong lễ này, người
Khmer thường cúng 2 vị thần: Thần ruộng (Neakta srè) và Thần Mục súc (Arăk
veal) để xin nước mưa “trời ban” làm lúa và xin xua đuổi chuột bọ, sâu rầy gây
hại mùa màng. Lễ vật gồm có: đầu heo, gà, vịt, rượu,…Họ tụ họp lại nơi làm lễ
cúng theo hướng dẫn của một vị Achar (người thông hiểu các nghi lễ dân gian
cũng như các nghi lễ tôn giáo trong cộng đồng người Khmer). Nếu sau khi tổ chức
lễ mà trời chưa mưa thì tháng sau họ lại tiếp tục tổ chức với qui mô lớn hơn. Họ
47
sẽ mời khoảng 10 vị sư đến đọc kinh và hành lễ, tại nơi hành lễ họ đào một cái ao
sâu hoặc chậu hay thau khô thả cá, cua, ếch,,, vào với ý nghĩa “sự khô hạn cùng
cực của muôn loài” mong trời “động lòng” ban nước mưa xuống để cứu giúp.
Đến 15/10 âm lịch người Khmer tổ chức lễ “Óoc Ombóc” để tạ ơn thần
Mặt Trăng, tạ ơn Trời – Đất – Nước đã giúp con người có được mưa thuận gió
hòa mùa màng tốt tươi. Lễ này được tổ chức tại khuôn viên chùa hoặc một địa
điểm nào đó mà mọi người trong phum, sróc lựa chọn. Bàn lễ gồm các vật phẩm
trong nông nghiệp như: Cốm dẹp, lúa, các loại trái cây, mía, khoai,…Khi trăng
lên họ mời một vị sư hoặc ông Achả đến trước bàn lễ đọc kinh để tạ ơn thần
Mặt Trăng, cầu mưa thuận gió hòa trong phum, sróc. Cuối cùng là lễ thả lồng
đèn gió để cầu nguyện bình an, hạnh phúc cho cá nhân, gia đình, dòng họ. Phần
hội là cuộc tranh tài đua nghe ngo nhằm thể hiện tinh thần đoàn kết và sự mạnh
khỏe dẻo dai của người làm nông nghiệp.
Khi đến mùa khô, công việc đồng áng đã hoàn thành, người Khmer tổ
chức lễ Chôl Chnăm Thmây hay còn gọi là lễ chịu tuổi - thường được tổ chức
trong ba ngày 13, 14, 15 tháng 4 dương lịch. Lễ này được tổ chức với nhiều
hình thức nghi lễ gắn với tôn giáo. Đây cũng là lễ hội để cầu một năm mới an
yên sung, cầu xin mùa khô qua mau và mùa mưa lại đến cho một vụ mùa mới.
Tín ngưỡng thờ thần: Trong niềm tin vào vị thần bảo hộ, người Khmer
ở Trà Vinh thờ cúng Neak Tà hay Nak Tà (người Kinh và người Hoa cộng cư
thường gọi là Ông Tà). Tùy vào phạm vi cai quản mà Neak Tà có những chức
năng khác nhau: trong phạm vị gia đình, dòng họ có thể xem Neak Tà tương
đương với vị Thổ Công của người Kinh và người Hoa vì ông trông coi đất đai,
nhà cửa, xua đổi những cái xấu đón nhận những cái tốt cho gia đình; ở phạm vi
phum, sróc Neak Tà xem như thần Thành Hoàng làng vì ông là vị thần bảo hộ
cho phum, sróc. Miếu Neak Tà không những là nơi thực hành tín ngưỡng mà
còn là nơi để cố kết cộng đồng. Ngoài ra còn có nhiều dạng Neak Tà khác như:
Neak Tà Srê (Ông Tà ruộng), Naek Tà Xam rông (Ông Tà cây Trôm), Neak Tà
Dom Chey (Ông Tà cây Đa), Neak Tà bến đò. Cứ theo mô típ đó mà mỗi khu
48
vực, mỗi đối tượng có giá trị ảnh hưởng đến đời sống của cộng đồng đều có
một Neak Tà cai quản.
Tín ngưỡng thờ Tổ nghề: Cúng Tổ nghề được người Khmer ở Trà Vinh
tổ chức vào những ngày cuối của tháng 3 âm lịch. Người Khmer quan niệm rằng
nghề nào cũng có tổ nghề. Họ mang các lễ vật như: trái cây, bánh, trà, đến chùa
(đối với tổ nghề sân khấu Rôbăm, YuKê) hoặc chọn một gia đình nào đó nhiều
năm trong nghề (đối với nghề thợ mộc, thợ nề,..) tổ chức cúng tổ. Đây là dịp để
chủ và thợ trong nghề được nghỉ ngơi, vui vẻ với nhau, tổng kết lại một năm hoạt
động và cầu mong một năm mới cùng hợp tác làm ăn thành công và phát đạt.
Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên: Trong các loại hình tín ngưỡng của người
Khmer ở Trà Vinh không thể không nhắc đến tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên mà
tiêu biểu nhất là lễ Đôlta (Lễ cúng ông bà). Lễ này thường được đồng bào Khmer
tổ chức trong 3 ngày từ ngày 29/8 đến ngày mồng 1/9 âm lịch. Về tín ngưỡng
thờ cúng tổ tiên, chúng tôi sẽ tiếp tục làm rõ thêm ở các chương tiếp theo.
- Về tôn giáo du nhập
Phật giáo Nam tông là tôn giáo chính hiện nay mà tộc người Khmer đang
tôn kính. Nhiều tư liệu khảo cổ - lịch sử cho thấy ngay từ đầu Công nguyên,
văn hóa Ấn Độ đã xâm nhập vào vùng đồng bằng sông Cửu Long, đến thế kỷ
thứ XII Phật giáo Tiểu thừa du nhập từ trước đã nhanh chóng trở thành tôn giáo
chủ đạo của cộng đồng tộc người Khmer. Sự tổng hòa giữa văn hóa Ấn Độ với
văn hóa Khmer bản địa diễn ra một cách tự nguyện và sâu sắc đã nâng văn hóa
Khmer lên một bước phát triển mới rực rỡ hơn, phong phú hơn nhưng lại đậm
tính cách Phật giáo.
Trong những truyền thuyết khởi nguyên, có thể nói cuộc hôn phối giữa
vương công Ấn Độ Preah Thông với nàng công chúa rắn Khmer Neang Neak
đã sản sinh ra nền văn hóa Khmer hiện nay. Văn hóa Ấn Độ thông qua Bà La
Môn giáo và Phật giáo đã đến với cộng đồng Khmer ở đồng bằng sông Cửu
Long. Thay vì chiếm lĩnh thì nó đã bản địa hóa, Khmer hóa thông qua một sự
sàng lọc là tính cách của người Khmer bản địa. Theo đó, những yếu tố văn hóa
nào thích nghi với đặc điểm đồng bằng và đặc trưng tộc người Khmer thì tồn
49
tại và phát triển, ngược lại, thì sẽ tự giải thể hoặc chuyển hóa sang một dạng
văn hóa khác. Đối với người Khmer, các vị thần Ấn Độ giáo như thần Brahma
được gọi là Peaah Prum, Indra được gọi là Preah In, Visnu được gọi là Praeh
Neareay thường được dân gian hóa thành thần 4 mặt (1 tượng chỉ có phần đầu
nhưng được ghép từ 4 mặt của thần visnu. Tượng này giữ vai trò bảo vệ cho
khuôn viên chùa). Còn các nữ thần, trong đó có Mê đeng hay Yeay Khmao thì
giữ vai trò quan trọng trong đời sống tinh thần của đồng bào Khmer. Thế giới
quan phức tạp và hệ đẳng cấp chặt chẽ của Bà La Môn giáo rõ ràng xa dần với
tập quán và tư tưởng của người Khmer hơn ý thức hệ Phật giáo. Do đó, hệ tư
tưởng Phật giáo đã thay thế Bàlamôn giáo và trở thành một tôn giáo chủ đạo của
người Khmer ở đồng bằng sông Cửu Long nói chung và ở Trà Vinh nói riêng.
Phật giáo Nam tông đã chi phối thế giới quan, nhân sinh quan, tập quán,
lễ nghi và lối sống tộc người Khmer một cách sâu sắc. Trong mối quan hệ cộng
đồng, người Khmer lấy những lời dạy của đức Phật (Phật Thích Ca Mâu Ni)
làm kim chỉ nam để ứng xử với nhau. Độc đáo trong cộng đồng người Khmer
là mọi niềm tin đều đặt vào các vị sư tại chùa. Những mâu thuẫn trong cộng
đồng đều nhờ các vị sư phân xử, sự phát triển của cộng đồng đều trông chờ vào
những chỉ bảo của các vị sư.
Trong bối cảnh đó, tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Khmer nói
chung và người Khmer ở Trà Vinh nói riêng cũng có mối liên hệ đậm nét với
Phật giáo Nam tông cũng như chịu sự tác động của các yếu tố văn hóa của các
tộc người cộng cư. Bên cạnh đó, sự thay đổi đời sống của người Khmer cũng
đã tạo thêm nhiều yếu tố mới trong tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của họ.
1.3.5. Thế giới quan của người Khmer thông qua tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên
Trong nội dung này, chúng tôi không đi tìm quan niệm của người Khmer
về quá trình hình thành của vũ trụ hay các yếu tố hợp thành vũ trụ mà thông
qua những biểu hiện của tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên chúng tôi quan tâm đến
quan niệm của người Khmer về không gian vũ trụ mà con người đang tồn tại.
Người Khmer quan niệm “chết không phải là hết” – khi con người chết
đi sẽ tồn tại ở một dạng khác mà mắt thường không thể nhìn thấy được đó là
50
linh hồn. Linh hồn chịu sự cai quản của đức Phật và các ngạ quỉ. Thông qua
truyền thuyết, các nghi thức thờ cúng tổ tiên của người người Khmer ở Trà
Vinh chúng tôi nhận thấy rằng người Khmer quan niệm vũ trụ tồn tại gồm 3
tầng (tương ứng với 3 cõi): Trời, Đất và Địa ngục. Trong đó, đức Phật ở tầng
Trời, các vị thần và con người cùng tồn tại ở tầng Đất, linh hồn chưa được siêu
thoát tồn tại ở tầng Địa ngục.
Tầng Trời: Là nơi đức Phật ngự trị, con người chỉ nhìn thấy cõi này bằng
mắt thường là các khối mây được dân gian khái niệm là “trời”. Người Khmer
quan niệm rằng khi con người qua đời sẽ tìm đến với đức Phật để đảnh lễ. Tuy
nhiên, nơi ngự trị của đức Phật trong cõi trời lại rất khó xác định. Các vị sư sãi
trong chùa đều cho rằng “Đức Phật ngự trị ở khắp mọi nơi, nhìn thấy được tất
cả những việc làm thiện, ác của chúng sanh”. Sư T.S.N cho rằng “Chúng ta
đừng hỏi đức Phật ở đâu, bởi vì ông đã đắc đạo nên sẽ không ai nhìn thấy mà
quan trọng nhất là con người có ghi nhớ và thực hiện lời dạy của ngài hay
không. Con người nghĩ đức Phật ở đâu thì ngài ở đó nên người ta thường nói
Phật ở trong tâm là vậy”. Quan niệm này rất khó để chúng tôi xác định nơi tồn
tại của đức Phật. Mặt khác, theo các vị Achar (người có hiểu biết về các lễ nghi
tôn giáo và trong cuộc sống dân gian) trong tang ma của người Khmer có khá
nhiều chi tiết để nhằm nhắc nhở linh hồn tìm đến nơi đức Phật ngự trị để đảnh
lễ. Chẳng hạn, trong các lễ vật trên xác người chết không thể thiếu 2 lá trầu
ghim và 3 cây nhang, xoay ngọn về hướng đầu người chết. Đây là lễ vật để linh
hồn người chết mang đến làm lễ cúng “chola môni chêt đây” là ngọn bảo tháp
đựng hài cốt Đức Phật ở trên trời. Trên đường di quan, con cháu phải liên tục
vẩy bông gòn phía trước đường đi nhằm nhắc linh hồn con đường đi tìm đến
Đức Phật luôn có nhiều mây khói màu trắng vì nơi Đức Phật ngự trị là trên trời
cao. Nếu dựa vào ý nghĩa của các lễ thức này thì nơi ngự trị của đức Phật là
trên trời đồng thời linh hồn người chết cũng có thể đến được tầng này.
Tầng Đất: Là nơi tồn tại của con người và muôn loài, là không gian mà
con người đang sống có các vật chất đảm bảo cho sự sống. Trong không gian
này con người có thể nhìn thấy được nhau về mặt vật chất, tồn tại và chung
51
sống cùng nhau nhưng không thấy linh hồn. Mặt khác, đây cũng là không gian
tồn tại của các vị thần nhưng con người không thấy được họ. Các vị thần luôn
ở xung quanh con người nhưng ở dạng hư không để quản lí con người. Chẳng
hạn: Neak – Ta là vị thần bảo hộ rất quan trọng trong đời sống người Khmer.
Tùy thuộc vào phạm vi cai quản mà người ta có các vi Nek – Ta như; Nek – Ta
phum, Nek – Ta Sroc, Nek – Ta sông, Nek – Ta chùa. Vị thần này được hình
dung là một cụ già râu tóc bạc phơ với vai trò bảo vệ bình yên cho phạm vi mà
ông cai quản. Neak – Ta được xem như vị thần bảo hộ nên rất gần gũi với cuộc
sống của người Khmer (nhiều ngôi miếu thờ Neak – Ta ở Thành phố Trà Vinh
là nơi để các trẻ em chơi bắn bi hoặc các trò chơi dân gian, cũng có nhiều ngôi
miếu trên địa bàn huyện Trà Cú trở thành nơi để nông cụ của người nông dân
hoặc nơi để xe khi họ đi thăm đồng). Nếu trong phum, sróc xảy ra dịch bệnh,
hạn hán, mất mùa thì người ta đến miếu Neak – Ta để làm lễ cầu ông giúp đỡ.
Nơi thờ Neak – Ta là các ngôi miếu dưới gốc cây cổ thụ trong phum, sróc, ngã
ba sông hoặc trong chùa. Biểu tượng thờ của vị thần này là những hòn đá cội
nhẵn bóng đặt sau một bát hương. Theo Acha D.T ở ấp Cà Rôm xã Đôn Châu
“Năm nào cũng phải tổ chức cúng Nek – Ta để cầu cho mưa thuận gió hòa để
bà con làm ăn, bỏ đi những xui xẻo trong năm. Bà con ở đây có chuyện gì cũng
vái ông Tà (Neak – Ta) để ổng phù hộ, mất đồ vái ổng là ổng kiếm được cho
liền”. Ở cấp độ gia đình, người Khmer thờ Têvôđa. Chúng ta có thể dễ dàng bắt
gặp hình thức thờ vị thần này trước sân nhà của mỗi gia đình với một ngôi miếu
nhỏ được trang hoàng lộng lẫy bằng nhiều chi tiết tinh xảo và đặt cách mặt đất
khoảng một đến hai mét. Họ tin rằng “Têvôđa” là vị thần được trời đưa xuống
để chăm lo cho dân chúng trong một năm, hết năm lại đưa vị khác xuống thay
thế vào dịp lễ Chôl Chnăm Thmây. Miếu thờ vị này chỉ đặt một bát hương và
mỗi ngày gia đình đến thắp hương một lần lúc chiều tối. Vào các dịp hiếu hỉ
gia đình dọn một mâm cơm (không qui định chay hay mặn), hoặc một đĩa trái
cây để cúng.
Như vậy, con người sống ở tầng Đất, nơi có các vị thần có nguồn gốc bản
địa hoặc vị thần là sản phẩm của sự giao lưu văn hóa, họ vừa chịu sự cai quản
52
của đức Phật (từ tầng Trời) và sự tác động của các vị thần trong cõi hư vô của
tầng Đất – tức cùng chịu sự chi phối của đạo Phật và tín ngưỡng thờ thần – đó là
cơ sở của vấn đề hỗn dung văn hóa trong tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của họ.
Tầng Địa ngục: Là nơi tồn tại của linh hồn chưa được siêu thoát. Theo
quan niệm của người Khmer, khi linh hồn đến đảnh lễ đức Phật nếu chưa đủ
“phước” hoặc lúc sinh thời làm nhiều điều ác sẽ bị đày xuống địa ngục. Linh hồn
sẽ bị cai quản bởi các ngạ quỉ. Trong cõi này, những linh hồn lúc sinh thời làm
nhiều điều ác sẽ bị đưa đi “đầu thai” thành súc vật, những linh hồn chưa đủ
“phước” thì vẫn phải ở lại chờ nhận “phước báo” từ con cháu để được đầu thai.
Cõi này được người Khmer quan niệm là “nơi tăm tối nhất trong lòng đất”. Trong
tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Khmer vấn đề tạo phước cho linh hồn khi
linh hồn nhận đủ phước được đức Phật cho phép sẽ được đầu thai về với cõi Đất.
Qua những phân tích trên, chúng tôi nhận thấy quan niệm về không gian
vũ trụ của người Khmer ở Trà Vinh có hai đặc điểm đó là: Con người và linh
hồn tồn tại trong một vũ trụ nhưng ở hai không gian khác nhau. Vũ trụ chứa cả
linh hồn và thể xác của con người nhưng khi những thể xác còn hiện hữu thì
chịu sự tác động của các vị thần ở tầng Đất, và người đã khuất chỉ có đức Phật
- cư ngụ trên trời nhưng hiển hiện khắp nơi nhìn thấy và chi phối được họ. Như
vậy, các vị thần chi phối con người khi thể xác họ hiện hữu ở tầng Đất, còn đức
Phật chi phối họ ở cả ba tầng của vũ trụ. Qua đây cho thấy vũ trụ quan của
người Khmer thể hiện sự pha trộn giữa thế quan Phật giáo với thế giới quan
bản địa của người Khmer thể hiện qua quan niệm về tầng Đất nơi cư trú của
con người cùng với quan niệm vạn vật hữu linh ít nhiều đã có sự giao lưu với
tín ngưỡng thờ thần (thần đất, thần sông, thần trời,…) của các cư dân thuộc
nhóm Kinh, Hoa cùng địa bàn cư trú.
Tiểu kết chương 1
Thông qua những phân tích trên, chúng tôi đúc kết một số vấn đề như sau:
Thứ nhất, tình hình nghiên cứu tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên không phải
là một hướng nghiên cứu mới. Tuy nhiên, nghiên cứu tín ngưỡng thờ cúng tổ
tiên của một tộc người đang được nhiều học giả quan tâm. Cụ thể là nghiên cứu
53
tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên trên một địa bàn nhất định. Theo xu hướng đó, tín
ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Khmer cũng đã được nghiên cứu. Tuy nhiên,
còn một số vấn đề để chúng tôi qua tâm về tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của tộc
người Khmer trên địa bàn tỉnh Trà Vinh là: hệ thống lại tín ngưỡng thờ cúng tổ
tiên, sự hỗn dung văn hoá trong tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên với tôn giáo và các
yếu tố văn hóa dân gian.
Thứ hai, về mặt giới thuyết khái niệm để đi vào xác định đối tượng
nghiên cứu của luận án chúng tôi đồng tình với các quan điểm đi trước là không
nên phân biệt một cách rạch ròi giữa tín ngưỡng với tôn giáo. Song song đó vấn
đề văn hóa tín ngưỡng cũng cần được quan tâm khi nghiên cứu. Bên cạnh đó,
việc xác định tiêu chí để khái niệm đối tượng trở thành “tổ tiên” là rất quan
trọng khi nghiên cứu tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên. Trong quan niệm về tổ tiên
còn phụ thuộc vào nhiều mối quan hệ khác nhau của chủ thể văn hóa cũng như
những qui định của cộng đồng. Do vậy, trong luận án này chúng tôi chỉ quan
tâm đến đối tượng thờ cúng dựa trên mối quan hệ huyết thống. Cùng với việc
giới thuyết khái niệm là việc xác định cơ sở lý luận. Cụ thể vấn đề mà luận án
quan tâm là biểu hiện hỗn dung của các yếu tố văn hóa, tôn giáo của tộc người
thông qua tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Khmer. Do vậy chúng tôi chọn
cơ sở lý luận là “vấn đề giao lưu tiếp biến” để xem xét những biểu hiện của sự
hỗn dung văn hoá giữa tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên với Phật giáo Nam tông và
các yếu tố văn hóa bản địa tại Trà Vinh trong xã hội đương đại.
Thứ ba, Trà Vinh là một địa bàn được đánh giá là khá cổ xưa trong lịch sử
hình thành và phát triển của người Khmer tại vùng đất Nam bộ. Nơi đây còn lưu
giữ khá nhiều những hiện vật khảo cổ cũng như những giá trị văn hóa tinh thần
độc đáo của tộc người Khmer. Là địa phương có số lượng người Khmer cư trú
nhiều nên biểu hiện về đời sống văn hóa của họ diễn ra khá sôi nổi. Đồng thời Trà
Vinh cũng là một trong các tỉnh đang trên đà phát triển về kinh tế, xã hội nên đã
và đang diễn ra quá trình giao lưu, tiếp biến văn hóa rất đa dạng. Đặc biệt là sự
phân bố dân cư của người Khmer ở Trà Vinh đã tạo ra được nét khác biệt để có
thể đánh giá về các giá trị văn hóa tộc người một cách khách quan.
54
Thứ tư, ngoài những nét đặc trưng về sinh học thì tôn giáo là yếu tố tạo
nên những nét văn hóa độc đáo trong đời sống văn hóa của người Khmer ở Trà
Vinh mà cụ thể là Phật giáo Nam tông. Đều đặc biệt của tôn giáo này là không
phải khuôn mẫu từ nơi khởi nguyên của nó (Ấn Độ) mà đã được vun đắp và xây
dựng trong lịch sử hình thành và phát triển của người Khmer Nam bộ. Phật giáo
Nam tông đã được tộc người Khmer bản địa hóa theo cách của họ nên đã tạo
thành một bản sắc riêng và có hẳn cho mình một tên gọi là Phật giáo Nam tông
Khmer Nam bộ. Từ đó cho thấy sự tương tác giữa Phật giáo Nam tông với đời
sống của người Khmer ở Trà Vinh là một vấn đề cần quan tâm trong đó có tín
ngưỡng thờ cúng tổ tiên.
55
Chương 2
ĐẶC TRƯNG TÍN NGƯỠNG THỜ CÚNG TỔ TIÊN
CỦA NGƯỜI KHMER Ở TRÀ VINH
2.1. Đối tượng thờ cúng và sự phối thờ
2.1.1. Đối tượng thờ cúng
Cũng như các tộc người khác, người Khmer ở Trà Vinh quan niệm tổ
tiên là những người có quan hệ huyết thống vì họ có công sinh thành và nuôi
dưỡng tạo nên các thế hệ trong gia đình, dòng họ. Tổ tiên thường là ông bà, cha
mẹ của người thờ cúng. Tuy nhiên, do truyền thống không quan trọng thứ bậc
trong mối quan hệ dòng tộc nên họ cũng không cần phải xác định vấn đề chi họ
hay thứ bậc trong thờ cúng. Ở một khía cạnh khác, chúng tôi nhận thấy người
Khmer xem tổ tiên là tất cả các linh hồn có mối quan hệ huyết thống trong gia
đình bởi vì họ không phân biệt nguyên nhân và thời điểm người chết. Họ qui
chung những linh hồn có quan hệ huyết thống với người thờ cúng thì được nhận
“phước” của người thực hiện. Gia đình của ông D.C.L ở ấp Tà Rôm xã Đôn
Châu huyện Trà Cú trên bàn thờ tổ tiên có 8 di ảnh khác nhau. Đó là cha mẹ, 2
đứa con, 3 đứa cháu và vợ của ông. Theo ông thì “Ông bà tổ tiên được thờ cúng
là tất cả những người trong dòng họ từ trước đến giờ, hể ai còn chưa siêu thoát
thì nhận được phước của con cháu chứ không chỉ những người có ảnh”. Nếu
gia đình có người mất, sau khi làm tang lễ linh hồn được thờ ở bàn thờ riêng
một năm thì được thờ chung trên bàn thờ tổ tiên và xem là tổ tiên.
Tuy ông bà tổ tiên được tổ chức cúng theo hình thức cộng gộp, nhưng
người Khmer cho rằng việc xác định mối quan hệ huyết thống với người đã
khuất cũng quan trọng. Bởi lẽ theo quan niệm của họ linh hồn chỉ nhận được
những phước đức do người thân của mình tạo ra, nếu không có người thân tạo
phước, chăm lo thì linh hồn người chết sẽ không có nơi nương tựa, sẽ đói rét
lang thang không được siêu thoát. Khi linh hồn người chết phải rơi vào hoàn
cảnh như vậy thì đó là một tội nghiệp bất hiếu rất nặng đối với con cháu của họ.
56
Ngoài ra, người Khmer ở Trà Vinh còn có hiện tượng phối thờ. Đó là
những gia đình có lập bàn thờ tổ tiên thì đối tượng được thờ cúng là những
người có quan hệ huyết thống như: ông bà, cha mẹ, vợ chồng, cô, dì, cậu, chú,
thậm chí có cả con cháu. Qua khảo sát chúng tôi nhận thấy người Khmer không
phân biệt họ nội hay họ ngoại, nghĩa là trong một gia đình có thể thờ cả cha mẹ
ruột của chồng và của vợ trên cùng một bàn thờ. Hiện tượng này được người
Khmer giải thích: “Bên nội hay bên ngoại cũng là ông bà của nhau, ông bà đều
được hưởng phước của con cháu và được sự che chỡ của đức Phật” (dẫn theo
lời nhận định của Achar S.B ở xã Ngọc Biên huyện Trà Cú). Từ đó cho thấy,
người Khmer quan niệm khi con người qua đời thì linh hồn về với một mái nhà
chung đó là sự che chở của đức Phật. Bên cạnh đó, cũng không phân biệt mối
quan hệ huyết thống họ hàng thuộc người chồng hay người vợ trong gia đình.
Nghĩa là nếu thân nhân của thành viên trong gia đình thì sẽ được thờ cúng. Tại
huyện Trà Cú nhiều gia đình có ba thế hệ đang cùng sinh sống, ngoài thờ cha
mẹ hoặc ông bà họ còn thờ cả những người thân khác như: dì của vợ hay em
của chồng hoặc chú của chồng,…. Những cặp vợ chồng mới cưới sau khi được
ra sống ở một ngôi nhà mới muốn thờ ai trong gia đình mà ba mẹ ruột mình
đang thờ thì xin thỉnh về nhà và lập bàn thờ. Việc thỉnh linh hồn người thân về
nhà mới để thờ cũng không yêu cầu chủ gia phải coi ngày, giờ hay phải làm
nghi lễ trang trọng. Thường là sau lễ Đôlta người gia chủ (thường là người
chồng) xin được nhận di ảnh hoặc bát hương hoặc chân hương hay một di vật
đại diện của người thân trên bàn thờ tổ tiên của gia đình đang thờ mang về đặt
lên bàn thờ của gia đình, chuẩn bị một mâm cơm bày cúng ông bà là có thể thực
hiện các nghi thức thờ cúng như các gia đình khác. Cũng có trường hợp không
cần phải chờ đến ngày Đôlta mà sau khi hoàn thành nhà mới, người vợ hoặc
chồng đến nhà cha mẹ ruột hoặc nhà người thân trong dòng họ xin thỉnh di ảnh
hoặc bát hương hoặc một vật tượng trưng nào đó đại diện cho người mất mang
về nhà lập bàn thờ, đến dịp cúng ông bà thì tổ chức với qui mô lớn để mời họ
hàng thân thuộc đến dự. Như vậy, khi thờ cúng tổ tiên, người Khmer không
57
phân biệt mối quan hệ thuộc bên nội hay bên ngoại, cũng không phân biệt chi
họ trong quá trình thờ cúng. Không chỉ vậy, khi thờ cúng tổ tiên họ cũng không
phân biệt tôn ti, vai vế của những người đã khuất. Hiện tượng này có ở cả ba
địa bàn nghiên cứu. Họ cho rằng người thân qua đời được qui về “tổ tiên” và
linh hồn cũng bình đẳng như nhau nơi “đất Phật”.
Như vậy đối với người Khmer đối tượng được xem là “tổ tiên” là những
người có mối quan hệ huyết thống đối với những người cùng sinh sống trong
gia đình, họ không phân biệt vai vế cũng như chi họ của các linh hồn. Đã là các
linh hồn có quan hệ huyết thống với người thực hành nghi lễ thờ cúng thì được
nhận “phước” như nhau.
2.1.2. Sự phối thờ
Ngoài thờ tổ tiên, trong gia đình người Khmer ở Trà Vinh còn phối thờ
thêm Đức Phật và các vị sư sãi với vị trí tôn kính phía trên bàn thờ gia tiên.
2.1.2.1. Thờ Phật tổ với vai trò bảo hộ cuộc sống con người
Sự phối thờ Phật tổ cùng với các vị tổ tiên trong tín ngưỡng thờ cúng tổ
tiên là đặc trưng rất phổ biến ở người Khmer. Khi những gia đình mới ra ở riêng
hay những gia đình chưa thỉnh được tổ tiên về thờ thì trước tiên họ sẽ lập bàn
thờ để thờ đức Phật. Như chúng tôi đã trình bày, tộc người Khmer theo Phật
giáo Nam tông. Giáo phái này chủ trương giữ nguyên giới luật và thờ duy nhất
đức Phật Thích Ca Mâu Ni nên trong niềm tin về tôn giáo của người Khmer
theo Phật giáo Nam tông chỉ có duy nhất đức Phật. Mọi việc cầu khấn, ước
nguyện đều chỉ hướng đến sự giúp đỡ của đức Phật. Họ coi đức Phật tạo ra con
người từ sự phán xét công bằng theo qui luật nhân – quả. Đức Phật có một khả
năng vô thường là tồn tại vô hình trong cuộc sống mà con người không thể thấy
được nhưng mọi hành vi của con người đức Phật đều nhìn thấy.
Đức Phật được xem là đấng vĩ nhân giác ngộ mà tự nhiên đã ban tặng cho
con người. Ngài là một người xuất thân trong dòng dõi hoàng tộc, có vợ con trong
hoàng cung lộng lẫy. Thế nhưng Ngài đã rũ bỏ tất cả để đi tìm chân lí giải thoát
cho chúng sanh. Ngài đã hi sinh cả cuộc sống vàng son hạnh phúc của mình để đi
58
tìm chân lý giải thoát cho con người khỏi khổ đau trần tục. Ngài đã tìm ra chân lý
giải thoát khổ đau để làm kim chỉ nam cho sự ra đời và tồn tại của Phật giáo.
Từ vai trò quan trọng của đức Phật đối với Phật giáo cũng như sự hi sinh
lợi ích của cá nhân cho chúng sanh và sự thông tuệ của Ngài nên mỗi người
Khmer theo Phật giáo Nam tông đều xem đức Phật là vị cao nhất trong tất cả các
cõi mà con người và linh hồn tồn tại. Do vậy, đối với người Khmer, Phật có thể
bảo vệ được linh hồn tổ tiên lẫn những người còn sống. Khi vừa chào đời, người
Khmer đã xem sinh mệnh ấy là con của đức Phật, được nuôi lớn trong môi trường
của Phật giáo Nam tông và khi qua đời cũng trở về với đức Phật, họ tin rằng
không có đức Phật sẽ không có cuộc sống, tổ tiên dù có bao nhiêu đời cũng được
sinh ra sống chết trong sự bao bọc của đức Phật. Trong mỗi ngôi nhà người
Khmer có thể chưa có bàn thờ tổ tiên nhưng phải có bàn thờ Phật.
Phật là đối tượng thờ được tôn kính nhất trong đời sống của người Khmer
thường được thờ bằng vật tượng trưng là tranh Phật hoặc tượng Phật. Gia đình
muốn lập bàn thờ Phật thì phải vào chùa xin thỉnh tượng, tranh Phật hoặc đi
mua sau đó mang vào chùa làm lễ. Đối với tượng phải được thực hiện đầy đủ
các lễ ở chùa như đọc kinh cầu phước, làm lễ tắm tượng sau đó mang về làm lễ
cúng tượng tại nhà rồi mới thực hành các nghi thức hằng ngày. Đối với tranh
Phật thì đơn giản hơn, gia đình cử người vào chùa thỉnh hoặc mua tranh mang
vào chùa nhờ các vị sư đọc kinh cầu an là có thể mang về nhà để thờ. Truyền
thống của người Khmer Trà Vinh gắn với nền nông nghiệp nên tượng Phật bằng
chất liệu gốm thường được sử dụng, khi khoa học phát triển tượng Phật được
làm bằng nhiều chất liệu giá trị và tinh xảo hơn, ngày nay khi đến các gia đình
người Khmer ở Trà Vinh thì dễ dàng nhận thấy đại đa số vật tượng trưng để
thờ đức Phật là tranh bởi vì tranh sẽ gọn nhẹ, tránh vỡ và dễ dàng thiết kế theo
nhiều không gian khác nhau. Nhưng dù là chất liệu gì đi chăng nữa, khi có vật
thờ tượng trưng cho đức Phật trong gia đình thì người Khmer tin rằng đức Phật
đã hiện hữu trong gia đình của họ.
59
2.1.2.2. Thờ các vị sư sãi với ý nghĩa nhớ ơn người có công
Đối với người Khmer, các vị sư là đại diện cho Phật pháp, là hiện thân
của đức Phật, sư sãi có vai trò rất quan trọng trong đời sống tinh thần của họ.
Vì vậy, các vị sư cũng là đối tượng chính được phối thờ trong tín ngưỡng thờ
cúng tổ tiên của người Khmer ở Trà Vinh.
Thứ nhất sư sãi là người đang thực hiện việc tu hành theo đạo hạnh của
đức Phật Thích Ca Mâu Ni, là người đảm nhận việc giáo hóa chúng sanh, truyền
giáo lý đến cho Phật tử trong phum, sróc, là cầu nối giữa Phật tử với đức Phật.
Theo nhận định của Achar T.B “Không phải ai cũng có thể đi tu, phải có căn
duyên của Phật mới tu được. Các thanh niên của phum, sróc đều vào chùa tu
trả hiếu cho cha mẹ bằng nhiều cách khác nhau nhưng chỉ có những người có
căn của Phật thì mới ở lại tu trong chùa được”. Cũng theo vị Achar này “Khi
con cháu nhà nào đã ở lại chùa quyết tâm tu hành thì gia đình có bắt về sau đó
họ cũng trở lại chùa tu nhưng rất ít trường hợp bắt phải về gia đình. Gia đình
nào có con cái đi tu được là một niềm danh dự nên họ không bắt về”. Theo tìm
hiểu của chúng tôi đời sống tu tập tại chùa của các sư sãi phải tuân thủ những
nguyên tắc và giới luật rất nghiêm ngặt nên không phải ai cũng tu tập được.
Đây là lý do khiến người Khmer rất coi trọng các vị sư sãi trong chùa.
Thứ hai, ngoài vai trò là người đại diện cho đức Phật để truyền dạy giáo
lý, các vị sư sãi, đặc biệt là các vị trụ trì chùa có vai trò rất quan trọng trong
cộng đồng. Những lời răn dạy của các vị sư có sức mạnh rất lớn, tất cả những
mâu thuẫn tranh chấp trong phum, sróc đều do các vị sư đứng ra giải quyết. Đôi
khi, vị sư Cả cũng trở thành vị quan phát xét lỗi lầm của Phật tử có những hành
động sai trái làm ảnh hưởng đến cộng đồng. Trong tâm thức của người Khmer
ở Trà Vinh, các vị sư luôn là “cây cao bóng cả” che chở cho họ những lúc ốm
đau, bệnh tật, khó khăn,…Cũng chính vì vậy, vai trò và uy tín của các vị sư
trong cộng đồng được đánh giá rất cao. Họ không chỉ là người thực hiện sứ
mệnh hóa đạo mà còn định hướng, tổ chức, hướng dẫn những hoạt động tín
ngưỡng, văn hóa, giáo dục cho Phật tử. Trong chừng mực nào đó, họ còn là tác
60
nhân quan trọng làm nên đặc trưng trong tín ngưỡng tôn giáo của tộc người
Khmer ở Trà Vinh.
Thứ ba, các vị sư còn là người thầy giáo dục các thế hệ trẻ. Trong Phật
giáo Nam tông Khmer, mọi tu sĩ phải luôn đề cao chức năng giáo dục cho tín
đồ Phật tử và con em trong cộng đồng. Đây được coi là nhiệm vụ vô cùng cao
cả mà các vị sư sãi phải thực hiện. Do yếu tố chiến tranh và đặc thù sống trên
các giồng đất tách biệt với các trung tâm đông đúc nên trước đây con em người
Khmer không có cơ hội đến học tại các trường phổ thông theo chương trình
giáo dục của quốc gia. Do vậy, muốn biết chữ họ chỉ có thể học tại chùa và các
vị sư là những người thầy rất quan trọng trong giáo dục cộng đồng. Tại chùa có
các lớp bổ túc tiếng Pali, nội dung được đưa vào giảng dạy là chữ Khmer và
chữ Pali, giáo lý, văn hóa, nghề thủ công và cả đạo đức nhân cách làm người.
Các lớp học trong chùa do chính các sư đảm trách. Bằng kiến thức và sự hiểu
biết của mình các sư trực tiếp dạy cho các con em trong cộng đồng những nội
dung nói trên, phân theo các cấp học khác nhau. Với hình thức giáo dục này,
hầu hết các thành viên trong cộng đồng đều được giáo dục các tri thức về văn
hóa, nghề thủ công ở những trình độ nhất định. Từ đó tạo dựng cho họ những
hành trang ban đầu, căn bản nhất trước khi bước vào đời ở tuổi trưởng thành.
Không chỉ dạy ở trường chùa, các vị sư Khmer còn góp phần quan trọng vào
việc duy trì, phát triển các giá trị đạo đức xã hội qua việc lấy chính đạo và đức
độ của mình trong cuộc sống làm gương cho xã hội, mà trước hết là trong cộng
đồng người Khmer ở Trà Vinh.
Do vậy, khi thờ cúng tổ tiên người Khmer thường phối thờ các vị sư
trong chùa đã qua đời là để tỏ lòng biết ơn đối với bậc tiền nhân, người đã có
công trong việc giáo dục cộng đồng. Vấn đề thờ các vị sư là không bắt buộc
nhưng hầu hết các gia đình đều thờ họ với lòng biết ơn sâu sắc. Vị sư thường
được thờ là vị sư Cả, người này đã có công lao lớn trong quá trình khai khẩn
thành lập phum, sróc hoặc là người có công xây dựng chùa được mọi người
kính trọng. Việc chọn vị sư nào để thờ cũng không phải là qui định của cộng
61
đồng hay của nhà chùa mà hoàn toàn do mỗi gia đình tự lựa chọn. Có thể là vị
sư Cả đầu tiên của chùa, cũng có thể là bất kỳ vị sư nào đã qua đời, cũng có thể
là một người con người cháu đã từng tu tập tại chùa nhưng đã qua đời.
Chính vì không phải là một qui định, cộng thêm mục đích thờ cúng là
để thể hiện lòng nhớ ơn nên một số gia đình hiện nay đã có thờ Chủ tịch Hồ
Chí Minh thay thế cho vị trí của các vị sư [P11]. Hình thức này xuất hiện rất
nhiều tại các gia đình ở trung tâm Thành phố Trà Vinh hoặc ở huyện Châu
Thành. Hầu hết các gia đình có thành viên làm việc tại các cơ quan nhà nước
đều có thờ chủ tịch Hồ Chí Minh, đồng thời cũng thờ một hoặc vài vị sư. Có
gia đình đã thờ Chủ tịch Hồ Chí Minh từ khi miền Nam được hoàn toàn giải
phóng, cũng có gia đình thờ khi có thành viên trong gia đình trở thành viên
chức nhà nước. Khi được hỏi về mục đích thờ Chủ tịch Hồ Chí Minh thì được
chủ gia trả lời đơn giản: “Nhờ có Bác Hồ mà đất nước mình được độc lập”.
Như vậy, việc thờ là để tưởng nhớ và tạ ơn Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Khi thờ các vị sư sãi người ta thường đến chùa để xin một vật liên quan
đến họ lúc còn sống như: chuỗi, áo cà sa, kinh sách mà vị sư đó thích đọc mang
về làm vật thờ, cũng có thể người ta chỉ xin một mẩu giấy được các vị sư cao
niên ghi tên vị sư họ muốn thờ mang về. Tương tự như sự thay đổi về vật thờ
thay thế cho đức Phật, ngày nay hầu hết vật thờ của các vị sư đều là di ảnh.
Mặt khác, việc thờ cúng các vị sư sãi cũng có điểm khác khi vị sự được
thờ có mối quan hệ huyết thống với gia đình. Theo truyền thống thì con em
người Khmer gần đến tuổi trưởng thành phải vào chùa tu học một khoảng thời
gian nhất định mới được lập gia đình, sau đó có thể ở lại trong chùa tu suốt đời
tùy theo duyên nghiệp. Chính vì vậy, nếu vị sư được thờ có mối quan hệ huyết
thống thì việc thờ phụng này là một niềm vinh dự đối với gia đình. Bởi vì, mỗi
người con trai Khmer khi lớn lên đều vào chùa tu học nhưng không phải người
nào cũng được thờ bên trên ông bà. Vị sư được thờ trong trường hợp này là
người vào chùa tu học nhưng không hoàn tục để lập gia đình mà ở lại tu học và
thọ được những pháp giới nhất định. Khi đó họ được xem là đệ tử của đức Phật
62
và gia đình họ được coi như thuộc dòng dõi của đức Phật. Khi các vị sư qua đời
được gia đình trong dòng họ thỉnh về để thờ cúng, lấy đó làm vinh dự và cũng
là tấm gương sáng để giáo dục các thế hệ con cháu. Trên địa bàn huyện Trà Cú,
nơi mà người Khmer có hình thức cư trú theo phum, sróc xung quanh các ngôi
chùa chúng tôi tiếp xúc được rất nhiều gia đình có được niềm tự hào khi có
người con hoặc cháu là các vị sư sãi đã qua đời hoặc còn đang tu học nhiều
năm trong chùa. Trong khi đó, trên hai địa bàn lân cận có rất nhiều ý kiến cho
rằng việc thờ cúng các vị sư có quan hệ huyết thống là kế thừa truyền thống thờ
phụng của gia đình. Chúng tôi phải cố gắng tìm hiểu sâu hơn về giá trị thực của
những câu trả lời này bằng những câu chuyện tôn giáo theo các giá trị văn hóa
như: việc so sánh giữa người con trai được tu học tại chùa với người không tu
học, những người được tôn kính thành sư, những bậc được tôn kính thành sư
Cả,.. thì họ luôn dành sự tôn kính cho những ai vào chùa tu học sau đó trở
thành sư hơn là các thanh niên tu học một thời gian rồi hoàn tục. Mặt khác, họ
cũng cho rằng “Cuộc sống hiện tại việc tạo lập nghề nghiệp, xây dựng kinh tế
gia đình mới thật sự quan trọng”. Chính vì vậy vấn đề vào chùa tu để thành sư
cũng không quan trọng như ngày trước.
Khi thờ Đức Phật và các vị sư, gia đình không qui định ngày, giờ cũng
như lễ vật dâng cúng. Trong việc hành lễ thắp hương cho tổ tiên hằng ngày,
hay gia đình có dịp hiếu hỷ, gia chủ sẽ thắp hương và hành lễ xá đức Phật và
các vị sư 3 xá sau đó thắp hương cho ông bà tổ tiên. Đối với những gia đình
có chủ gia là Achar thì khi hành lễ đức Phật và các vị sư họ sẽ đọc bài kinh
sám hối sau đó mới thắp hương cho tổ tiên. Họ cũng không phân biệt lễ vật
để dâng cúng Phật và các vị sư với cúng tổ tiên.
2.2. Bàn thờ tổ tiên và vật thờ
2.2.1. Bàn thờ
Cũng giống như người Kinh và người Hoa, việc thờ cúng tổ tiên ở
người Khmer không thể thiếu bàn thờ và các vật thờ - vật tượng trưng cho tổ
tiên. Nói cách khác, bàn thờ cũng là vật không thể thiếu trong thực hành nghi
63
lễ thờ cúng tổ tiên của người Khmer, qua đó thể hiện sâu sắc những biểu hiện
của cộng sinh văn hóa.
2.2.1.1. Về vấn đề lập bàn thờ
Theo truyền thống của tộc người Khmer, sau khi người thân qua đời họ
làm tang ma, thực hiện hỏa táng, bảo quản phần tro cốt đặt lên bàn thờ tại gia
đình. Tuy nhiên, trước khi lập bàn thờ tổ tiên thì mỗi gia đình đã lập bàn thờ
Phật. Theo đó, khi các thành viên trong gia đình đủ điều kiện để tách ra thành
một gia đình mới thì họ sẽ lập bàn thờ Phật để cầu mong đức Phật che chở cho
cuộc sống gia đình được bình an, ấm no, hạnh phúc. Vì vậy, cho đến khi thỉnh
được ông bà về để lập bàn thờ tổ tiên thì họ xem như gia đình có thêm thành
viên mới (linh hồn người được thờ cúng). Tuy người Khmer không qui định
nhất thiết phải lập bàn thờ Phật trước khi lập bàn thờ tổ tiên nhưng trong thực
tế khi mỗi gia đình lập bàn thờ tổ tiên thì đã có bàn thờ Phật. Trong trường hợp
này có thể xem đức Phật với vai trò như một vị thần bảo hộ cho mỗi gia đình
khi mới được thành lập.
Cũng cần nói thêm rằng, nếu gia đình có xác nhập thêm đối tượng mới
trong dòng họ để thờ cúng thì không cần phải lập thêm bàn thờ Phật hay lập lại
bàn thờ Phật mới. Ở đây, chúng tôi chỉ thấy biểu hiện này trong trường hợp gia
đình người Khmer cả vợ và chồng đều là người Khmer, phổ biến ở địa bàn của
huyện Trà Cú nơi ít có hôn nhân ngoại tộc. Tuy nhiên, trên địa bàn huyện Châu
Thành và đặc biệt là Thành phố Trà Vinh thì vấn đề này không còn chặt chẽ do
có sự pha trộn trong hôn nhân. Trong trường hợp gia đình người chồng thuộc
tộc người Khmer thì qui định việc lập bàn thờ sẽ được áp dụng khá chặt chẽ
theo qui định trên. Ngược lại, nếu gia đình có người vợ thuộc tộc người Khmer,
người chồng là người Kinh hay người Hoa thì việc thờ phụng tổ tiên theo phong
tục của gia đình chồng. Từ đó cho thấy chế độ mẫu hệ trong truyền thống của
người Khmer đã không bắt buộc đối với các cộng đồng tộc người khác và có
thể xem như bị xóa trong những trường hợp gia lưu văn hoá này.
64
Trong quá trình khảo sát, chúng tôi tiếp cận được một gia đình mới được
ra sống riêng với ba mẹ ruột, đó là anh D.S.V ở huyện Trà Cú đã lập bàn thờ
Phật được vài ngày trước khi chúng tôi đến. Trong một gian nhà cấp bốn, anh
chọn phòng khách để đặt bàn thờ Phật với cầu mong “Đức Phật sẽ che chở cho
gia đình” và “Sau này sẽ về nhà ba mẹ ruột để thỉnh một người thân trong dòng
họ về thờ hoặc khi cha mẹ trăm tuổi sẽ xin thỉnh về nhà thờ”. Không chỉ riêng
gia đình anh, mà trước kia khi ba mẹ ruột của anh được ra riêng cũng như thế.
Tại địa bàn Thành phố Trà Vinh, chúng tôi cũng nhận thấy không ít các trường
hợp gia đình chỉ có bàn thờ Phật mà chưa có bàn thờ tổ tiên. Những trường hợp
này đều cho rằng “Chưa thỉnh được ông bà tổ tiên để thờ”.
Khi lập bàn thờ tổ tiên có hai trường hợp: Thứ nhất, nếu thỉnh ông bà từ bàn
thờ tổ tiên của người thân về thì gia chủ chọn vị trí đặt bàn thờ sau đó mang di ảnh
của người đã khuất hoặc bát hương hay di vật đặt lên bàn thờ, nấu mâm cơm mời
một vài vị sư đến tụng kinh cầu siêu cho linh hồn là hoàn thành nghi thức thỉnh
ông bà (nếu gia đình không thể mời được sư sãi trong chùa thì có thể mời một vị
Achar đến làm lễ giúp gia đình). Thứ hai, nếu gia đình có người thân qua đời
nhưng gia đình chưa có bàn thờ tổ tiên họ sẽ lập một bàn thờ nhỏ ở cạnh bàn thờ
Phật để thờ cúng linh hồn người đã khuất. Sau khi gửi tro cốt vào chùa họ sẽ tổ
chức lập bàn thờ tổ tiên.
Việc chọn vị trí đặt bàn thờ là rất quan trọng vì người Khmer rất coi trọng
vấn đề đạo đức, thể hiện sự quan tâm của người còn sống đối với tổ tiên cũng
là một tiêu chí quan trọng để đánh giá đạo đức. Người Khmer không lập phủ
thờ hay nhà thờ họ mà lập bàn thờ tổ tiên gắn với không gian gia đình. Vị trí
lập bàn thờ phải thể hiện được sự tôn kính đối với ông bà tổ tiên và các đối
tượng được phối thờ đặc biệt là đức Phật. Theo đó, người Khmer thường chọn
vị trí trang trọng nhất của ngôi nhà để đặt bàn thờ - đầu tiên là lập bàn thờ Phật,
sau đó là lập bàn thờ tổ tiên. Gian nhà gắn với cửa chính sẽ được chọn để đặt
bàn thờ tổ tiên, hướng bàn thờ đối diện với cửa chính. Trong ngôi nhà, không
gian này là nơi người Khmer dùng để tiếp khách nên được thiết kế đẹp và trang
65
trọng nhất. Mặt khác, người Khmer cũng có ngụ ý về sự trình diện của vị khách
trước ông bà tổ tiên để thể hiện sự tôn trọng trước gia chủ.
Hơn thế nữa, gian nhà có cửa chính là nơi diễn ra tất cả các nghi lễ trong
gia đình. Mỗi người Khmer từ lúc sinh ra cho đến khi qua đời phải trải qua rất
nhiều lễ nghi và tất cả đều phải thực hiện trước sự chứng kiến của ông bà tổ
tiên, các nghi lễ nông nghiệp khác như cúng sân lúa, cúng thần nông đều cũng
được diễn ra trước sân có cửa chính. Về nguyên tắc chọn vị trí đặt bàn thờ tổ
tiên trong gia đình người Khmer đều áp dụng giống nhau. Trong quá trình thực
tế chúng tôi cũng gặp một số trường hợp tại trung tâm Thành phố Trà Vinh là
việc tách không gian thờ cúng ông bà thành một không gian riêng. Đó là trường
hợp các gia đình có nhà nhiều tầng, họ thiết kế riêng một không gian nhất định
(thường đặt ở tầng cao nhất của ngôi nhà) làm không gian thờ cúng tách biệt
với không gian sinh hoạt của gia đình và tiếp khách. Lý giải về cách chọn vị trí
này Anh T.S.T ở thành phố Trà Vinh cho biết “Nơi thờ phụng ông bà phải
thanh tịnh, lắng đọng, yên tĩnh, đặt ở tầng cao nhất là để thể hiện sự tôn kính
với ông bà tổ tiên” Tuy nhiên đây là trường hợp gia chủ có điều kiện, theo Sư
T.T trụ trì chùa Watt Khươne ở khóm 1 phường 7 Thành phố Trà Vinh thì “Gia
đình nào có điều kiện thì chọn vị trí theo cách nghĩ của họ, tổ tiên cũng không
quan trọng và đòi hỏi nhất thiết phải trang trọng, quan trọng là tấm lòng của
con cháu là trên hết”. Như vậy, dù cách bố trí không gian thờ có thay đổi nhưng
mục đích của việc thờ cúng của người Khmer vẫn hướng đến những điều tốt
đẹp nhất cho ông bà tổ tiên.
Về cơ bản, cách chọn không gian và vị trí đặt bàn thờ trong gia đình
người Khmer ở Trà Vinh tương tự như ở các gia đình người Kinh, người Hoa.
Đó là việc ưu tiên không gian trang trọng nhất trong gia đình làm nơi phụng
thờ tổ tiên.
66
2.2.1.2. Cách bài trí, sắp xếp bàn thờ
Người Khmer tin rằng bàn thờ là nơi ngự trị của tổ tiên và các đối tượng
được phối thờ khác, là nơi tôn nghiêm và thể hiện sự kính trọng của con cháu
đối với tổ tiên và niềm tin đối với đức Phật và các vị sư sãi.
Bát hương là vật không thể thiếu trên bàn thờ tổ tiên. Bát hương phải
được đặt ở giữa bàn thờ và trước đối tượng thờ. Đây là vật dụng để người
Khmer thể hiện lòng thành kính của mình đối với tổ tiên thông qua nghi thức
thắp hương. Trên một bàn thờ có thể có nhiều đối tượng được thờ nhưng người
Khmer chỉ đặt duy nhất một bát hương ở giữa bàn thờ. Theo khảo sát của chúng
tôi tại các gia đình thờ 3, 4 thế hệ như ở xã Ngọc Biên huyện Trà Cú, các gia
đình thờ 2 thế hệ ở huyện Châu Thành, thậm chí các gia đình mới ra ở riêng
thờ cúng 1 thế hệ đều chỉ có một bát hương trên bàn thờ. Điều này đã cho thấy
việc đặt 1 bát hương duy nhất trên bàn thờ tổ tiên đã trở thành truyền thống
trong tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Khmer (ở đây chúng tôi chỉ xem
xét những gia đình thuần về tộc người Khmer). Vào các ngày lễ ngày tết thường
có thêm hoa và quả để cúng tổ tiên nhưng tùy thuộc vào không gian của bàn
thờ mà gia chủ có thể linh hoạt chọn vị trí đặt cho phù hợp và đẹp mắt mà không
cần theo qui ước “Đông bình Tây quả” nào cả.
Tuy nhiên độc đáo nhất trong cách bài trí bàn thờ tổ tiên của người Khmer
là nguyên tắc bài trí thể hiện niềm tin, sự tôn kính đối với đức Phật và các vị sư
sãi trong phum, sróc. Trên cùng một bàn thờ, nếu xét theo phương thẳng đứng
thì nguyên tắc này phải thực hiện như sơ đồ sau:
Phật
↓
Các vị sư cả
↓
Các vị tổ tiên có quan hệ huyết thống
(Bát hương)
67
Theo sơ đồ này, trên cùng một bàn thờ người Khmer sẽ đặt tranh hoặc
ảnh của đức Phật ở vị trí cao nhất sau đó đến di vật hoặc ảnh của vị sư sãi và
thấp nhất là di ảnh (có thể có di ảnh tổ tiên hoặc không) của tổ tiên và bát
hương (bát hương được đặt ở giữa bàn thờ và phía trước di ảnh của tổ tiên).
[P9]
Nếu không trên cùng một bàn thờ thì nguyên tắc này cũng phải được bố
trí theo vị trí ưu tiên trang trọng. Nghĩa là bàn thờ Phật phải được bài trí ở giữa
của gian chính, bàn thờ các vị sư ở một bên và bàn thờ tổ tiên ở một bên.
Cũng có trường hợp Phật và các vị sư được thờ chung một bàn thờ và đặt
ở giữa, bàn thờ tổ tiên sẽ ở vị trí của một trong hai gian còn lại. Tuy nhiên
nguyên tắc từ cao xuống thấp vẫn được áp dụng trong trường hợp này [P10].
Có thể hình dung theo sơ đồ sau:
Bàn thờ Phật
(đối diện cửa chính)
(Bát hương)
Bàn thờ các vị sư sãi
(Bát hương)
Bàn thờ tổ tiên
(Bát hương)
Hoặc trường hợp Phật và các vị sư sãi được thờ chung một bàn thờ
Bàn thờ Phật
Các vị sư sãi
( đối diện cửa chính)
(Bát hương)
Bàn thờ tổ tiên Hoặc Bàn thờ tổ tiên
(Bát hương) (Bát hương)
Nếu tại các gia đình thuần là người Khmer thì không có sự phân chia
nhiều bàn thờ và nhiều bát hương vì họ không phân biệt họ nội hay họ ngoại
[P11]. Trường hợp gia đình có hôn nhân ngoài tộc người Khmer sẽ có nhiều
68
hơn 1 bàn thờ tổ tiên là do có sự phối thờ với cha mẹ hay ông bà của bên vợ
hay bên chồng.
Các sơ đồ trên là qui tắc khi bố trí bàn thờ tổ tiên của người Khmer ở Trà
Vinh. Tuy nhiên, qui tắc này lại phụ thuộc rất nhiều vào không gian ngôi nhà
mà không phụ thuộc vào địa bàn nghiên cứu. Nếu lấy nguyên tắc thứ nhất làm
nguyên tắc truyền thống thì trên địa bàn huyện Trà Cú nơi có đông người
Khmer sinh sống với những nét văn hóa còn nguyên sơ mang đặc trưng tộc
người sẽ thể hiện việc bài trí theo nguyên tắc này không nhiều. Tuy nhiên, điều
đó lại hoàn toàn ngược lại khi các gia đình trên địa bàn Thành phố Trà Vinh lại
thể hiện nguyên tắc này chiếm đa số. Nguyên nhân là do diên tích xây dựng
ngôi nhà của các gia đình tại trung tâm Thành phố Trà Vinh bị thu hẹp theo
chiều ngang nên rất khó bố trí theo nguyên tắc thứ hai. Trong khi đó các gia
đình tại nông thôn lại có chiều ngang của ngôi nhà khá rộng nên việc bài trí
nhiều bàn thờ trong một ngôi nhà cũng là cách tạo không gian ấm cúng nên sơ
đồ thứ hai và thứ ba được áp dụng nhiều hơn. Sự tôn kính Phật giáo trong cách
bài trí điện thờ được người Khmer ưu tiên theo phương thẳng đứng hơn là ưu
tiên theo không gian gia đình. Nghĩa là, cũng có một vài trường hợp bàn thờ tổ
tiên được đặt ở gian giữa nhà, bàn thờ Phật được đặt lệch sang bên trái hay bên
phải. Nhưng những vị Achar khẳng định với chúng tôi rằng: “Dù đặt ở vị trí
nào là do gia đình thống nhất, nhưng bàn thờ Phật bao giờ cũng phải cao hơn
so với bàn thờ ông bà tổ tiên”. Đây là luật bất thành văn trong tâm thức của
mỗi người Khmer còn cách thể hiện đến mức nào là tùy thuộc vào mỗi gia đình
và dòng họ. Chúng tôi đến thăm gia đình của anh X.V vừa mới được ra ở riêng
khoảng 2 tháng tại huyện Trà Cú. Ở gian giữa của ngôi nhà anh lập một bàn thờ
Phật (từ ngày vừa vào nhà ở anh đã lập bàn thờ Phật) nhưng khánh thờ được đặt
khá cao, mỗi lần thắp hương phải bước lên một chiếc ghế mới thực hiện được
[P12]. Anh cho biết rằng “Năm sau anh sẽ thỉnh ba ruột của mình về nhà thờ
nên phải làm chỗ thờ Phật cho cao để sau này lập bàn thờ cho ba ruột khỏi phải
di chuyển bàn thờ Phật lên trên nữa”. Chúng tôi còn được anh chia sẻ rằng:
69
“Cộng đồng người Khmer là vậy không chỉ riêng tôi. Gia đình có thể không có
hoặc chưa có bàn thờ tổ tiên nhưng không thể thiếu bàn thờ Phật được. Cũng
không gia đình nào lập bàn thờ tổ tiên mà không có thờ Phật”.
Như vậy, từ cách bố trí bàn tổ tiên và các bàn thờ khác trong gia đình
người Khmer cho thấy họ rất đề cao Phật giáo trong niềm tin tín ngưỡng. Tuy
mục đích của việc bài trí là để thờ cúng tổ tiên nhưng Phật giáo Nam tông vẫn
giữ một vị trí quan trọng trong niềm tin của người Khmer. Giải thích về vấn đề
ưu tiên bàn thờ Phật, Ông D.C cho rằng “Có ông Phật mới có tổ tiên và có con
cháu sau này nên phải thể hiện sự kính trọng”. Có thể thấy rằng trong tâm thức
của người Khmer đức Phật là quan trong nhất dù là linh hồn đã khuất hay những
người còn đang hiện hữu.
Tại các gia đình người Kinh trên địa bàn nghiên cứu chúng tôi vẫn thấy
xuất hiện môtip bàn thờ Phật trên cao sau đó đến bàn thờ tổ tiên. Tuy nhiên đối
với người Kinh vấn đề thờ Phật là không bắt buộc cũng như việc hành lễ khi
cúng tổ tiên cũng không theo qui định từ trên xuống như người Khmer. Đối với
người Kinh vấn đề thờ cúng ông bà tổ tiên mới là quan trọng, việc thờ Phật chỉ
để cầu cho gia đình được bình an. Nếu so sánh giữa tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên
của người Kinh và người Khmer trên cũng địa bàn nghiên cứu thì rõ ràng Phật
giáo Nam tông giữ một vai trò không thể thiếu trong tín ngưỡng thờ cúng tổ
tiên của người Khmer.
2.2.2. Vật thờ
Vật tượng trưng trong thờ cúng là yếu tố rất quan trọng trong bất kỳ loại
hình tín ngưỡng nào bởi lẽ vật tượng trưng (vật thờ) bao giờ cũng mang yếu tố
đặc trưng của nó là cái biểu đạt và cái được biểu đạt. Vật tượng trưng trong thờ
cúng xét ở tính vật lý là một vật chất thay thế (cái biểu đạt) để đại diện cho một
đối tượng khác mang nội dung khác mà con người tin tưởng (cái được biểu
đạt). Trong tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Khmer cũng vậy, vật thờ
được xem là hiện hữu của đối tượng được thờ cúng.
70
Nhìn chung, vật thờ trong tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Khmer
là khá đa dạng. Dù có những thay đổi vật thờ theo thời gian và không gian nhưng
vật thờ luôn là đối tượng để người Khmer thể hiện sự quan tâm chăm sóc đối với
ông bà tổ tiên, là vật để con cháu an ủi nhau trước sự ra đi của người thân và
cũng là vật mang tính giáo dục mối quan hệ huyết thống trong gia đình. Tuy con
cháu không quan niệm rằng có vật thờ mới có ông bà tổ tiên hiện hữu hoặc ngược
lại nhưng tựu trung người Khmer vẫn tin tưởng có sự hiện hữu của linh hồn ông
bà quanh quẩn trong cuộc sống của họ. Khi thờ Phật tại gia đình, người Khmer
tin sự hiện hữu của đức Phật ở bức tượng tại vị và sự hiện hữu của các vị sư sãi
thông qua các hiện vật thờ cúng.
Từ kết quả khảo sát, chúng tôi tạm chia cách thể hiện vật thờ trong tín
ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Khmer thành hai dạng:
Dạng bàn thờ không đặt vật thờ: Dạng thờ này chúng tôi bắt gặp ở nhiều
trường hợp cả trên 3 địa bàn nghiên cứu. Đây là những gia đình thuộc dạng hộ
khó khăn của địa phương hoặc người mất không có đi ảnh để lại [P9]. Những
trường hợp không có vật thờ được các gia chủ giải thích theo nhiều hướng khác
nhau như: “Ông bà đã theo tro cốt vào ở trong chùa nên có hay không không
quan trọng” hay “Đâu phải có di ảnh mà ông bà mới về với gia đình”, “Ông bà
xưa cũng đâu có thờ hình ảnh nên ngày nay cũng đâu ai bắt buộc phải có ảnh,
vả lại ông bà được đi đầu thai lúc nào đâu có biết nên nếu có thờ di ảnh mà
ông bà đi đầu thai rồi cũng đâu liên quan gì với nhau”. Hoặc một số trường
hợp khác là do “Ông bà hi sinh trong kháng chiến” nên không có ảnh để lại.
Nếu nhìn vào phương thức thờ cúng tổ tiên của người Khmer thì quan
niệm không có vật thờ của các trường hợp này cũng khá hợp lý. Bởi vì người
Khmer tổ chức thờ cúng ông bà tổ tiên theo hình thức cộng gộp, không phân
biệt giữa các thế hệ linh hồn cũng như không phân biệt ngày mất để tổ chức
cúng giỗ. Khi người thân qua đời thì được xác nhập vào tổ tiên nên vật thờ
không làm vai trò phân biệt thứ bậc. Tổ chức cúng để tạo phước chung không
71
là của riêng linh hồn nào. Do vậy, theo họ “Có di ảnh hay không không quan
trọng mà quan trọng là con cháu có tạo phước cho ông bà hay không”.
Dạng vật thờ vừa là di ảnh, vừa là vật thay thế: Đại đa số các gia đình
đều cho rằng việc thờ di ảnh ông bà là có từ sau giải phóng (khoảng từ năm
1975 đến nay), họ đã tìm kiếm hình ảnh cũ hoặc vẽ lại theo trí nhớ của người
nào đó trong gia đình sau đó đặt lên bàn thờ để tưởng nhớ [P11]. Các gia đình
thuộc một hoặc hai thế hệ thì cho rằng “Gia đình đã thờ như vậy thì làm theo”.
Cách thể hiện này xuất hiện với tần xuất khá đồng đều tại các địa bàn nghiên
cứu. Đặc biệt tại thành phố Trà Vinh hầu hết các gia đình dùng di ảnh để thờ
Phật, ông bà và các vị sư sãi. Giải thích cho việc thờ di ảnh thì chúng tôi chỉ
nhận được duy nhất một hướng hồi đáp là “đó là hình kỉ niệm, nhìn hình để con
cháu nhớ đến ông bà mình”. Có thể thấy, sự phát triển của khoa học kỹ thuật
đã tạo điều kiện tốt hơn để con người gắn kết với nhau, để lưu giữ những kỉ
niệm tốt đẹp về cội nguồn đồng thời giáo dục cho thế hệ mai sau về truyền
thống và mối quan hệ huyết thống một cách sinh động hơn.
Cũng có gia đình thờ tổ tiên không có di ảnh mà chỉ có bát hương là do
người mất không để lại di ảnh hoặc gia đình cũng không quan trọng việc làm
di ảnh cho người mất như nhiều hộ ở ấp Tắc Hố, ấp Sóc Ruộng, xã Đôn châu,
ấp Rạch Lợp, ấp Hương Phú Xã Đa Lộc huyện Châu Thành,…
Ngày nay, phần lớn các hộ gia đình người Khmer ở Trà Vinh đều thấy
xuất hiện một hoặc nhiều di ảnh của những người đã khuất trên một bàn thờ tổ
tiên. Việc khác nhau về số lượng di ảnh đã đặt ra cho chúng tôi câu hỏi: Phải
chăng là do mỗi gia đình có sự khác nhau về số lượng thế hệ nên như vậy? Thật
ra, người Khmer không qui định phải thời bao nhiêu đời hoặc gia đình có bao
nhiêu thế hệ mới được tổ chức thờ tổ tiên. Số lượng di ảnh nhiều hay ít là do
những người đã khuất có di ảnh để lại cho con cháu hay không. Tại huyện Trà
Cú chúng tôi còn gặp một số trường hợp gia đình không đặt di ảnh ông bà tổ
tiên trên bàn thờ với nhiều nguyên nhân khác nhau: Theo ông D.T.K ở ấp Tác
Hố, xã Ngọc Biên, huyện Trà Cú thì, “Linh hồn tổ tiên không phải ngự trị trên
72
bàn thờ, cũng không phải ngự trị trong ảnh nên không cần phải có”, hoặc gia
đình ông T.T.L 70 tuổi ở Ấp Tà Rôm, ông là người chịu trách nhiệm thờ cúng
tổ tiên từ đời cha của ông truyền lại nhưng trên bàn thờ tổ tiên chỉ có ảnh người
con trai thứ 2 của ông đã mất cách đây 2 năm, nguyên nhân của việc chỉ có một
di ảnh là “Ngày xưa, nghèo khổ, giặc dã ông bà làm gì có hình ảnh mà để lại cho
thờ”. Trên 2 địa bàn Châu Thành và thành phố Trà Vinh – nơi mà hầu hết các
gia đình đều có di ảnh của tổ tiên trên bàn thờ thì cho rằng “di ảnh là để con cháu
nhìn mà tưởng nhớ tới ông bà và thỉnh thoảng có thể giải thích cho con cháu đời
sau biết mặt của tổ tiên”. Như vậy, di ảnh chỉ xuất hiện trong tín ngưỡng thờ
cúng tổ tiên của người Khmer ở khoảng thời gian gần đây khi trình độ khoa học
kỹ thuật phát triển. Đối với họ, sự xuất hiện của di ảnh trên bàn thờ chỉ làm tăng
thêm sự gần gũi giữa ông bà với con cháu chớ không phải là một nguyên tắc bắt
buộc trong truyền thống của gia đình cũng như truyền thống văn hóa tộc người.
Ngoài di ảnh, trên bàn thờ những người đã khuất còn có thể xuất hiện
tháp cốt (trường hợp này đối với các gia đình có người vừa qua đời). Đối với
tộc người Khmer, khi người thân qua đời họ lập một bàn thờ cho người mới
mất. Sau khi thực hiện hỏa thiêu, họ mang tro cốt đặt vào một tháp cốt (là một
vật hình trụ, rỗng bên trong, có nắp đậy kín bên trên, bên ngoài được trang trí
rất lộng lẫy) và đặt lên bàn thờ. Phần tro cốt này thường được đặt cạnh di ảnh.
Sau một khoảng thời gian, gia đình sẽ mang tháp cốt của người đã khuất gửi
vào các tháp cốt ở trong chùa. Người Khmer cho rằng: “việc đặt tháp cốt trong
nhà là để thể hiện sự quan tâm, chăm sóc của con cháu đối với ông bà mới
mất” hoặc “để gia đình bớt buồn đau vì khi nhìn tháp cốt sẽ tưởng nhớ đến
người ông bà còn gần gũi mình”. Do vậy thời gian đặt tháp tro cốt của người
đã khuất ở nhà là tùy thuộc vào sự thống nhất của mỗi gia đình. Tuy nhiên,
người Khmer vẫn tin rằng “Gửi tro cốt vào chùa là để ông bà nghe lời kinh
tiếng kệ” Điều này cho thấy rằng ở một chừng mực nào đó, họ vẫn tin linh hồn
của ông bà nhìn thấy được tro cốt của mình và hiểu được mong muốn của con
cháu. Ngày nay, một số hộ gia đình người Khmer cũng đã thay đổi hình thức
73
hỏa táng thành hình thức địa táng nên vật thờ cũng được thay đổi theo xu hướng
sử dụng di ảnh là phổ biến.
Như vậy, di ảnh và cả tháp cốt không mang một giá trị biểu đạt để thay thế
cho cái được biểu đạt là linh hồn của ông bà tổ tiên. Hay nói cách khác, di ảnh và
tháp cốt không phải là biểu tượng thay thế cho linh hồn của ông bà tổ tiên. Do vậy,
chúng tôi xem đây vật tượng trưng trong tục thờ cúng tổ tiên của người Khmer.
Ngoài ra, trên bàn thờ tổ tiên còn có các vật dụng khác như: cặp chân đèn
(làm bằng đồng hay bằng gỗ), bình hoa hoặc bộ kỷ để đặt bát hương nhưng các
vật này chủ yếu để trang trí cho đẹp thêm bàn thờ mà không mang yếu tố tâm linh.
Nhìn chung, trong tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Khmer vật thờ
cũng mang ý nghĩa quan trọng. Tuy nhiên, do trong truyền thống không bắt
buộc phải có vật thờ (di ảnh) như ngày nay nên đối với các thế hệ con cháu di
ảnh chỉ để làm kỷ niệm tưởng nhớ và nhắc nhở các thế hệ tiếp nối. Khi thờ tổ
tiên không nhất thiết phải có di ảnh hoặc vật thờ vì chúng không phản ánh được
sự ngự trị của linh hồn tổ tiên trong di ảnh đồng thời việc có di ảnh hay không
cũng không phải là thước đo lòng hiếu thảo của con cháu đối với tổ tiên. Các
bậc cao nên cũng thừa nhận rằng hiện tượng thờ di ảnh của ông bà trên bàn thờ
là “Làm theo người Kinh sống ở gần”. Nhận định này cho thấy tín ngưỡng thờ
cúng tổ tiên của người Khmer cũng đã có sự dung hợp với tín ngưỡng thờ cúng
tổ tiên của người Kinh trong quá trình cộng cư.
2.3. Người chịu trách nhiệm thờ cúng và thực hành nghi lễ
2.3.1. Người chịu trách nhiệm thờ cúng
Theo truyền thống của cộng đồng người Khmer, người con út trong gia
đình sẽ chịu trách nhiệm thờ cúng ông bà tổ tiên. Lý giải con vấn đề này người
Khmer cho rằng: con út là người nhỏ nhất trong gia đình nên dành được sự yêu
thương nhiều hơn các anh chị. Khi người con út chưa đủ lớn để gánh vác việc
gia đình thì các anh chị đã có gia đình riêng trong khi đó đứa út vẫn còn chung
sống với cha mẹ nên được gần gũi chăm sóc cha mẹ nhiều hơn. Vì vậy, phần
tài sản hương hỏa của ông bà, cha mẹ để lại cũng dành cho em út phần nhiều
74
để còn tổ chức cúng cho ông bà hằng năm. Tuy nhiên, cũng có sự khác biệt
trong qui định về con út của người Khmer so với người Kinh ở Trà Vinh. Theo
đó, trong qui định của người Khmer, con út là người con nhỏ tuổi nhất trong
các anh em không kể là nam hay nữ. Trong khi đó, người con út trong gia đình
của người Kinh thì lại có 2 dạng: út nhỏ tuổi nhất và út nam nhỏ tuổi nhất.
Trong trường hợp người con út là nữ thì người con trai nhỏ tuổi nhất trong gia
đình chịu trách nhiệm thờ cúng cũng được xem là con út. Trường hợp gia đình
có duy nhất một con trai, còn lại là nữ thì xem người con trai đó là út trong gia
đình. Trong các gia đình người Khmer cũng có qui ước nếu người con út vào
chùa tu học và không hoàn tục thì trách nhiệm cúng ông bà sẽ giao cho người
anh hoặc chị liền kề. Trường hợp gia đình chỉ toàn là nữ mà người con út không
thể thờ cúng ông bà được thì trách nhiệm đó được giao cho người chị lớn nhất
trong nhà. Trong nhiều trường hợp tại ấp Phú Khánh xã Song Lộc, huyện Châu
Thành cho thấy việc chịu trách nhiệm thờ cúng bị chi phối bởi vấn đề hôn nhân.
Chẳng hạn như: người con út không phải đi tu mà do lập gia đình và chung
sống theo bên chồng hoặc bên vợ nên không trực tiếp ở lại gia đình chăm sóc
cho cha mẹ, ông bà nên phải nhờ vào anh chị trong gia đình thay mình thờ cúng.
Gia đình chị D.T.Y.H tại ấp Phú Khánh xã Song Lộc huyện Châu Thành. Chị
lấy chồng là người Kinh ở huyện Càng Long và ở bên gia đình chồng nên việc
thờ cúng ông bà được giao lại cho người anh trai liền kề trước chị. Trên ba địa
bàn mẫu của chúng tôi thì trường hợp này xuất hiện nhiều nhất ở huyện Châu
Thành. Theo tìm hiểu thì có lẽ huyện Châu Thành là địa bàn nằm chuyển tiếp
giữa hai địa bàn còn lại nên quá trình giao lưu văn hóa diễn ra mạnh mẽ. Cụ
thể, thành phố Trà Vinh - nơi có cuộc sống đô thị, nhiều khu công nghiệp, quá
trình cộng cư diễn ra mạnh mẽ trong khi đó huyện Trà Cú là nơi tập trung đông
tộc người Khmer nhất và chủ yếu là cuộc sống nông nghiệp. Tuy nhiên, cũng
có trường hợp do không hoà thuận như những gia đình khác, cô T.T.Ê do việc
mâu thuẫn phân chia đất đai với các anh em trong gia đình nên Cô về Phường
3 của Thành phố Trà Vinh sinh sống từ năm 2010 và tự lập bàn thờ thờ phụng
75
cha mẹ “Lúc đó cha mẹ cô đã mất, có một số anh em lại muốn về lại nhà của
cha mẹ để ở và thờ để có được ruộng vườn của ông bà, rồi thống nhất ruộng
thì chia đều, ai thờ ba mẹ thì được thêm cái nhà với miếng vườn, cô thấy tội
quá nên lấy phần của mình cho anh thứ ba rồi về đây đi làm và sinh sống một
mình còn lại ai làm gì kệ họ”. Đây là trường hợp đặt biệt không theo qui định
thường thấy trong thờ cúng ông bà của người Khmer nhưng trong trường hợp
này đã cho thấy việc phân chia tài sản phải dựa vào tiêu chí tài sản hương hỏa
được chia cho người chịu trách nhiệm thờ cúng mà phần trên chúng tôi đã đề
cập. Bên cạnh đó, hiện nay có nhiều trường hợp các anh chị em trong gia đình
sẽ họp lại để xem ai sẽ là người chịu trách nhiệm thờ cúng tổ tiên. Qua khảo sát
cho thấy vấn đề chịu trách nhiệm thờ cúng lại phụ thuộc vào sự thống nhất của
các thành viên trong gia đình nhiều hơn. Trường hợp của anh T.S.V là thông
tín viên của chúng tôi tại huyện Châu Thành là một điển hình, anh có 6 anh em
ruột, một anh trai, một chị gái và một em trai hai em gái nhưng anh là người
chịu trách nhiệm thờ cúng tổ tiên của gia đình. Theo anh “Khi các anh chị em
lập gia đình mỗi người đều có hoàn cảnh có người muốn nhận thờ có người
không muốn nên họp gia đình và tôi tự đứng ra nhận thờ phụng ông bà là chính.
Nhưng các anh em cũng có người lập bàn thờ của ba mẹ tôi hoặc ông bà nội
tại nhà của họ”. Như vậy, trong trường hợp này cho thấy trách nhiệm thờ cúng
ông bà của người Khmer chủ yếu dựa vào sự thống nhất của gia đình là chính
mà không quan trọng thứ bậc. Đây là hiện tượng “đồng thờ” trong tín ngưỡng
thờ cúng tổ tiên – một hiện tượng khá phổ biến ở cả ba địa bàn thành Phố Trà
Vinh, huyện Châu Thành và huyện Trà Cú. Thậm chí, có những trường hợp do
mâu thuẫn trong quan hệ huyết thống mà ông bà chung được thờ ở nhiều gia
đình khác nhau và mỗi gia đình tự chịu trách nhiệm thờ cúng như trường hợp
của cô T.T.Ê mà chúng tôi đã đề cập.
Nhìn chung, vấn đề người chịu trách nhiệm thờ cúng trong tín ngưỡng
thờ cúng tổ tiên của người Khmer có thể nói là khá linh hoạt. Những quy ước
76
truyền thống vẫn còn tồn tại đồng thời cũng có những yếu tố giao thoa khác
trong thực tại cuộc sống.
2.3.2. Người thực hành nghi lễ cúng tổ tiên
Việc quy định người thực hành nghi lễ tùy thuộc vào tính chất và quy
mô lớn nhỏ của từng nghi lễ. Theo truyền thống của người Khmer thì hàng ngày
họ phải thắp hương cho ông bà hai lần vào lúc sáng sớm và lúc chiều tối, việc
thắp hương không bắt buộc phải là gia chủ, nam hay nữ. Con cháu trong gia
đình ai không bận việc thì thắp hương. Tuy nhiên, trong những dịp tổ chức lễ
cúng ông bà như: Đôlta, Chôl Chnăm Thmây nếu gia đình không mời các ông
sư về đọc kinh thì người đại diện gia đình (thường là ai người lớn tuổi nhất
trong gia đình hoặc người chịu trách nhiệm thờ cúng) sẽ đến bàn thờ đọc lời
khấn theo tâm suy nghĩ của mình (nội dung là mời ông bà về dùng cơm và dự
lễ với con cháu).
Đối với các gia đình có điều kiện tổ chức nghi lễ lớn thường mời những
người chuyên nghiệp am hiểu phong tục lễ nghi chủ trì, đó là các vị Achar hoặc
các vị sư trong chùa.
Về các vị Achar: Hay còn gọi là Kru Achar – là người thông hiểu nhiều
kinh sách, lễ nghi và phong tục tập quán của tộc người Khmer. Ngoài ra có
người còn tu luyện bùa phép trị bệnh, bói toán, bóc thuốc để giúp đỡ cho cộng
đồng. Các vị này được tu học tại các chùa, tinh thông Phật pháp có quá trình
rèn luyện phẩm hạnh và có thành tích nổi bật khi tham gia thực hành các nghi
lễ cho cộng đồng. Sau khi hoàn tục họ được mời làm người hướng dẫn các nghi
lễ tại gia hoặc trong cộng đồng. Achar giữ một vai trò và vị trí không thể thiếu
trong cộng đồng người Khmer. Hiện nay số lượng các vị Achar không còn
nhiều nhưng vì được đào tạo và rèn luyện trong môi trường giáo dục của chùa
nên hiện nay số lượng Achar vẫn đảm bảo đủ để thực hiện các nghi lễ trong
phum, sróc hoặc tại các gia đình. Nếu gia đình có tổ chức thỉnh các vị sư trong
chùa về đọc kinh cầu siêu cho linh hồn ông bà thì cử người đi mời ông Achar
đến hướng dẫn tổ chức lễ để các vị sư đọc tụng kinh.
77
Sự xuất hiện của vị Achar là đặc trưng riêng và độc đáo trong tín ngưỡng
thờ cúng tổ tiên của người Khmer so với người Kinh và người Hoa ở Trà Vinh.
Trong tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của tộc người Hoa và người Kinh cũng cử
người đại diện của gia đình (thường là chủ gia) để khấn linh hồn tổ tiên nhưng
không có việc đọc kinh, cũng không cử người dẫn dắt các phần lễ với vai trò
như Achar. Ông Achar đã trở thành người đại diện cho gia đình để thực hiện
các nghi lễ trong tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên đồng thời cũng là người kết nối
giữa linh hồn tổ tiên với các nghi lễ và kinh Phật nhằm tạo phước cho linh hồn.
Về các vị sư: Sư được mời đến phum, sróc hay gia đình để đọc kinh phải
là người đang tu học tại chùa, thể hiện được phẩm hạnh đạo đức tốt, thuộc các
bài kinh đọc trong các lễ cúng. Tùy thuộc vào yêu cầu trong lễ mà trụ trì sẽ
phân công vị sư có năng lực đến thực hiện lễ.
Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Khmer đã thể hiện những nét
tương đồng với tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Kinh tại địa phương như:
những thay đổi về qui định trách nhiệm thờ cúng, không áp đặt hình thức thờ
cúng của tộc người Khmer lên cá nhân người chịu trách nhiệm thờ cúng khi có
hiện tượng hôn nhân ngoại tộc, không bắt buộc tất cả các gia đình khi tổ chức
thờ cúng phải mời Achar hay các vị sư về tổ chức nghi lễ theo đúng truyền
thống. Sự dung hợp này tạo điều kiện thuận lợi cho việc giao thoa văn hóa của
tộc người đặc biệt là vấn đề hôn nhân.
2.4. Nghi lễ tang ma – dấu mốc chuyển đổi linh hồn người chết về với
Phật và tổ tiên
2.4.1. Tang ma - một thực hành nghi lễ đời người quan trọng của
người Khmer
Tang ma là dấu mốc để chuyển đổi linh hồn người chết về với Phật và tổ
tiên, đây cũng là dịp nhiều gia đình chính thức thiết lập bàn thờ tổ tiên. Trong
mỗi gia đình, gia tộc hay trong phum sróc, khi có người thân hoặc thành viên
qua đời, thì người còn lại có nghĩa vụ chuẩn bị lễ tang (Bânh sóp), tùy theo điều
kiện từng gia đình mà đưa ra quyết định về quy mô của tang lễ.
78
Tuy nhiên, đối với những trường hợp chết do tai nạn ngoài ý muốn hoặc
trẻ nhỏ thì tang lễ chỉ tổ chức trong một buổi gọi là Thvơ bon Ma Căn Rây. Vì
theo quan niệm của người Khmer những trường hợp như vậy là do xấu số, nên
không nên để xác lâu trong gia đình. Chính vì vậy tang lễ chỉ tổ chức khâm
liệm, đọc kinh cầu siêu sau đó di quan đi chôn hoặc đi hỏa táng. Đối với những
người đã đủ tuổi vị thành niên nhưng chết trước khi lập gia đình thì tùy thuộc
vào quyết định của cha mẹ để tổ chức tang lễ. Nếu người mất là vị cao niên
(chết đúng tuổi), hoặc người có chức sắc, thì tang lễ được cộng đồng chung sức
tổ chức ở quy mô lớn, nghi thức lễ tiết phức tạp hơn.
Tang lễ của người Khmer thường được người thân tổ chức theo phong
tục truyền thống để tạo phước cho linh hồn người mất. Bên cạnh đó, việc tổ
chức tang ma cho người chết cũng được coi như là nghi lễ chuyển tiếp để linh
hồn người chết trở thành tổ tiên, từ đây họ được thờ cúng trên ban thờ, được
nhận “phước” từ con cháu với tư cách “tổ tiên”. Nói cách khác, tang ma của
người Khmer là tổng hợp của nghi lễ Phật giáo (đưa linh hồn người chết về với
Phật) và nghi lễ thờ cúng tổ tiên (đưa linh hồn người chết về với tổ tiên).
Với ý nghĩa như vậy nên trong thực hành nghi lễ tang ma, người Khmer
có khá nhiều kiêng kỵ:
Thứ nhất là việc sát sinh. Đây là kiêng kỵ tuân theo qui định trong giới
luật của Phật giáo Nam tông. Theo đó, Phật giáo Nam tông coi sát sinh là tạo
một tội nghiệp. Các vị sư sãi trong chùa bị nghiêm cấm sát sinh đối với động
vật, trong các truyền thuyết của Phật giáo cũng không ít lần nhắc đến vấn đề
quả báo của việc sát sinh. Trong tang lễ của người Khmer họ kiêng kỵ việc sát
sinh là để tạo phước cho người đã chết. Kiêng kỵ này được người Khmer hiểu
rằng: “Nếu sát sinh động vật để làm thức ăn tiếp đãi khách trong quá trình tổ
chức tang lễ thì người chết sẽ mang tội vì nguyên nhân để dẫn đến việc sát sinh
là do cái chết của người đang được tổ chức tang lễ” (dẫn theo lời của Achar
K.S.S ở huyện Trà Cú).
79
Thứ hai là việc nghiêm cấm các thức uống có cồn, cụ thể là rượu, bia.
Điều kiêng kỵ này cũng bắt nguồn từ qui định của Phật giáo và được giải thích
theo quan niệm của Phật giáo. Theo đó, trong giáo lý của đức Phật nghiêm cấm
các vị sư sãi sử dụng các loại rượu và chất gây khích thích vì các chất này dễ
làm con người nảy sinh dục tính và không kiểm soát được hành động của chính
mình, có thể làm cho con người không giữ được tâm tính mà vi phạm vào các
giới luật Phật qui. Trong tang lễ của người Khmer việc nghiêm cấm các loại
thức uống có cồn là để tránh những hành vi không kiểm soát của những người
tham dự làm ảnh hưởng đến linh hồn người chết và những hành vi không tôn
trọng người đã khuất.
Thứ ba là việc kiêng kỵ chuyện phòng the trong gia đình có tang. Trong gia
đình có tang sự thì tại gian nhà đặt bàn thờ người mất không được đặt giường ngủ
của các cặp vợ chồng. Nếu trong trường hợp không thể thay đổi được vị trí thì
nghiêm cấm các cặp vợ chồng sinh hoạt phòng the. Họ cho rằng khi người chết
qua đời đã đi đảnh lễ đức Phật và chịu sự qui định của đức Phật nên đã trở thành
linh hồn của Phật môn. Do vậy, việc tác động của dục vọng làm mất đi sự tôn
nghiêm nơi ngự trị của linh hồn. Ngoài ra còn có những qui định cho từng buổi lễ
về thời gian, đối tượng và cách thức thực hành nghi lễ. Những qui định này đại đa
số có liên quan mật thiết với các qui định của Phật giáo Nam tông.
Như chúng tôi đã trình bày, các Achar và các nhà sư là những người giữ
vai trò chính trong các thực hành nghi lễ của người Khmer. Khi gia đình có
người thân sắp qua đời, con cháu trong gia đình sẽ dùng một tấm màn vải
(không phân biệt màu) để che lại bàn thờ tổ tiên để tổ tiên không nhìn thấy cái
chết của con cháu mà xót thương. Sau đó chọn một bộ đồ mới để thay cho người
đang hấp hối. Đồng thời nhờ một người thân hoặc láng giềng trong phum, sróc
(phần lớn là nam tuổi trung niên) biết rõ lễ nghĩa mang lễ vật đi mờiBan đạo tỳ,
các vị Achar và thỉnh các vị đến tụng kinh “tiễn vong” và tổ chức các nghi lễ.
Ban đạo tỳ (gồm 4 vị, có thể là các vị Achar cũng có thể là người đã được
tu học trong chùa và hiểu biết nhiều lễ nghi, kinh Phật sau đó đã hoàn tục) được
80
mời sau khi người chết đã tắt thở. Ông Achar You Ky yêu cầu người nhà cầm
04 cây nến với 04 đoạn vải trắng đến nhà từng người để mời. Khi Ban đạo tỳ
đến nhà, ông Achar You Ky lần lượt đặt tên và giao nhiệm vụ cho các ông là:
Pichak Prap – canh giữ trần gian từ 06 giờ sáng đến 12 giờ trưa (ngồi ở
hướng Tây Bắc cạnh quan tài), Pichak Pram – canh giữ trần gian từ 12 giờ trưa
đến 18 giờ chiều(ngồi ở hướng Đông Nam cạnh quan tài), Pichak Thone – canh
giữ trần gian từ 18 giờ chiều đến 00 giờ đêm(ngồi ở hướng Đông Bắc cạnh
quan tài), Pichak Theane – canh giữ trần gian từ 00 giờ đêm đến 06 giờ sáng
hôm sau (ngồi ở hướng Tây Nam cạnh quan tài). Các vị này phải biết tụng các
bài kinh trong tang lễ và phải trực xuyên suốt trong thời gian diễn ra tang lễ.
2.4.2. Những thủ tục và lễ thức cơ bản trong tang ma
-Thủ tục và nghi lễ cho người hấp hối sắp qua đời
Sau khi có mặt tại gia đình có tang lễ, việc đầu tiên là Achar You Ky chỉ
đạo đặt người hấp hối trên một chiếc giường, chân hướng ra ngoài cửa. Nghi
thức này với ý nghĩa: Mong muốn cho vong và xác của người chết phải hướng
ngoại, không còn lưu luyến đến gia đình. Tiếp đến ông chỉ đạo con cháu chuẩn
bị cho người hấp hối bộ quần áo mới nhất và cho người treo một tấm tranh Phật
Thích Ca Mâu Ni ở phía trên đầu hoặc song song người hấp hối đang nằm.
Yêu cầu con cháu dựng lên một “Bàn thiên linh hồn”. Bàn thờ này được lập
để rước vong người đã khuất về hướng của Tổ tiên (hướng “Ysane” - Đông Bắc).
Bàn thờ được đặt quay lưng hướng Đông Bắc nhà đang ở và quay mặt về hướng
Tây Nam (hướng của Cha Trời, Mẹ Đất).
Cách bài trí bàn thiên linh hồn: Làm một cây thang bằng bẹ của tàu chuối
tươi có độ uốn cong theo hình dạng dây thả diều đặt đứng trên bàn thiên linh
hồn (nếu là nam, thì làm 7 nấc thang, và nữ thì làm 9 nấc thang), chân thang
được kết nối với người hấp hối bằng 1 sợi chỉ màu trắng buộc vào ba cây hương
trên lá “Trầu niệm” gọi là “Mlu-T’ruôi”. Trầu niệm được làm bằng 2 lá trầu
xếp xuôi, so đều và bằng nhau theo kiểu “âm – dương”, mỗi lá trầu được xếp
làm đôi có têm vôi, cau kết dính bằng 3 cây hương và cho người hấp hối cầm
81
lá trầu niệm. Sau đó tất cả con cháu và người thân trong gia đình phải ngồi xổm
quay mặt về bàn thiên linh hồn chắp tay đỡ sợi chỉ kết nối, liên tục niệm câu
“Budho Arahăm” mà không được khóc cho đến khi người hấp hối tắt hẳn hơi
thở. Người Khmer thực hiện nghi lễ này là để người thân tổ chức “rước vong”
của người đã khuất đến bàn thiên linh hồn để AChar You Ky “tiễn vong” về
nơi cực lạc mà không bị đọa xuống địa ngục (AChar You Ky niệm câu thần
chú: Bơk Thvea Kâng (mở cửa thiên) – Bắch Thvea Nô ruôk (đóng cửa địa
ngục). Theo quan niệm của người Khmer, việc làm này sẽ đóng được cửa địa
ngục trong vòng 09 ngày (nước bạn Campuchia là 07 ngày) để các con cháu
tạo thêm phước cho người đã khuất siêu thoát nơi cực lạc nên ngoài việc lưu
giữ xác của người thân để làm tang lễ sau đó mang đi hỏa táng hoặc địa táng,
gia đình có tổ chức thêm rất nhiều lễ trong thời gian 09 ngày đó với mong ước
người thân của mình sẽ siêu thoát nơi cực lạc và đặc biệt là được lên đảnh lễ
“Chôla Mani Chêtyek” là Bảo tháp Xá lợi Thất trên Thiên đình.
Trên bàn thiên linh hồn phải có những lễ vật dâng cúng như: 01 chiếc
khay thắp 5 cây nến (nến sáp ong thật không được sử dụng nến có sẵn mua
ngoài thị trường), một cây nến to cắm ở giữa khay với ý nghĩa ngọn lửa đang
cháy nhỏ nhoi giữa bầu trời bao la luôn bị giông tố lay động tứ bề tượng trưng
cho cuộc sống con người đang hấp hối ở giữa trần gian, 04 cây nhỏ cắm 04 gốc
khay - tượng trưng cho sinh linh 04 hướng: “đông, tây, nam, bắc” ai cũng phải
đi đến cái kết là phải đón nhận cái chết để linh hồn về với tổ tiên. 09 cái Sla
Thor (khay hình vuông) và 09 ly nước ướp hương thơm để 09 hướng cùng với
bông hoa, hương đèn,... xếp thành bài vị để rước vong linh người chết về với trời
Phật. Khi tiếng trống báo tử vang lên, cây nến to nhất trong khay phải được ông
Achar tắt hoàn toàn để báo hiệu người đã khuất, còn 04 cây nến nhỏ để tự gió tắt
hoặc tàn tự do và bàn thiên linh hồn cũng phải tháo dỡ để dựng bàn Chư thiên
(bàn bài trí các lễ vật trong các lễ cúng tiếp theo) làm tang lễ ngay cùng vị trí.
Achar You Ky dùng 06 mảnh vải trắng hoặc giấy trắng để viết chữ Pali
(gọi là “Char - Opor Bats”), Char - Opor Bats này để đặt lên 06 vị trí được gọi
82
là 6 cửa trên thân người chết. Các tấm vải hoặc giấy này nhằm mục đích để
người mất mang theo đầy đủ 6 cửa trên cơ thể mình để đầu thai. Sau đó ông
Achar yêu cầu người thân trong gia đình cắt 6 cây cờ vong hình nhân đặt 2 bên
tai, 2 cánh tay và 2 bên chân. Nghi thức này nói lên ý nghĩa thể xác của con
người khi còn sống luôn là một màu trắng và luôn được bản thân cũng như
người thân che chở, tôn kính và quí mến. Đến khi chết nó chỉ là một thể xác vô
tri, vô giác mà người còn lại phải đem đi thiêu hoặc chôn để tránh bị ô nhiễm
phum sróc, ô nhiễm cho người còn sống và ô nhiễm cho xã hội,...
Tiếp đến ông Achar You Ky yêu cầu người trong gia đình sắp xếp 04
chiếc ghế cho 04 vị sư ngồi đối diện quay mặt vào người hấp hối để tụng kinh
hóa độ. Tại vị trí của mỗi vị sư có 01 bài vị là 01 chiếc khay gọi là “M’rông”
và ướp chậu nước thơm có đặt là trầu bên trong để các vị sư rải nước lên người
hấp hối khi tụng kinh. Bốn vị sư có nhiệm vụ tụng bộ kinh Aphi Dhama (Bộ
kinh của Đức Phật đi hóa độ Thân mẫu trên Thiên đình khi Ngài còn tại thế).
Khi người hấp hối ngưng thở, ông Achar sẽ dùng một mảnh vải trắng đặt lên
mặt người chết.
- Thủ tục và nghi lễ khâm liệm phần xác
Sau khi kiểm tra người hấp hối đã thật sự chết, ông Achar Bon Sop yêu cầu
dàn nhạc đánh một hồi trống báo tử. Tiếp đến ông yêu cầu người nhà chuẩn bị 1
mâm cơm cúng thần Arăk, 1 mâm cơm cúng thần Neak-ta để xin địa điểm làm
tang lễ và họp với gia chủ để thống nhất kế hoạch và qui mô làm lễ tang. Achar
You Ky yêu cầu người nhà chuẩn bị: vải tang (người Khmer không sử dụng áo
tang), xem giờ động quan, di quan. Gia đình chuẩn bị bàn ghế, thức ăn, nước uống,
chỗ ngồi để tiếp đón bà con thân thuộc và bạn bè đến viếng chia buồn.
Gần đến giờ khâm liệm ông Achar Bon Sop yêu cầu người nhà chuẩn bị
một khay gồm: hương, đèn, 02 chén nước ướp hoa, 02 lá trầu không. Sau đó
cho mời tất con cháu và người thân trong gia đình, bao gồm cả học trò, (nếu
người chết là thầy dạy chữ hoặc dạy kinh, dạy võ...) đến bên cạnh xác người
mất. Dưới sự hướng dẫn của ông Achar, gia đình cử một người bế khay lễ vật
83
quỳ xuống đất mặt hướng về xác người mất, tất cả những người còn lại quỳ
phía sau lưng hoặc xung quanh để ông hướng dẫn mọi người nói những xin lỗi
và những lời nói tốt lành đến người đã khuất. Khi người thân nói xong, vị Achar
đọc lời dẫn nhằm nhắc nhở linh hồn tìm đến đảnh lễ đức Phật.
Sau đó ông Achar đọc một bài kinh sám hối [P2] để con cháu và những
người còn sống tạ lỗi với người đã mất, mở khăn che mặt để mọi người nhìn
mặt lần cuối trước khi khâm liệm. Tiếp đến mỗi người thân trong gia đình thay
phiên nhau đến khay lễ vật lấy lá trầu thấm nước ướp hoa rồi thoa lên chân
người mất mong chết hãy tha thứ tội lỗi. Sau đó họ chắp tay lạy người chết ba
lần để kết thúc lễ. Người Khmer thực hiện nghi lễ này để linh hồn người mất
sớm được tái sinh (đi đầu thai) nơi cực lạc mà không bị đọa vào địa ngục. Nói
xong, vị Achar Bon Sop kéo khăn đậy kín mặt người đã khuất lại và cho người
thân xá 3 xá lần cuối.
Khi đến giờ khâm liệm AChar You Ky chỉ huy cho 04 vị Đạo tỳ (Pluk)
đứng 04 góc xung quanh xác và đốt “đuốc” được làm từ “đèn cầy và nhang”
(nam 7, nữ 9 ngọn đuốc). AChar You Ky chuẩn bị “ba nút thắt cõi trần” được
kết bằng 3 sợi chỉ trắng kết dính với 3 cặp “lá trầu niệm” để buộc lên xác người
chết tại ba vị trí: cổ, cánh tay và chân: nút thắt ngay cổ (Chom non Kor) là nút
đại diện cho của cải vật chất; nút thắt ở đoạn 2 tay (Chom non Đay) là nút đại
diện cho tình duyên; nút thắt ở đoạn nữa 2 chân (Chom non Chơn) là nút đại
diện cho sự vướng bận con cháu. Ba nút thắt này nhằm khuyên linh hồn đừng
oán trách cuộc sống đã qua. Nếu gia đình nào chọn hình thức địa táng cho người
mất thì mặc thêm áo quan cho người chết sau đó dùng túi nhựa bó xác người
chết để chống thấm, lâu phân hủy. Bốn ông Đạo tỳ quay trở lại chiếc hòm đặt
một chiếc chiếu mới và một số quần áo của người mất vào đó sao cho bằng
phẳng để khi đặt người chết vào được thẳng. Tiếp đến ông Achar Bon Sop 1
tay cầm các bó đuốc, tay kia cầm cây “gậy âm” đứng ở đầu hòm chỉ đạo Ban
đạo tỳ khâm liệm. Bốn ông đạo tỳ tiến đến cùng nâng xác người mất đặt vào
84
hòm. Lúc này con cháu và người thân trong gia đình được đứng xung quanh để
chứng kiến và cầu nguyện những điều tốt đẹp nhất cho vong linh người mất.
Khi xác đã được đặt vào hòm, con cháu mang quần áo và các vật dụng lúc
sinh thời người mất sử dụng đến để ban Đạo tỳ đặt lên trên xác người chết (người
Khmer tin rằng linh hồn cũng có những sinh hoạt như lúc còn sống). Một số gia
đình có điều kiện có thể đổ thêm xác trà, dầu gió và dầu thơm lên xác người chết
để tránh mùi hôi trong tang lễ. Sau đó ông Achar Bon Sop cầm bó đuốc đi 3
vòng quanh hòm và nhỏ những giọt sáp xuống đất gọi là Pot xây ma (để đánh
dấu ranh giới giữa xác và hồn ma bên ngoài, tránh các hồn ma xâm nhập vào
xác). Cuối cùng AChar You Ky cầm búa đóng đinh 4 góc hòm đầu tiên, vừa
đóng, vừa niệm chú, sau đó giao cho Ban đạo tỳ cùng với gia đình thực hiện các
bước còn lại để trang trí quan tài.
Tang lễ trải qua nhiều lễ thức cho người chết như: Lễ cúng Tổ nghiệp
của A Char You Ky (L’ây tean T’Bôn), Lễ cúng thần, Lễ cúng Chư thiên
(Têvôđa), Lễ cầu siêu, Lễ bái Tam bảo, An vị Phật. Trong các lễ đều phải đọc
các bài kinh khác nhau.
- Lễ di quan, hỏa táng
Thời gian bắt đầu làm lễ tùy thuộc vào thời gian đã được gia đình và
Achar xem trước theo tuổi của người mất. Khi đến giờ di quan, A Char You Ky
yêu cầu gia đình cử 04 người để mang các mâm lễ khi thực hiện di quan gồm:
Thứ nhất, người con lớn nhất hoặc em của người mất: Tuôl Tean T’Bôn
(đội thúng tổ Achar You Ky)
Thứ hai, người trực tiếp thờ cúng: Tuôl Chơn Thúp (đội bát hương);
Thứ ba, con hoặc cháu trai của người mất: Praileak (dẫn đường);
Thứ tư, con hoặc cháu trai của người mất: Buôs Muk P’Lơn (ôm bộ “áo
cà sa” tu trả ơn), nếu đi chôn thì không có người này.
Achar Bon Sop đứng trước quan tài đọc tiểu sử người đã khuất và lời cảm
tạ, hướng dẫn tất cả các thành viên trong gia đình đứng trước quan tài, mặt hướng
ra ngoài trước cúi đầu để tạ ơn các vị sư sãi và mọi người đến chia buồn cùng
85
gia đình. Sau đó, A Char You Ky mời 01 vị sư làm lễ Đas BoKol – lễ thuyết
giảng về ý nghĩa của cái chết trải qua 03 giai đoạn (03 ngày, 07 ngày và 09 ngày)
để người còn sống thức tỉnh và biết cách làm điều lành trả ơn. Tiếp đến, 4 vị Đạo
tỳ tiến đến đứng ở 04 góc quan tài để làm lễ Bon quâl PuôPil (Lễ xuất quân hay
là lễ kêu vong đến điểm an táng). Khi Achar Bon Sop thông báo bắt đầu di quan,
Achar You Ky bước ra trước quan tài mang theo cờ hồn, tiếp đến là người đội
thúng lễ tổ, người đội bát hương, người dẫn đường, người ôm áo cà sa, 4 ông sư
vừa đi vừa tụng kinh, con cháu trong gia đình được cử làm nhiệm vụ rải bông
gòn, quan tài được 4 vị Đạo tỳ khiêng và cuối cùng là con cháu hoặc người thân
xóm giềng tiễn đưa.
Khi đến nơi hoả táng hoặc chôn, tất cả đều phải đi 3 vòng quanh lò hỏa
táng hoặc huyệt chôn cất sau đó đội Đạo tỳ được phép đặt quan tài xuống, quay
đầu xác về hướng đông. Theo quan niệm truyền thống của người Khmer: “Đây
được ví là nơi địa phủ, lễ này chúng tôi muốn trình diện với quý vị là chúng tôi
có người thân làm lễ Quy y báu hiếu, cầu xin quý Ngài chứng kiến và siêu độ
cho vong linh người thân của chúng tôi được sớm lên đảnh lễ đức Phật và sớm
được siêu thoát nơi nhàn cảnh. Mặt khác, đây là nơi để chúng tôi làm lễ (hỏa
táng hoặc chôn cất) người thân, tất cả các âm binh cô hồn đang lưu lạc đâu đó...
nếu có đến gần cũng không được xâm nhập vòng nhiễu hành này để người thân
chúng tôi được yên nghỉ vì đây là “thây ma” được chúng tôi định vị bằng kinh
Phật”.(dẫn theo lời của Achar S.S.K ở ấp Tắc Hố, xã Ngọc Biên, huyện Trà Cú).
Sau khi Achar You Ky làm các lễ cúng Thổ địa và Thần lửa, lễ hỏa thiêu
chính thức bắt đầu. Khi lửa đã cháy đều khắp quan tài, con cháu được phép rời
khỏi nơi hoả táng quay về gia đình. Khi công việc thiêu đã hoàn tất, Achar You
Ky và 04 ông Đạo tỳ làm lễ định hình để cho con cháu nhặt tro cốt. Trong
trường hợp địa táng, sau khi đi vòng quanh huyệt 3 vòng quan tài sẽ được đặt
quay đầu về hướng đông sau đó được đưa xuống huyệt. Mỗi người thân trong
gia đình lấy một nắm đất đặt vào trong huyệt rồi quay trở về nhà.
86
- Lập bàn thờ vong và các thủ tục nghi lễ sau đám tang
Bàn thờ vong được lập sau khi người thân đưa quan tài của người mất đi
hỏa táng. Sau khi thực hiện Lễ hỏa táng trở về, Ông Achar Bon Sop chỉ đạo các
thành viên khác trong gia đình lập bàn thờ vong (bàn thờ tạm) cho người đã
khuất. Bàn thờ là một chiếc bàn nhỏ đặt tránh cửa chính của ngôi nhà. Di ảnh
và bát hương của người mất sẽ được đặt lên bàn thờ vong này. Achar Bon Sop
chỉ đạo cho người thân chuẩn bị sẵn 1 mâm cơm và 1 chung rượu gọi là “Keo
pon luôk” (Chung tửu ngọc) để xin đổi lấy tro cốt từ tay Achar You Ky và 04
vị Đạo tỳ. Khi các ông này mang tro cốt về đến cửa nhà, người chịu trách nhiệm
thờ cúng sẽ mang mâm cơm và chung rượu ra dâng lên các vị này với ý nghĩa
xin đổi lấy tro cốt của người đã khuất. Ngoài ra gia đình cần chuẩn bị 01 chậu
nước ướp hoa và hương thơm để Achar You Ky, Đạo tỳ và tất cả người thân
tham gia lễ hỏa thiêu rửa tay, rửa mặt để tránh đi những điều không may về sau.
Sau khi nhận tro cốt đặt lên bàn thờ vong. Achar Bon Sop yêu cầu gia
đình chuẩn bị 01 chiếc khay có các đoạn vải trắng và phong bì chứa tiền (tùy
theo khả năng của gia đình) để làm lễ tạ ơn A Char You Ky, 04 vị Đạo tỳ và
Ban nhạc lễ đồng thời chúc cho họ không gặp những chuyện không may cũng
như tai tiếng trong cuộc sống.
Sau đám tang, ở người Khmer có hai nghi lễ quan trọng là lễ dâng phước
cho người chết và lễ mãn tang.
Khi người chết được bảy ngày (đối với người chưa lập gia đình) hay chín
ngày (đối với người đã lập gia đình) gia đình làm lễ dâng phước cho linh hồn
(một số địa phương còn gọi là lễ giỗ bảy ngày hoặc lễ giỗ chín ngày). Mục đích
của lễ này là nhằm tạo phước cho linh hồn người chết để họ được sớm đầu thai.
Sau khi người thân mất được 100 ngày gia đình chịu trách nhiệm thờ cúng sẽ
tổ chức lễ mãn tang hay còn gọi là đám giỗ 100 ngày để nhớ ơn và tạo phước
lành dâng cho linh hồn người đã khuất (mục đích là mời nhà sư đến thay thế
cho đức Phật tạo phước và tiếp dẫn vong linh được đi đầu thai).
87
Như vậy, sau tang lễ người Khmer vẫn quan niệm rằng linh hồn chưa
thật sự về với ông bà tổ tiên, con cháu có nhiệm vụ chăm sóc cho linh hồn thông
qua việc tổ chức tụng kinh tạo phước cho linh hồn. Con cháu vẫn còn gắn bó
với linh hồn ông bà thông qua những kiêng kỵ khi còn mang tang. Lễ mãn tang
với sự xuất hiện của các vị sư và phong tục vẩy nước cầu an cho con cháu xem
như một thông báo về sự giải thoát của linh hồn về với tổ tiên để họ được sớm
siêu thoát, con cháu không phải vấn vương linh hồn người đã khuất mà chuyển
sang một nhiệm vụ khác là thể hiện lòng hiếu kính với tổ tiên nguồn cội. Sau
lễ mãn tang, linh hồn người mất đã được xác lập cùng với tổ tiên thông qua
việc thờ chung một bàn thờ và không còn tổ chức cúng riêng cho từng linh hồn.
2.5. Thực hành nghi lễ thờ cúng tổ tiên
2.5.1. Thực hành nghi lễ thờ cúng hằng ngày
Trong cuộc sống thường nhật, người Khmer thể hiện sự tôn kính tổ tiên
qua việc thắp hương. Mỗi ngày gia đình thắp hương cho bàn thờ tổ tiên hai lần
vào buổi sáng sớm và buổi chiều tối. Theo Achar D.S thì “Việc thắp hương
trên bàn thờ tổ tiên không phải câu nệ tôn ti trật tự trong gia đình, đến giờ thắp
hương ai thấy mình không có việc gì làm thì chủ động đi thắp hương cho ông
bà”. Như vậy, việc thắp hương không phân chia thứ bậc quyền hạn của các
thành viên trong gia đình. Quan sát lư hương của một số gia đình tại huyện Trà
Cú cho thấy nếu tính từ mùa Đôlta năm trước đến thờ điểm được khảo sát thì
số lượng chân hương còn rất ít. Khi được phỏng vấn về vấn đề qui định thắp
hương trên bàn thờ tổ tiên ông T.S.B cho biết “gia đình mỗi ngày chỉ thắp
hương một lần” còn theo anh K.T.T “cả hai vợ chồng đều đi làm từ sớm nên
chiều về mới thắp hương bàn thờ, đôi khi tăng ca về trễ cũng không thắp
hương” cũng theo anh “ông bà cũng thương con cháu nên không trách đâu”.
Vấn đề số lượt thắp hương trên bàn thờ này chúng tôi nhận được ý kiến của Sư
T.N.R trụ trì chùa Kompong Sla như sau “Việc thắp hương trên bàn thờ là để
nhắc nhở con cháu nhớ đến ông bà của mình, ngày xưa qui định ngày thắp 2
lần để vào sáng sớm con cháu phải nhớ tới ông bà và chiều tối cũng vậy. Nhưng
88
sự thật thì vấn đề con cháu có lòng để nhớ ông bà và làm việc thiện hay không
mới quan trọng. Bây giờ thắp hương ngày một lần là do ảnh hưởng từ người
Kinh là chủ yếu. Thắp mấy lần cũng được vì việc thắp hương không tạo phước
cho ông bà mà quan trọng là việc làm tạo phước”.
Khi người Khmer thắp hương sẽ hành lễ từ trên xuống. Nghĩa là phải
hành lễ Phật đến các vị sư và cuối cùng là tổ tiên (Nếu bàn thờ tổ tiên được bố
trí riêng họ đến thắp hương tại mỗi bàn thờ xá 3 xá, nếu bàn thờ chỉ bố trí một
bát hương thì họ chỉ thắp hương trên cùng một bát hương nhưng hành lễ ba
lần). Khi thắp hương có người cầu khấn cho ông bà mình sớm được siêu thoát,
có người xin ông bà tổ tiên phù hộ cho gia đình mạnh khỏe hoặc chỉ thắp hương
mà không cầu khấn gì. Người Kinh ở đây cũng thắp hương cho ông bà vào buổi
chiều tối hàng ngày để cầu mong nhận được sự phù hộ từ ông bà.
Qua phỏng vấn, vào các dịp gia đình có tin vui như trúng mùa, buôn bán
có lãi, gặp điều may mắn, gia chủ (người chịu trách nhiệm thờ cúng) sẽ sửa
soạn một mâm cơm đặt lên bàn thờ tổ tiên sau đó đến thắp hương trình báo với
tổ tiên về nguyên nhân tổ chức ngày vui của gia đình và mời họ về dùng cơm
chung vui cùng con cháu.
Đặc biệt là khi gia đình có lễ cưới. Vào ngày nhóm họ, gia chủ sẽ cử
người nhà trang hoàng lại bàn thờ Phật và bàn thờ tổ tiên. Người này sẽ dùng
khăn sạch thấm nước ướp nhang và hương hoa để lau tượng hoặc ảnh của đức
Phật, lau dọn bàn thờ Phật cho sạch đẹp, sau đó đến di ảnh của tổ tiên và cuối
cùng là bàn thờ. Tiếp đến là cắm hoa và bày các đĩa trái cây lên bàn thờ (mỗi
bàn thờ một bình hoa và một đĩa trái cây không phân biệt vị trí đặt cũng như số
lượng các lễ vật này). Gia đình nào có điều kiện thì có thể đặt thêm bánh, nước
ngọt các loại. Vào buổi tối (thường 19 giờ đến 20 giờ) gia đình mời sư trên
chùa về tụng kinh cầu phúc cho cô dâu (họ nhà gái) hoặc chú rể (họ nhà trai).
Khi đến giờ làm lễ, cha hoặc mẹ (chủ lễ) sẽ nhắc cô dâu (hoặc chú rể) chỉnh
trang lại trang phục để làm lễ, một thành viên khác trong gia đình sẽ soạn một
mâm cơm đặt lên bàn thờ tổ tiên để chủ lễ thắp hương trình lên ông bà với nội
89
dung “hôm nay là ngày tổ chức hôn lễ cho (tên người được tổ chức hôn lễ) kính
mong ông bà tổ tiên về chung vui và phò hộ cho con cháu được hạnh phúc”.
Sau đó cô dâu (hoặc chú rể) sẽ đến bàn thờ xá ông bà tổ tiên 3 xá rồi đến chắp
2 tay quỳ trước mặt nhà sư. Ông sư sẽ được bố trí ngồi trên ghế hoặc trên giường
(trước mặt ông gia đình phải chuẩn bị một chậu nước sạch được ướp với hoa
thơm và nhanh, bên trong có để một nhành hoa) để người được cử hành hôn lễ
quỳ thấp hơn một bậc. Trước sự chứng kiến của các thành viên còn lại trong gia
đình ông sư đọc một bài kinh cầu phúc để chúc phúc cho gia đình và người được
cử hành hôn lễ. Khi kết thúc bài kinh ông sư dùng nhành hoa thấm nước trong
chậu vẩy lên người được cử hành hôn lễ để cầu phúc cho họ và kết thúc buổi lễ.
Đến ngày rước dâu, các lễ vật mà họ nhà trai mang sang được gia đình
họ nhà gái tiếp nhận và lấy ở mỗi phần một ít đặt lên bàn thờ, sau đó cô dâu
chú rể cùng xá 3 xá để tỏ lòng tạ ơn tổ tiên. Theo Achar D.B “Do ngày nay đám
cưới của người Khmer tổ chức tương tự như người Kinh nên đã giảm bớt đi rất
nhiều nghi lễ tạ ơn ông bà cũng như việc ra mắt của chú rễ đối với ông bà tổ
tiên họ nhà gái”.
Tuy nhiên, khi trong gia đình đang tổ chức tang ma thì tất cả các nghi lễ
cúng tổ tiên đều không được thực hiện bởi vì gia đình đã có chuyện buồn nên
không muốn tổ tiên phải buồn theo con cháu. Ngoài những nghi thức thờ cúng
tổ tiên hằng ngày, người Khmer ở Trà Vinh còn tổ chức cúng tổ tiên vào các
dịp lễ tết trong năm để thể hiện lòng hiếu thảo cũng như việc tạo phước cho tổ
tiên. Tùy theo ý nghĩa của các lễ mà mức độ và nghi thức tổ chức cúng tổ tiên
có sự khác nhau.
2.5.2. Lễ Chôl Chnăm Thmây (lễ vào năm mới hay lễ chịu tuổi)
Đây là lễ đón năm mới của người Khmer. Ở Trà Vinh, người Khmer tổ
chức đón năm mới vào cuối tháng 4 (theo Phật lịch). Đây là lúc thời gian khô
ráo, mùa màng đã gặt hái xong, mọi người không bận công việc nên có nhiều
thời gian vui chơi giải trí. Lễ này được kéo dài trong ba ngày. Ngày đầu của
năm được tính chính xác là ngày 13 tháng 4 dương lịch. Ngày đầu tiên của năm
90
mới gọi là “Chôl Sangkran Thmây”, ngày thứ hai gọi là “Wonbơt”, ngày thứ
ba gọi là “Lơm Săk”. Lễ Chôl Chnăm Thmây còn được người Khmer gọi là “lễ
chịu tuổi” bởi trong quan niệm dân gian họ không tính tuổi của mỗi người theo
năm âm lịch hay năm dương mà tính theo lịch “Maha Sangkran” (một loại lịch
riêng của người Khmer được tính theo Phật lịch)
Trong những ngày này, bàn thờ tổ tiên phải được trang hoàng cho thật
đẹp, bài trí bánh trái, hoa quả để cúng cho ông bà trong dịp năm mới. Anh
T.X.V (45 tuổi) ở ấp Dòng Lức, xã Đa Lộc, huyện Châu Thành cho rằng “Chôl
Chnăm Thmây là lễ để mình chịu thêm một tuổi nên phải cúng ông bà để ông
bà về mừng cho mình đồng thời là dịp để làm phước cho ông bà và cho mình”.
Làm phước ở đây được hiểu là các công việc như: có mặt ở chùa để ông bà vui,
thăm hỏi đời sống của các vị sư sãi, cúng dường, dọn dẹp chùa,…
Ba ngày lễ chính của năm mới được tiến hành như sau:
Ngày thứ nhất (13/4): Sáng sớm, gia đình chuẩn bị một mâm cơm (tùy
theo điều kiện của gia đình) sau đó đặt lên bàn thờ tổ tiên, một số gia đình có
điều kiện thì bài trí thêm những vật phẩm khác. Người chịu trách nhiệm thờ
cúng trong gia đình sẽ đến thắp hương bàn thờ Phật, các vị sư rồi đến thắp
hương bàn thờ tổ tiên. Trong lúc thắp hương gia chủ mời ông bà tổ tiên về
chung vui với con cháu vào dịp đón năm mới. Sau khi cúng ông bà tổ tiên, mỗi
cá nhân trong gia đình đi tắm gội, mặc quần áo mới mang theo hương, đèn, lễ
vật vào chùa để làm lễ rước lịch “Maha Sangkran” mới. Sau khi rước Maha
Sangkran mọi người vào lễ Phật đọc kinh mừng năm mới. Đêm đến, nhiều
người ở lại chùa nghe nhà sư thuyết pháp, còn thanh niên nam nữ ra sân chùa
xem múa hát hoặc tham gia các trò chơi.
Ngày thứ hai (14/4): Trong ngày này, người Khmer làm lễ dâng cơm sớm
và trưa cho các vị sư sãi gọi là “Ween chông ham”. Theo tục lệ nhà chùa thì vào
sóc, vọng hay ngày lễ, các tín đồ đi chùa lễ Phật, và cùng góp phần thể hiện sự
chăm lo cho cuộc sống của các vị sư sãi. Hành động này được người Khmer xem
như một cơ hội để họ tích tạo phước đức cho ông bà và cho chính bản thân mình.
91
Chính vì vậy, trước khi dùng cơm, các vị sư sãi đọc kinh để tạ ơn những người đã
làm ra thức ăn, đồng thời đưa thức ăn đến với các linh hồn bị thiếu đói. Sau khi
ăn, các vị sư đọc kinh chúc phúc cho những người đã mang thức ăn đến nhà chùa.
Trong buổi chiều, người ta tổ chức lễ đắp núi cát gọi là “Puôn phnon khsach”.
Ngày thứ ba (15/4): Sau khi dâng cơm sáng và trưa cho các vị sư, mọi
người mang (1 khay nước sạch ướp hương hoa nguyệt quế và nhang thơm “tưk
oop” cùng hương đèn đến các bàn thờ Phật trong chùa để làm lễ tắm tượng
Phật. Trước khi kết thúc lễ tại chùa, họ mời các vị sư đến các tháp có đặt hài cốt,
hoặc đến các nghĩa trang, mộ lẻ để thắp hương, đọc kinh cầu siêu gọi là “băng
Skôi” cho vong linh những người quá cố. Sau đó họ trở về nhà, nếu tại gia đình
có tượng Phật thì họ sẽ làm lễ tắm tượng Phật, sau đó họ mời ông bà, cha mẹ
đến bàn giữa của ngôi nhà ngồi trên ghế, mặt quay ra của chính để con cháu
quỳ trước mặt xin tha thứ những tội lỗi, thiếu sót trong năm cũ và dâng bánh
hoặc trái lên cha mẹ. Theo anh T.S.V thì “tục mời cha mẹ đến bàn giữa để tạ
lỗi còn rất ít chủ yếu là mời cha mẹ đến bàn giữa để con cháu trong gia đình
chúc sức khỏe và lì xì cho ông bà vào dịp năm mới để con cháu lấy lộc”. Sự
biến đổi của tục này có nét tương đồng với tục mừng tuổi cho ông bà cha mẹ
của người Kinh và người Hoa trên địa bàn nghiên cứu vào dịp tết Nguyên đán.
Như vậy, lễ Chôl Chnăm Thmây không chỉ dừng lại ở ý nghĩa như một
lễ tết để vui mừng đón năm mới mà đó còn là dịp để con cháu thể hiện lòng
hiếu thảo, sự quan tâm đối với ông bà cha mẹ còn đang sống và cũng là dịp để
con cháu thực hiện những nghi lễ nhằm mục đích tích tạo công đức cho ông bà
tổ tiên đã khuất.
2.5.3. Lễ cúng tổ tiên thường niên (Sel Đôlta)
Trong một năm, tất cả các gia đình người Khmer ở Trà Vinh tổ chức cúng
ông bà rất long trọng nhằm các ngày 28, 29, 30 tháng 8 âm lịch (Thời gian này
có thể bị lệch 1 vài ngày vì tuỳ thuộc vào lịch “Maha Sangkran” của người
Khmer) gọi là lễ Đôlta (Sel Đôlta). Tuy nhiên việc tổ chức lễ Đôlta ở những gia
đình có sự khác nhau về cách thức cũng như thời gian tổ chức. Từ kết quả khảo
92
sát lễ Đôlta tại nhà anh T.P (42 tuổi, con út của gia đình) ở ấp Trà Tro B, xã Hàm
Giang, huyện Trà Cú cho thấy lễ này được thực hiện với những bước cơ bản theo
truyền thống như sau:
Ngày thứ nhất (28/8): Anh T.P phân công người nhà dọn dẹp bàn thờ tổ
tiên, nhà cửa. Vợ anh hoặc con gái đi chợ mua những lễ vật cần thiết như: Trái
cây, bánh ngọt, trà, chiếu, gối, chăn,... cùng các loại thực phẩm để làm mâm
cơm cúng tổ tiên và đủ để đãi anh em thân thuộc về dự. Sau đó tự tay anh sắp
xếp các lễ vật cúng ông bà như trà, bánh hay các vật phẩm giá trị khác lên bàn
thờ. Các vật phẩm này không bắt buộc số lượng cũng như chủng loại mà tùy
thuộc vào điều kiện của mỗi gia đình. Mâm cơm cúng chuẩn bị xong sẽ được
anh đặt lên chiếc bàn giữa của ngôi nhà sau đó anh mời cha mình và gọi tất mọi
người đang có mặt trong gia đình đến ngồi xung quanh (không bắt buộc tất cả
các thành viên phải có mặt đầy đủ). Vị Achar (được anh T.P liên hệ nhờ từ
trước) được nhờ sẽ ngồi trước mâm cơm đọc lời khấn mời linh hồn tổ tiên về
nhà ăn uống, nghỉ ngơi và vui chơi. Vị Achar phải khấn đủ 3 lần, mỗi lần đều
phải rót trà và rượu. Tiếp đến, ông lấy thức ăn mỗi thứ một ít để vào một cái
bát, rót trà và rượu vào sau đó mang ra sân đổ vào một góc nào đó và cắm một
cây hương mời các ma quỉ ăn nhằm cảm ơn chúng đã đưa ông bà về nhà dự lễ
vui chơi và đưa ông bà đi sau kết thúc lễ. Người Khmer cho rằng khi linh hồn
chưa được siêu thoát sẽ có các ngạ quỉ đi theo canh giữ và giám sát linh hồn.
Tiếp theo, Achar quay trở lại mâm cơm đọc kinh cầu siêu cho ông bà
[P6]. Đối với những gia đình có điều kiện hơn sẽ thỉnh các vị sư trong chùa về
kết hợp với ông Achar để tổ chức lễ này cho thật long trọng để tạo phước lớn
cho ông bà đồng thời làm cho họ được vui và sớm được siêu thoát. Kết thúc
buổi lễ con cháu trong gia đình tập trung ăn cơm vui chơi, chúc tụng lẫn nhau.
Buổi chiều anh lại dọn một mâm cơm lên bàn thờ và mời ông bà dùng cơm.
Sau đó, các thành viên trong gia đình tắm gội, mặc quần áo mới đến trước bàn
thờ mời ông bà lên chùa để nghe kinh kệ, xem múa hát và hưởng phước từ con
cháu. Họ mang theo một số lễ vật như hương, đèn, bánh, trái cây lên chùa để
93
nhờ các sư sãi trong chùa tụng kinh cầu siêu cho linh hồn tổ tiên[P13]. Trong
ngày này anh T.P (chủ của gia đình) phải luôn có mặt ở gia đình để tiếp đãi
khách hoặc những thành viên trong thân tộc về cúng tổ tiên.
Ngày thứ hai (29/8): Anh và vợ dậy từ sớm chuẩn bị cơm trắng, một vài
món ăn, bánh ngọt, trái cây mang lên chùa cúng ông bà và mời các vị sư sãi
trong chùa sanh (ăn) để tạo phước cho tổ tiên. Ngoài ra họ còn chuẩn bị một số
lễ vật khác để nhờ các vị sư đọc kinh cầu an chuyển tới ông bà đã mất (thường
là bánh ngọt, thức uống hoặc các vật dụng để các vị sư sử dụng trong
chùa)[P14]. Đây được xem như là một biểu hiện của việc chăm lo cho đời sống
của các vị sư để tích tạo phước đức cho ông bà. Tại chùa, các gia đình mang
thức ăn và cơm đến nhà bếp của chùa để bày ra mâm chuẩn bị dâng cúng. Phần
lễ vật còn lại mang đến bàn các vị sư nhờ họ đọc kinh cầu siêu cho ông bà sau
đó gửi lại cho các vị sư sãi trong chùa sử dụng để tạo phước cho ông bà tổ tiên.
Tiếp đến họ đi thắp hương cho các bàn thờ Phật, đến các tháp cốt trong khuôn
viên chùa để thắp hương cho ông bà. Khi các mâm cơm đã được đặt lên bàn
thờ Phật, tất cả mọi người đang có mặt tập trung trước bàn thờ để cùng với vị
sư Cả đọc kinh cầu siêu cho linh hồn người đã mất. Người Khmer không phân
biệt tên tuổi dòng họ của tổ tiên khi đọc kinh cầu siêu nên họ xem đây là lời
kinh dành cho tất cả các linh hồn trong phum, sróc. Họ tin rằng khi các linh hồn
nghe được những lời kinh tiếng kệ sẽ biết đường về với đức Phật mà sớm được
siêu thoát. Sau khi đọc kinh xong họ đến các tháp cốt thắp hương và mời ông
bà tiếp tục về nhà vui chơi với con cháu thêm một đêm nữa. Khi đã đưa ông bà
về nhà xong, con cháu có thể tiếp tục đi viếng các chùa khác hoặc đến nhà của
người thân hoặc xóm giềng để chúc mừng ngày Đôlta. Buổi chiều mỗi gia đình
làm mâm cơm cúng ông bà và tổ chức vui chơi ca hát chúc tụng nhau.
Ngày thứ ba (30/8): Gia đình bày 1 mâm cơm như ngày thứ nhất, anh
xới bốn bát cơm đặt trên mâm mời ông bà ăn, sau khi khấn đủ ba lần anh lấy
thức ăn để vào bát nhưng không mang ra sân mà đổ vào một bè hoặc thuyền
được làm bằng bẹ chuối hoặc mo cau để ông bà mang theo ăn dọc đường cho
94
đến khi về lại nơi cũ. Trên thuyền trang trí các loại cờ cá sấu, cờ tam giác hoặc
giấy màu hình tắc kè,..Ngoài ra còn để thêm gạo, muối mè, lúa và các loại bánh
trái để ông bà, ma quỉ ăn trên đường về. Sau đó anh mang thuyền ra thả xuống
sông hoặc kênh rạch gần nhà. Những gia đình có điều kiện thì mời thêm các vị
sư về tụng kinh cho ông bà cho đến khi thuyền đi xa thật xa thì kết thúc.
Người Khmer tổ chức lễ Đôlta để cúng và cầu siêu cho tất cả ông bà tổ
tiên đã qua đời. Họ không quan niệm người mất trong vòng bao nhiêu đời thì
được về dự lễ Đôlta mà tất cả ông bà tổ tiên nếu ai chưa được siêu thoát thì sẽ
về lại nhà để nhận phước. Quan niệm là như vậy, nhưng đại đa số giới trẻ người
Khmer đều không biết vì sao lại có quan niệm đó. Thậm chí ông T.S.R (73 tuổi)
là cha của anh T.P chỉ cho chúng tôi được thông tin “ông bà xưa nói sao thì
nghe vậy chứ đâu biết”. Chúng tôi tìm đến các vị Achar thì được cho biết
“chuyện đó được các vị sư kể lại trong truyện Phật giáo”. Qua sưu tầm, chúng
tôi tìm được một truyền thuyết Phật giáo như sau: “92 kiếp trước, có hai Đức
Phật ra đời, là Đức Phật Tessa và Phật Bôssa. Phụ thân Đức Phật là quốc vương
Mahinta. Quốc vương này còn có 3 vị hoàng nam nữa. Một hôm ba vị hoàng
nam xin phụ vương đi cúng dường người anh cả tức Đức Phật Bôssa và 90.000
sư sãi, là bồ đề đệ tử của người, trong thời gian 3 tháng. Được phụ vương chấp
thuận 3 vị hoàng nam bèn giao việc chăm sóc cúng dường cho viên thư kí là
người giữ kho, còn 3 vị trong thời gian này cũng xuất gia đầu Phật. Viên thư
ký là người thủ kho phải huy động hàng ngàn người đầu bếp lo việc nấu nướng.
Việc cúng dường do người đầu bếp này đảm nhận ngày càng bê trễ và thiếu
thốn do họ ăn cắp, san sẻ để dành cho con cái, họ hàng, cho nên có lúc sư sãi
bị bỏ đói. Những tên đầu bếp này khi chết đi đều đầu thai làm quỷ ở cõi âm.
Riêng viên thủ kho thành ông phú hộ còn viên thư ký thành Quốc Vương Pinh-
pis-sara. Một hôm, vào lúc đêm khuya vắng, tại Hoàng cung của vua Pinh-pis-
sara bỗng vang lên tiếng gào khóc thảm thiết và tiếng kêu xin: “Hãy cho chúng
tôi ăn, cho chúng tôi uống, chúng tôi đói khát lắm”. Nhà vua sợ hảy bèn truyền
lệnh triệu tập các nhà tiên tri trong triều đình đến hỏi xem việc gì? Các nhà tiên
95
tri đều cho rằng đó là bọn ma quỉ đói khát đến xin ăn, nhà vua phải làm lễ cúng
tế. Quốc vương mới ngự giá đến chùa thỉnh ý Đức Phật Thích Ca. Ngài phán
rằng: “Đó là những đầu bếp thành quỉ cõi âm, phải nhịn ăn, nhịn uống, đến
nay là 92 kiếp. Nay biết ngài là chủ của họ, nên họ đến đòi ăn. Vậy ngài nên
cúng dường, dâng cơm cho các tu sĩ, nhờ ân đức và lời kinh của các vị này
chuyển phước đến bọn quỷ đó”. Nhà vua vâng ý Đức Phật. Bọn quỷ được ăn
uống no nê, được đầu thai kiếp khác sau khi chịu hình phạt về những tội mà
chúng đã làm ở kiếp trước” [12, tr. 53-54].
Qua đây cho thấy truyền thuyết trên đã giải thích được quan niệm về sự
tồn tại của linh hồn tổ tiên đồng thời cũng nói lên quan niệm về thời gian siêu
thoát của linh hồn tổ tiên phụ thuộc vào việc cúng dường Tam bảo của con cháu.
Về vấn đề siêu thoát của ông bà, người Khmer tin rằng không nhất thiết
là bao nhiêu lâu, thậm chí nếu ông bà đã tạo được nhiều phước trong lúc sinh
thời thì sau khi chết linh hồn đến đảnh lễ đức Phật có thể được siêu thoát ngay,
những linh hồn ông bà chưa đủ phước để siêu thoát thì phải chờ con cháu tích
phước. Trong việc tạo phước của người Khmer được thực hiện theo quan niệm
“hành thiện tích đức” của Phật giáo. Những việc trái với luân thường đạo lý thì
bị xem như gieo nghiệp, ngược lại những việc thiện là phước, trong các việc
thiện ấy hiếu thảo của người còn sống là quan trọng nhất, việc thứ hai là quan
tâm đến các vị sư sãi và chăm lo cho ngôi chùa. Tại trung tâm Thành phố Trà
Vinh, chúng tôi được tham dự ngày lễ cúng ông bà cùng gia đình cô K.S vào
ngày thứ 2 của lễ. Cô không đi chùa mà ở nhà với mẹ cùng các con cháu. Theo
cô “Tạo phước cho ông bà không phải lúc mất đi mà là sự hiếu thảo ngay lúc
còn sống. Nếu lên chùa cúng dường lạy Phật mà về nhà không chăm lo cho cha
mẹ thì tội nghiệp càng nặng hơn”. Theo anh K.D.T (39 tuổi) ở Ấp Trà Sất C,
xã Long Hiệp, huyện Trà Cú thì “Cúng ông bà không phải nhiều và quí là tạo
phước mà nó phải xuất phát từ cái tâm của mình có hướng về ông bà hay
không” và “Cứ làm điều tốt và nghĩ đến ông bà thì họ sẽ nhận được, họ nhận
không hết thì đến lượt mình và con cháu”. Cứ như vậy các thế hệ con cháu có
96
trách nhiệm làm phước thật nhiều sẽ tốt cho ông bà tổ tiên và cho bản thân
mình. Bên cạnh đó cũng có quan niệm cho rằng nếu ông bà về báo mộng nghĩa
là họ chưa được siêu thoát. Quan niệm này có thể ảnh hưởng từ truyền thuyết
Phật giáo mà chúng tôi đã trình bày phần trên.
Bên cạnh đó, trong quá trình điền dã chúng tôi tìm được cụm “mùa Đôlta”
trong cộng đồng người Khmer từ anh T.K.T (là giảng viên của trường Đại học
Trà Vinh). Theo anh cụm từ này mọi người dùng để chỉ tháng 8 (được xem là
mùa Đôlta) vì ngoài những gia đình tổ chức theo cách truyền thống như trên thì
có nhiều gia đình lại thống nhất tổ chức cúng ông bà tổ tiên vào một ngày nào
đó trong tháng 8. Qua tìm hiểu, có rất nhiều gia đình tại Thành phố Trà Vinh,
huyện Châu Thành và huyện Trà Cú không tổ chức cúng ông bà vào các ngày
truyền thống mà chọn 1 ngày nào đó trong tháng 8 để tất cả anh em trong họ
hàng thuận tiện tham dự. Cũng có trường hợp chia nhau cúng ông bà tổ tiên và
thống nhất ngày cúng tại khác nhau tại các gia đình để các thành viên có thể luân
phiên nhau đến từng nhà gặp gỡ chúc nhau. Chẳng hạn gia đình cô D.S.P ở ấp
Tha La, xã Ngọc Biên đã có hình thức cùng lập bàn thờ tổ tiên tại mỗi gia đình
để cúng. Nhà cô có 4 chị em gái, khi cha mẹ qua đời cả 4 người đều lập bàn thờ
ba mẹ, khi vào “mùa Đôlta” mọi người liên lạc với nhau thống nhất ngày tổ chức
cúng không trùng nhau để mọi người trong họ đều có thể sắp xếp thời gian đến
nhà thăm hỏi chúc tụng. Tại ba địa bàn nghiên cứu có rất nhiều gia đình đồng
lập bàn thờ hình thức này hoặc chia nhau thờ cha, mẹ, ông, bà nhưng theo chúng
tôi thực chất người Khmer chia nhau thờ là để tưởng nhớ từng đối tượng thờ
cúng vì trong thực tế khi tổ chức cúng gia chủ không dành lời khấn riêng cho
ông bà hay cha mẹ được mình thờ mà đọc kinh cầu siêu cho tất cả tổ tiên.
2.5.4. Lễ cầu siêu và đại cầu siêu
Lễ cầu siêu và lễ đại cầu siêu là lễ không bắt buộc với mỗi gia đình, thậm
chí không qui định ngày tổ chức lễ hay thành phần tham dự. Lễ này được tổ chức
theo sự thỏa thuận của các thành viên trong gia đình hay dòng họ. Mục đích là
để tạo phước cho ông bà tổ tiên và thể hiện lòng hiếu thảo của con cháu đối với
97
tổ tiên. Lễ này không bắt buộc phải tổ chức tại gia đình người chịu trách nhiệm
thờ cúng chính.
Lễ cầu siêu: Đây là lễ thường làm cho tất cả những người đã chết nhiều
đời trong gia đình, tùy vào quyết định tổ chức của mỗi gia đình. Người Khmer
quan niệm rằng tất cả những người chết dù dưới dạng nào đều là chúng sinh
của đức Phật, phần hồn được Phật độ trì. Những người còn sống rất quan tâm
đến linh hồn người thân nên hàng năm họ tổ chức lễ cầu siêu hoặc lễ đại cầu
siêu để cầu cho ông bà tổ tiên được siêu thoát. Lễ cầu siêu được tổ chức vào
ngày thứ ba của năm mới tức là ngày thứ ba sau lễ Chôl Chnăm Thmây. Lễ này
có thể tổ chức tại nhà hoặc tại chùa. Vào ngày này, sau khi làm lễ tắm tượng
Phật, các vị sư cao niên và tắm ông bà cha mẹ tại nhà, tất cả con cháu trong gia
đình tập trung vào chùa. Người chủ gia đình sẽ đến phòng nghỉ các vị sư mời
một người đi đến tháp cốt của ông bà đã hóa vãng trong khuôn viên chùa để
tụng kinh, cầu phước cho linh hồn. Sau khi đọc kinh xong thì con cháu có thể
đi thắp hương quanh chùa hoặc về nhà.
Lễ đại cầu siêu: Thường do các gia đình sau một khoảng thời gian con
cháu làm ăn khá giả nên tổ chức để tạ ơn và tạo phước cho ông bà tổ tiên hoặc
tạo phước cho cha mẹ còn đang sống. Lễ này cũng không ấn định thời gian tổ
chức, nhưng đòi hỏi tổ chức cầu kỳ và nhiều lễ vật hơn lễ cầu siêu. Ngoài những
hình thức và lễ vật như lễ cầu siêu lễ này đòi hỏi phải có áo cà sa, mùng, mền
chiếu, gối,..để dâng cho các vị sư trong chùa sau khi tổ chức xong lễ. Trong số
các sư sãi được mời đến tụng kinh phải có một hoặc hai vị thuộc kinh Apithôm,
biết cách ngồi thiền, tịnh tâm, nhất là phải biết cách kéo áo cà sa ra khỏi thân
người hoặc hài cốt sau khi tụng kinh cầu nguyện xong. Hành động này mang ý
nghĩa như lột xác cho ông bà cha mẹ được sống lâu, đối với người chết thì xem
như đem phước cho họ được hóa kiếp. Nơi làm lễ phải là một nơi yên tĩnh hoặc
nơi để hài cốt người chết. Các thành viên trong gia đình chuẩn bị những thanh
gỗ hoặc tre cao 2m đến 3m, cắm thành một khuôn hình chữ nhật rộng, có bốn
cửa, ở bốn góc và có treo đèn. Bên trong hình chữ nhật họ đặt hài cốt của cha
98
mẹ lấy ở tháp ra. Nếu cha mẹ còn sống thì họ mời cha mẹ vào ngồi, lưng hơi
khom, hai tay chắp trước ngực, họ lấy áo cà sa đắp lên (thường tổ chức khi cha
mẹ từ 60 tuổi trở lên). Cách đó không xa là chỗ ông lục ngồi tịnh và tụng kinh.
Đường đi từ chỗ ông lục ngồi đến hình chữ nhật đều được cắm nhang hai bên.
Sau khi ngồi tịnh và tụng kinh xong, ông lục cầm gậy có cắm đèn cầy đi đến
hình chữ nhật theo đường nhang đã cắm. Đến nơi ông đi từ hướng Đông sang
hướng Tây đến hướng Nam, hướng Bắc đi như vậy đủ ba lần ông đến cửa hướng
Đông đứng đó. Ở vị trí này ông tìm cách kéo áo cà sa ra khỏi hài cốt hoặc người
ngồi trong hình chữ nhật. Sau khi kéo xong, ông đọc kinh to lên để cho ông
Achar và con cháu trong gia đình biết. Sau đó, ông Acha lại mời ông lục đến
chỗ để các vật cúng để làm lễ nhận các lễ vật xem như tạo phước cho ông bà tổ
tiên hoặc cho cha mẹ còn đang sống. Đến đây xem như kết thúc lễ nhưng
thường kéo dài đến hôm sau. Sáng sớm hôm sau mọi người dâng cơm cho các
vị sư, tụng kinh cầu phước một lần nữa mới thật sự chấm dứt. Trong quá trình
điền dã chúng tôi rất ít gặp các lễ này. Tại huyện Trà Cú chúng tôi chỉ gặp một
trường hợp tổ chức lễ này tại ấp Kosla, xã Thạnh Lợi. Tại Thành phố Trà Vinh
có vài trường hợp tổ chức lễ cầu siêu nhưng lại không tổ chức như trên mà chỉ
nấu một số món ăn để cúng trên bàn thờ tổ tiên sau đó mời ông lục về nhà, các
thành viên trong gia đình tập trung trước bàn thờ tổ tiên đọc kinh theo ông lục
và dâng tiền cùng một số lễ vật cho ông lục là kết thúc lễ. Con cháu trong gia
đình tập trung lại ăn uống trò chuyện vui chơi với nhau một ngày là kết thúc.
Như vậy, trong thực hành thờ cúng tổ tiên của người Khmer có sự tồn tại
của các nghi lễ của Phật giáo Nam tông. Trong quá trình thực hiện các nghi lễ thì
kinh Phật giữ một vai trò vô cùng quan trọng đối với người đã khuất, người thực
hiện nghi thức phải là người thông hiểu về lễ nghi của Phật giáo Nam tông. Quan
niệm về ông bà tổ tiên người Khmer không quan trọng việc thiết lập tôn ti như lúc
còn sinh thời mà quy tụ vào một tập hợp chung gọi là ông bà tổ tiên. Việc thực
hiện các nghi lễ thờ cúng là nhằm giúp đỡ ông bà tổ tiên được siêu thoát đồng thời
cũng là việc làm thể hiện đạo đức của con cháu và cũng là việc làm để tích phước
99
cho chính bản thân những người thực hiện. Với qui định của nghi thức thực hành
và thời gian thực hiện mang màu sắc riêng, tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người
Khmer ở Trà Vinh đã trở thành một giá trị văn hóa tộc người độc đáo.
Tiểu kết chương 2
Về đối tượng thờ cúng, người Khmer xác định đó là linh hồn của những
người có quan hệ huyết thống với những thành viên đang thực hành nghi lễ. Không
phân biệt chi họ và tôn ti đối với đối tượng được gọi là “tổ tiên”, ngoài những đối
tượng thờ cúng mang mối quan hệ huyết thống còn có sự phối thờ các đối tượng
với mối quan hệ tôn giáo có tầm ảnh hưởng sâu rộng trong cộng đồng.
Bàn thờ tổ tiên được bố trí theo nguyên tắc tôn trọng tôn giáo (Phật giáo
Nam tông), tạo sự gần gũi với gia đình và thể hiện sự kính trọng đối với linh
hồn tổ tiên. Bên cạnh đó, vật thờ có sự đa dạng theo hướng tiếp nhận những giá
trị văn hoá mới.
Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Khmer có đặc trưng riêng về
người chịu trách nhiệm thờ cúng, đặc biệt là người thực hành các nghi lễ. Sự
độc đáo này được thể hiện ở vai trò của Achar và các vị sư trong quá trình thực
hành nghi lễ cúng tổ tiên.
Tang ma của người Khmer tổ chức khá cầu kỳ, phức tạp tạo đặc trưng
riêng của tộc người. Đối với người Khmer tang ma ngoài vai trò là dấu mốc
quan trọng để chuyển đổi linh hồn người chết về với tổ tiên còn là nghi thức để
đưa linh hồn về với cõi Phật. Chính vì lẽ đó mà tang ma của tộc người Khmer
mang đậm dấu ấn của Phật giáo Nam Tông.
Trong quá trình thờ cúng tổ tiên, các nghi lễ được thực hiện vào những
ngày thường nhật đồng thời cũng được thực hiện vào những dịp hiếu hỷ. Lễ
Đôlta (Sel Đôlta) là cúng ông bà mang đặc trưng riêng của cộng đồng người
Khmer. Đôlta không chỉ dừng lại ở vai trò cúng ông bà trong từng gia đình mà
còn được xem như một lễ hội của tộc người Khmer ở Trà Vinh nói riêng và ở
Nam bộ nói chung.
100
Chương 3
BIẾN ĐỔI TRONG TÍN NGƯỠNG THỜ CÚNG TỔ TIÊN
CỦA NGƯỜI KHMER Ở TRÀ VINH HIỆN NAY
Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Khmer nói chung và người Khmer
ở Trà Vinh nói riêng đã trở thành một nét văn hoá mang bản sắc tộc người thể
hiện sự hiếu thảo, biết ơn đối với ông bà cha mẹ, quan niệm về linh hồn và các
nghi lễ gắn liền với quan niệm đó. Bên cạnh đó, tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên
của người Khmer còn thể hiện đặc trưng tôn giáo sâu sắc. Tuy nhiên, quá trình
cộng cư cũng như nhu cầu phát triển văn hoá tộc người đã góp phần tạo nên
những biến đổi nhất định trong tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Khmer ở
Trà Vinh. Hơn thế nữa, do nhu cầu cuộc sống và đòi hỏi của công việc trong
xã hội đương đại phần nào đó đã góp phần thúc đẩy sự giao lưu tiếp biến văn
hoá tộc người ngày càng mạnh mẽ.
3.1. Biến đổi về hình thức và nội dung
Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên là một giá trị văn hoá truyền thống của người
người Khmer ở Trà Vinh. Trong rất nhiều tài liệu đã cấu trúc lễ cúng ông bà
thành một trong ba lễ hội lớn trong năm của người Khmer. Tuy nhiên, trong
luận án này chúng tôi đặt lễ cúng ông bà (Sel Đôlta) của người Khmer là một
thành tố trong hệ thống tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của họ. Thông qua sự đối
sánh tư liệu điền dã và tài liệu ghi chép của các học giả đi trước, chúng tôi nhận
thấy đã có nhiều thay đổi về hình thức và nội dung trong tín ngưỡng thờ cúng
tổ tiên của người Khmer ở Trà Vinh, trong đó có biến đổi lễ cúng ông bà.
Biến đổi đầu tiên có thể nhận thấy rõ nhất là hình thức tổ chức tang lễ để
đưa linh hồn người mất về với tổ tiên. Nếu trong truyền thống người Khmer chỉ
hoả táng người mất giữ lại phần tro cốt để thờ thì ngày nay xuất hiện ngày càng
nhiều hình thức địa táng. Nguyên nhân của sự thay đổi này là sự tác động của
nhiều yếu tố thực tiễn khác nhau. Thứ nhất là do sự vận động của cơ quan chính
quyền địa phương về việc tuyên truyền ảnh hưởng môi trường từ việc thực hiện
hình thức hoả táng truyền thống (vì tất cả các điểm thiêu xác của người Khmer
đều xây dựng theo cách thức truyền thống nên không xử lí được khói và mùi
101
trong quá trình thiêu xác). Một số ý kiến cũng cho rằng “Không đủ kinh phí để
đưa quan tài đến các điểm thiêu hiện đại nên chôn trên đất nhà”. Thứ hai là do
sự thay đổi trong quan niệm của người Khmer về linh hồn của tổ tiên (trong
truyền thống người Khmer thờ cúng tổ tiên là cầu mong cho linh hồn tổ tiên
được nhanh siêu thoát, nhưng trong hiện tại đã xuất hiện nhiều quan niệm mong
muốn linh hồn tổ tiên được gần gũi với con cháu nên thực hiện hình thức địa
táng ở gần gia đình). Theo chúng tôi sự biến đổi này không xoá bỏ hoàn toàn
một nghi thức truyền thống trong thờ cúng tổ tiên vì nó chỉ xuất hiện ở một số
địa phương. Đồng thời sự biến đổi này đã thể hiện sự đồng thuận giữa cộng
đồng người Khmer với chính quyền địa phương về ý thức bảo vệ môi trường.
Bên cạnh đó, hình thức tang lễ cũng được lược bỏ những phần nghi lễ
phức tạp ảnh hưởng đến thời gian và kinh tế của gia đình. Chẳng hạn như việc
bỏ đi các nghi thức và lễ vật mang đi mời các vị Acha, đội nhạc lễ, các vị sư;
các nghi thức trong quá trình di quan cũng được lược bỏ như: nghi thức lăn
đường, rải bông gòn, không dùng kiệu cho các vị sư và ông Achar ngồi trong
quá trình di quan (thay vào đó là các vị này đi bộ hoặc các phương tiện khác
cùng đoàn đưa tang),…Theo ghi nhận của chúng tôi, sự biến đổi này diễn ra
trên tất cả các địa bàn nghiên cứu đặc biệt là thành phố Trà Vinh. Các địa bàn
khác diễn ra sự biến đổi ít hơn là do số lượng người Khmer chiếm đa số, công
việc chủ yếu là nông nghiệp nên có nhiều thời gian để tổ chức tang lễ đồng thời
do ảnh hưởng của yếu tố truyền thống.
Một yếu tố khác đã biến đổi trong tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người
Khmer ở Trà Vinh là hình thức tổ chức thờ cúng. Không gian và vị trí đặt bàn
thờ tổ tiên đã có những thay đổi theo kiến trúc của ngôi nhà. Trong truyền thống,
ngôi nhà của người Khmer được xây dựng theo lối kiến trúc nhà 2 mái, 3 gian.
Gian nhà trước là nơi trang trọng nhất để đặt bàn thờ tổ tiên và là nơi tiếp khách
cũng như tổ chức các buổi lễ hiếu hỷ quan trọng trong gia đình. Tuy nhiên, hiện
tại nhiều gia đình dành riêng một không gian thờ tổ tiên ở tầng 1 hoặc tầng 2 của
ngôi nhà. Cách bố trí này được gia chủ lí giải là tạo không gian yên tĩnh và trang
nghiêm cho ông bà tổ tiên. Hiện tượng này diễn ra ở những gia đình có lối kiến
102
trúc nhà nhiều tầng hoặc theo mong muốn thiết kế không gian thờ cúng tổ tiên
tách riêng với các hoạt động sinh hoạt của gia đình. Người Khmer cho rằng, dù
có sự thay đổi về không gian thờ cúng nhưng các thế hệ con cháu vẫn luôn dành
sự tôn trọng nhất định cho linh hồn của tổ tiên. Theo quan sát của chúng tôi, tuy
có sự biến đổi về vị trí và không gian thờ cúng nhưng nguyên tắc bố trí bàn thờ
trong sự phối thờ vẫn được tuân thủ chặt chẽ. Điều này nói lên sự gắn bó sâu sắc
giữa Phật giáo Nam tông với đời sống của người Khmer ở Trà Vinh. Người chịu
trách nhiệm thờ cúng tổ tiên cũng có nhiều biến đổi trong cuộc sống đương đại.
Nếu trong truyền thống, người chịu trách nhiệm thờ cúng tổ tiên là người con út,
không phân biệt nam hay nữ thì ngày nay có hiện tượng chuyển giao cho người
con trai út trong gia đình hoặc họp mặt tất cả anh em trong gia đình để chọn ra
người chịu trách nhiệm thờ cúng hoặc xuất hiện hiện tượng đồng thờ (một linh
hồn được thờ ở nhiều gia đình) hoặc chia nhau để thờ (mỗi thành viên trong gia
đình thờ một linh hồn người đã mất).
Bên cạnh đó, sự biến đổi về thời gian thờ cúng tổ tiên cũng là vấn đề
chúng tôi quan tâm. Nếu theo truyền thống lễ cúng ông bà tổ tiên chỉ tổ chức
trong ba ngày cuối của tháng 8 âm lịch thì hiện tại nhiều gia đình chọn một
ngày trong tháng 8 để tổ chức cúng tổ tiên. Hiện tượng này xuất hiện nhiều tại
các địa bàn huyện Trà Cú và huyện Châu Thành. Theo quan niệm hiện tại của
họ, cúng ông bà là dịp để anh em trong gia đình họp mặt với nhau, cùng chia
sẻ buồn vui nhưng nếu cúng vào ba ngày cuối tháng có thể anh em trong gia
đình không đông đủ do bận công việc cơ quan hoặc việc riêng của gia đình. Do
vậy mỗi gia đình thường thống nhất với nhau một ngày thuận tiện nhất để làm
lễ cúng ông bà. Không chỉ vậy, hiện tượng làm lễ cúng ông bà theo ngày mất
cũng đã xuất hiện ở nhiều hộ gia đình. Họ cũng quan niệm rằng cúng theo ngày
mất để nhắc nhở con cháu tưởng nhớ ngày ông bà về với tổ tiên đồng thời giúp
cho linh hồn ông bà được an ủi. Điều đặc biệt là những trường hợp cúng ông
bà theo ngày mất hay chọn một ngày trong tháng 8 để cúng cũng tổ chức cúng
ông bà vào dịp Sel Đôlta vì họ cho rằng tổ chức nhiều lần thì tạo được nhiều
phước cho linh hồn sớm được siêu thoát.
103
Nghi lễ trong thực hành thờ cúng tổ tiên cũng có sự thay đổi, nếu theo
các tư liệu ghi lại thì trong truyền thống người Khmer thắp hương cho ông bà
tổ tiên vào các buổi sáng, buổi trưa và buổi chiều tối thì hiện nay các gia đình
chủ yếu thắp hương cho ông bà vào lúc chiều tối. Sự biến đổi này được giải
thích từ nhiều ý kiến khác nhau. Theo cụ ông D.K.S (75 tuổi) ở huyện Trà Cú
thì “Ngày xưa ông bà dạy sao thì làm theo chứ đâu có biết ý nghĩa”. Sự trụ trì
chùa Samrong cho biết “Trong Phật giáo Nam tông không có qui định thời gian
và số lần thắp hương cho tổ tiên. Tuy nhiên, việc thắp hương có thể với mục
đích đảnh lễ đức Phật vào các buổi trong ngày”. Theo anh S.N.L thì “Cũng có
nghe ông bà nói ngày xưa mỗi ngày thắp hương 2,3 lần nhưng bây giờ sáng
sớm là phải đi làm, trưa không có về nhà, chỉ có chiều cả nhà tập hợp nên thắp
hương để gia đình được ấm cúng”. Theo các nguồn tư liệu này chúng tôi khó
xác định ý nghĩa việc thắp hương cho tổ tiên của người Khmer nhưng rõ ràng
do ảnh hưởng của công việc đã làm thay đổi số lần thắp hương trong tín ngưỡng
thờ cúng tổ tiên của họ. Người Khmer không qui định thành viên trong gia đình
chịu trách nhiệm thắp hương cho tổ tiên hằng ngày. Mỗi cá nhân tự ý thức vai
trò của mình mà thực hiện. Hiện tại người Khmer cũng không qui định việc
thắp hương cho tổ tiên phải đúng thời điểm như truyền thống. Con cháu trong
gia đình có ý nguyện thắp hương cho tổ tiên thì được thực hiện bất cứ lúc nào.
Về nội dung trong tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Khmer ở Trà
Vinh cũng có những thay đổi đáng kể. Chẳng hạn, trong truyền thống người
Khmer quan niệm linh hồn của người chết sẽ về với đức Phật và tồn tại ở đó
chờ công đức tạo phước của con cháu để được siêu thoát hoặc bị đày xuống địa
ngục. Thờ cúng là để tạo “phước” cho linh hồn, lời kinh của Phật dạy khi đọc
lên trong lúc cúng linh hồn sẽ giúp họ nghe được lời Phật dạy mà sám hối tội
lỗi để được siêu thoát. Lời kinh trong đọc lên trong lúc tổ chức cúng tổ tiên rất
quan trọng. Vì vậy, khi chúng tôi thực hiện các cuộc phỏng vấn khác nhau với
các vị sư trên 3 địa bàn nghiên cứu với độ tuổi và chức vị khác nhau đều nhận
được một câu trả lời duy nhất đó là: “Hành động đọc kinh cúng tế của con cháu
mới là yếu tố quan trọng để tạo phước cho linh hồn tổ tiên” Mục đích cuối
104
cùng của việc thờ cúng tổ tiên là đưa được “phước” của con cháu tạo ra đến với
linh hồn tổ tiên nơi đất Phật. Tuy nhiên, ngày nay người Khmer có quan niệm
linh hồn người chết tồn tại xung quanh cuộc sống thường nhật của con cháu,
tại vị trên bàn thờ tổ tiên thậm chí còn có khả năng phù hộ cho con cháu trong
công việc làm ăn hoặc vượt qua những khó khăn, may rủi trong cuộc sống. Bên
cạnh đó, nhiều hộ gia đình không tổ chức mời ông Achar đến hướng dẫn làm
lễ hay mời ông sư về tụng kinh cầu siêu cho linh hồn ông bà mà chỉ bài trí mâm
cơm lên bàn thờ sau đó tự đọc kinh cầu siêu hoặc chỉ khấn mời linh hồn về
dùng cơm với con cháu trong dịp cúng ông bà.
Như vậy có thể thấy rằng, trong xã hội đương đại tín ngưỡng thờ cúng tổ
tiên của người Khmer đã có những thay đổi từ hình thức đến nội dung. Sự thay
đổi này phản ánh sự tác động của các yếu tố xã hội đến chủ thể chịu trách nhiệm
thờ cúng tổ tiên đó là lược bỏ một số yếu tố để tạo thuận lợi cho cuộc sống hoặc
cộng gộp thêm một số yếu tố để tạo thêm niềm tin tích cực trong đời sống tinh
thần của thế hệ con cháu đang hiện hữu.
3.2. Sự tác động của thay đổi kinh tế đối với việc thờ cúng tổ tiên
Kinh tế là thành tố quan trọng trong đời sống của con người nói chung
và người Khmer ở Trà Vinh nói riêng. Trong truyền thống, người Khmer ở Trà
Vinh sinh sống chủ yếu bằng nghề canh tác lúa nước và trồng cây công nghiệp
ngắn ngày hoặc đi làm thuê và đánh bắt thuỷ hải sản nhỏ nên đời sống gặp
nhiều khó khăn. Tuy nhiên, trong cuộc sống đương đại, người Khmer ở Trà
Vinh đã có những chuyển đổi về mặt kinh tế, nâng cao thu nhập cá nhân và gia
đình. Được sự hỗ trợ từ nhiều nguồn chính sách phát triển kinh tế của chính
quyền địa phương nhiều hộ gia đình đã phát triển kinh tế nhờ vào chăn nuôi
hoặc sản xuất kinh doanh.
Đời sống của chủ thể thờ cúng thay đổi dẫn đến sự thay đổi về “đời sống”
của linh hồn tổ tiên. Các thế hệ con cháu muốn thể hiện lòng hiếu thảo của mình
thông qua chăm lo đầy đủ về vật chất cho linh hồn của tổ tiên, đồng thời họ
quan niệm rằng sự chăm lo đó sẽ giúp cho linh hồn tổ tiên được an ủi và sớm
được siêu thoát.
105
Thứ nhất là xây dựng “nơi yên nghỉ” cho linh hồn. Trong truyền thống,
khi người thân quan đời, con cháu làm tang lễ thực hiện hoả táng đưa tro cốt
vào chùa đề gửi ở các tháp cốt, tuy nhiên hiện nay nhiều hộ gia đình đã không
thực hiện phương thức hoả táng mà thay vào đó là phương thức địa táng và xây
dựng cho người mất phần mộ khang trang với quan niệm linh hồn người mất
sẽ cảm thấy vui vẻ khi con cháu lo lắng cho mình “mồ yên mả đẹp”. Nhiều
dòng họ còn tổ chức xây dựng nhà mồ to, đẹp để làm nơi yên nghỉ cho những
người qua đời có cùng quan hệ huyết thống (có thể ở một gia đình hoặc cả dòng
họ). Những trường hợp hoả táng người thân khi qua đời theo tục lệ truyền thống
thì xây dựng tháp cốt riêng cho của dòng họ. Tháp cốt thường được xây theo
kiểu kiến trúc giật cấp, đỉnh tháp nhọn, nhìn tổng quan ngọn tháp như hình núi
Tudi (nơi đức Phật Thích Ca tu hành), bên trên trang trí hình tượng thần Phạm
Thiên (Prah Phrum) thần bốn mặt. Lối kiến trúc này có tên gọi là Chê – đi
(Chedi) vốn xuất hiện trong truyền thống xây dựng các tu viện của Phật giáo
Nam tông Khmer nhưng ngày nay được phổ biến rộng ra phạm vi cộng đồng.
Bên trong tháp thường thiết kế đủ rộng để lập bàn thờ Phật, bàn thờ tổ tiên và
một khoảng không gian cho phép người thân đến lễ bái mỗi khi gia đình tổ chức
cúng ông bà. Cách bài trí bàn thờ tổ tiên trong tháp cốt cũng tương tự như trong
nhà. Những gia đình giàu có người ta còn xây thêm một công trình bên cạnh
tháp cốt gọi là Thala để các vị sư ngồi đọc kinh mỗi khi có dịp cúng lễ, đơn cử
như gia đình bà T.T.S.P ở Thị trấn Châu Thành đã đầu tư xây dựng tháp cốt
cho dòng họ hơn 100 triệu đồng. Tuy các hộ Khmer đã xây dựng tháp cốt đủ
lớn để lập bàn thờ tổ tiên nhưng vẫn lập bàn thờ tổ tiên trong nhà. Theo đó,
công trình tháp cốt tại gia có ba dạng, tháp lớn, tháp vừa và tháp nhỏ nhưng dù
cho ở dạng nào đi nữa thì mục đích của những người thờ cúng tổ tiên đều muốn
linh hồn của ông bà được gần gũi với gia đình và con cháu, họ xem tháp cốt
như ngôi nhà của tổ tiên nên khi xây dựng được tháp cốt tại gia con cháu trong
gia đình xem như mình đã tạo được một phước lớn, đồng thời lấy đó làm niềm
hãnh diện của gia đình với những người xung quanh. Cũng cần nói thêm rằng,
dù xây dựng tháp cốt tại gia đình nhưng người Khmer vẫn xem việc đi chùa bái
106
Phật, đọc kinh cầu siêu là hoạt động không thể thiếu để tạo phước cho tổ tiên.
Chính sự phát triển trong việc sinh kế đã điều kiện thuận lợi cho người Khmer
ở Trà Vinh có nguồn thu nhập tốt hơn cho gia đình đồng thời tạo thêm nhiều
mối quan hệ giao tiếp xã hội nên tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên cũng có những
thay đổi theo chiều hướng mới, qui mô lớn hơn. Tuy nhiên, các vị chư tăng và
các cụ cao niên trong phum, sróc lại cho rằng những việc làm như vậy nhằm để
thể hiện sức mạnh kinh tế của gia đình để thể hiện danh thế, còn nhận xét theo
tinh thần tôn giáo thì những việc làm trên là không cần thiết và làm hao tốn kinh
tế gia đình. Việc thực hành tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên phải xuất phát từ “tấm
lòng là chính” chớ không câu nệ các hình thức nghi lễ và qui mô.
Bên cạnh đó, cùng có trường hợp nhiều dòng họ cử đại diện vào chùa
xin sư Cả cho phép xây dựng tháp cốt trong khuôn viên chùa để gửi tro cốt của
người thân hoặc xây dựng tháp cốt tại gia đình để đặt tro cốt của ông bà tổ tiên.
Giải thích về vấn đề xây dựng tháp cốt nhiều ý kiến cho rằng “Cuộc sống gia
đình có chút khá giả cũng nhờ ông bà phù hộ nên phải chăm lo lại cho ông bà
được tốt hơn”. Cũng có ý kiến cho rằng “Các sư trong chùa không đủ kinh phí
để xây dựng tháp cốt nên mỗi dòng họ tự ý thức trách nhiệm của mình mà chia
sẽ gánh nặng cho chùa”. Những hộ xây dựng tháp cốt tại gia thì mong muốn
“ông bà tổ tiên được gần gũi với con cháu”. Thông qua sự biến đổi trên cho
thấy trong xã hội đương đại, người Khmer không chỉ quan niệm chết không
phải là hết mà linh hồn tổ tiên có nhu cầu được chăm lo chỗ nghỉ ngơi. Cũng
cần nói thêm rằng đây không phải là nhu cầu của linh hồn mà do đời sống vật
chất của chủ thể thờ cúng được nâng lên nên họ tự nhận thức trách nhiệm phải
nâng cao “đời sống vật chất” của linh hồn tổ tiên.
Thứ hai là thể hiện sự chăm lo cho “đời sống” của linh hồn thông qua
các nghi lễ. Trong quá trình tổ chức tang lễ để đưa linh hồn người chết về với
tổ tiên dù thực hiện theo phương thức truyền thống (hoả táng) hay địa táng,
người Khmer đều thực hiện một cách chỉnh chu và trang trọng trong từng chi
tiết của nghi lễ. Một trong những biểu hiện rõ nhất là việc thay đổi cách làm
quan tài cho người mất. Cụ thể, trước đây người ta thường mua ván gỗ trong
107
phum, sróc để đóng quan tài cho người mất một cách đơn giản vì cho rằng khi
tổ chức xong tang lễ thì cũng sẽ hoả thiêu nên không cần phải có quan tài bền
chắc và đẹp. Tuy nhiên, hiện nay quan niệm này đã mất dần mà thay bằng quan
niệm phải chăm lo cho người mất những điều tốt đẹp nhất nên khi có người qua
đời, gia đình sẽ cử người thân đến các cửa hàng bán quan tài để chọn chiếc
quan tài đẹp để tẩm liệm người mất. Ngày nay bên cạnh quan niệm tổ chức
cúng tổ tiên là để tích phước cho linh hồn sớm được siêu thoát còn xuất hiện
quan niệm tổ chức cúng với qui mô càng lớn thì sẽ càng tích được nhiều phước
cho linh hồn. Trong triết lý của Phật giáo Nam tông khuyên con người thờ cúng
tổ tiên không phải tổ chức với qui mô lớn là tốt quan trọng là cái tâm của người
thực hiện. Theo đó thì một chén cơm trắng cũng tích được phước cho linh hồn
nhưng nó phải xuất phát từ cái tâm hướng thiện của con cháu, mỗi một lần tổ
chức cúng là một lần linh hồn tổ tiên nhận thêm được một phần phước của con
cháu. Tuy nhiên, trước sự phát triển của kinh tế và áp lực của việc làm nên không
ít gia đình đã thống nhất với nhau tổ chức cúng tổ tiên một lần vào một ngày nhất
định và tập trung tổ chức với qui mô lớn. Các lễ vật cũng được chuẩn bị đầy đủ
và tươm tất hơn có thể nói là “mâm cao cỗ đầy”. Ngoài những lễ vật truyền
thống không thể thiếu như: hoa, quả, bánh, trà thì còn xuất hiện nhiều lễ vật khác
như: bia, rượu Tây, nước ngọt,…. với quan niệm con cháu có gì thì cúng ông bà
cái đó, con cháu được đầy đủ sung túc thì ông bà cũng phải được như vậy.
Thứ ba là vấn đề phát triển kinh tế và quan niệm về tổ tiên. Thông qua
tài liệu phỏng vấn tại các địa bàn nghiên cứu, chúng tôi nhận thấy trong xã hội
đương đại người Khmer thờ cúng tổ tiên với quan niệm linh hồn tổ tiên luôn
gần gũi với con cháu, phù hộ độ trì cho con cháu về sức khoẻ, công việc làm
ăn và tinh thần vượt qua những khó khăn trong cuộc sống. Với quan niệm này
người Khmer tổ chức cúng tổ tiên khi công việc làm ăn được thuận lợi. Anh
S.N.L cho biết “Mỗi khi ký được hợp đồng mới tôi đều về nhà mua bánh trái
hoặc mua thức ăn về cho vợ nấu mâm cơm cúng tạ ơn ông bà đã phù hộ, cũng
như ăn mừng với gia đình”. Theo anh, ông bà tuy đã mất nhưng linh hồn vẫn
tồn tại xung quanh mình và cùng chung sống với gia đình phù hộ mọi việc của
108
con cháu. Bên cạnh đó đã xuất hiện quan niệm mới về “phước” được ra trong
quá trình thờ cúng tổ tiên. Quan niệm truyền thống cho rằng linh hồn tổ tiên
tồn tại ở cõi Phật nên trong tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên người Khmer không
cần phải mâm cao cỗ đầy mà quan trọng là ở cái tâm chân thành của con cháu
khi thực hiện cúng tổ tiên và sự chăm lo cho đời sống của các vị sư sãi để tạo
phước cho tổ tiên. Đối với những gia đình có hoàn cảnh khó khăn về mặt kinh
tế không nhất thiết phải tổ chức cúng cho người đã khuất, hoặc khi tổ chức cũng
không đòi hỏi phải có sư sãi tụng kinh. Không ít người chọn phương thức cúng
dường thực phẩm cho các vị sư sãi khi họ đi khất thực để tạo phước cho tổ tiên.
Người Khmer tin rằng việc cúng dường cho chư tăng sẽ tạo được nhiều phước
lành cho ông bà, cha mẹ của họ ở cõi thiêng. Ở cõi đó, linh hồn tổ tiên sẽ nhận
được phước đức từ hành động của con cháu. Theo qui định của Phật giáo Nam
tông, các vị sư sãi chỉ được thọ thực mỗi ngày một lần trước giờ ngọ (12 giờ
trưa) và khi thọ thực, các vị sư phải tụng kinh độ nhật cầu an cho bá tánh cúng
dường, tạ ơn người đã tạo ra thực phẩm để nuôi dưỡng mình đồng thời cầu siêu
cho các vong linh quá vãng. Theo sư trụ trì chùa Âng HT.CANDAISRI (thế
danh Thạch S.X.N): “Một người Khmer cúng dường cho chư tăng cũng có thể
xem là một hình thức cúng cho người đã khuất hoặc tổ chức một buổi cúng đơn
giản bằng một bát cơm trắng cũng đã tạo được phước”. Qua phỏng vấn, nhiều
sư trụ trì cho rằng “Phước mà con cháu tạo ra cho ông bà cha mẹ và cho chính
mình không phải là ở lễ vật cúng ít hay nhiều mà là họ cúng được bao nhiêu
lần và phải làm bằng chính cái tâm của mình muốn làm điều đó”. Điều này đã
được minh chứng trong thực tế các lễ cúng ông bà tại các ngôi chùa Khmer trên
địa bàn nghiên cứu. Ngoài những nghi thức như đã nêu, người Khmer đến chùa
vào dịp lễ Đôlta sẽ thực hiện nghi thức để bạc ở Thala của chùa. Số tiền này sẽ
được các vị Achar tổng hợp lại sau khi kết thúc lễ để sử dụng vào việc mua sắm
các trang thiết bị trong chùa hoặc để dùng vào các dịp trùng tu ngôi chùa. Tuy
nhiên, mục đích trước hết của nghi thức này là để tạo phước nên ngưởi Khmer
ít quan tâm đến mệnh giá của tiền khi họ thực hiện “để bạc” mà quan trọng là
số lần thực hiện nên tiền có trong khay “để bạc” chủ yếu là những đơn vị tiền
109
nhỏ lẻ [P15]. Tương tự như vậy, khi gửi tiền để tạ ơn các vị sư sãi tụng kinh
cầu siêu trong lễ cúng ông bà, gia chủ cũng chỉ gửi một ít tiền tượng trưng. Tuy
nhiên chúng tôi nhận được nhiều ý kiến cho rằng “Bây giờ kinh tế đã phát triển
hơn, khi đóng góp được nhiều kinh phí cho chùa thì công đức của mình càng
nhiều, ông bà tổ tiên cũng được hưởng phước nhiều hơn”. Thông qua những ý
kiến này cho thấy, Bên cạnh quan niệm truyền thống (“phước” được tạo ra từ
lòng thành của con cháu và số lần thực hiện) đã xuất hiện quan niệm mới
(“phước” nhiều hay ít phụ thuộc vào mức kinh phí cúng dường của con cháu).
Vấn đề kinh tế và mối quan hệ xã hội cũng đã làm thay đổi thời gian tổ
chức cúng tổ tiên. Trong tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, người Khmer đặc biệt chú
trọng thờ cúng cha mẹ đã khuất. Với quan niệm đạo hiếu là nền tảng tinh thần
quan trọng nhất nên thờ cúng tổ tiên luôn được con cháu xem là việc chung của
gia đình. Như chúng tôi đã trình bày, hiện nay trong cộng đồng người Khmer
ở Trà Vinh phổ biến hai hình thức thờ cúng tổ tiên như sau: Thứ nhất, một
người trong gia đình nhận trách nhiệm thờ ông bà tổ tiên, đến ngày Sel Đôlta
thì tất cả anh em họ hàng tập họp lại cùng làm cơm để cúng và đọc kinh cầu
siêu. Thứ hai, anh em trong gia đình cùng đồng thời thờ cha mẹ hoặc chia nhau
thờ đến dịp Sel Đôlta anh em sẽ thống nhất với nhau ngày cúng để mọi người
có thể đến tham dự mà không bị trùng ngày. Ngoài chúng tôi còn thấy xuất hiện
trường hợp người Khmer còn chọn phương thức cúng theo ngày mất của ông
bà, cha mẹ gọi là cúng giỗ như người Kinh. Trong việc chọn ngày cúng ông à
của người Khmer cũng có quan niệm ngày sống và ngày mất như người Kinh.
Theo quan niệm của người Kinh, ngày sống là ngày thời điểm một ngày trước
khi người chết qua đời nên ngày đó sẽ cúng “Tiên thường”, ngày hôm sau sẽ
cúng “Chánh giỗ”. Nhưng trong thực tế người Khmer không quan trọng việc
chọn ngày cúng vì họ quan niệm linh hồn tổ tiên đang tồn tại ở cõi Phật thì con
cháu muốn làm đám để tạo phước vào thời điểm nào tổ tiên cũng có thể nhận
được. Chính vì lẽ đó mà khi cúng theo hình thức kỷ niệm ngày mất của ông bà
người Khmer chọn ngày không ảnh hưởng đến công việc làm ăn hoặc công việc
cơ quan và thuận lợi cho việc mời khách tham dự. Theo thông tin từ anh T.S.V
110
“Khi cúng theo hình thức ngày mất có gia đình còn chọn ngày thứ 7 hoặc chủ
nhật để không ảnh hưởng công việc cơ quan và khách mời dễ tham dự”. Nếu
xét ở quan niệm tôn giáo thì có thể thấy phương thức tổ chức cúng tổ tiên này sẽ
tạo được nhiều phước cho ông bà tổ tiên. Tuy nhiên, nguyên nhân để xuất hiện
hình thức tổ chức cúng tổ tiên mới này không xuất phát từ chủ trương của tôn
giáo mà do như cầu về mặt kinh tế của chủ thể thờ cúng. Như vậy, có thể thấy
tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Khmer ở Trà Vinh phần nào đó đã có sự
biến đổi gắn với vấn đề kinh kế của gia đình trong xã hội đương đại.
Đối lập với những gia đình giàu có, chúng tôi cũng nhận thấy không ít
trường hợp vì cuộc sống sinh kế nên đã làm thay đổi hình thức lập bàn thờ tổ
tiên theo nguyên tắc truyền thống như gia đình anh D.K ở Thị trấn Trà Cú. Theo
đó, anh D.K cùng vợ và 2 con sống trong một căn phòng trọ để đi làm công
nhân tại một công ty may ở gần đó, vì phòng trọ chật hẹp nên anh không lập
bàn thờ Phật mà chỉ lập bàn thờ cha, mẹ bằng một chiếc kệ được gắn trên vách
tường. Dịp Đôlta nào đúng vào ngày nghỉ của công ty thì vợ chồng anh lại về
nhà của anh em ở ấp Giồng Giữa, xã Định An để cúng ông bà, nếu không về
được anh sẽ làm mâm cơm cúng cha mẹ tại phòng trọ, tối hôm đó cả gia đình
cùng lên chùa cúng dường nhờ sư thầy đọc kinh cầu siêu cho cha mẹ, ông bà.
Tuy di cốt của cha mẹ anh được gửi ở một ngôi chùa ở xã Định An nhưng anh
luôn tin cha mẹ luôn bên cạnh phù hộ cho gia đình anh được mạnh khỏe và làm
ăn phát đạt, anh cũng tin rằng việc cầu siêu cho cha mẹ không phải ở ngôi chùa
gửi di cốt nhưng cha mẹ anh vẫn nhận được phước từ việc làm của anh. Có thể
thấy rằng, dù cuộc sống sinh kế đã và đang làm thay đổi đi phần nào đó hình
thức thờ cúng tổ tiên truyền thống nhưng trong niềm tin tín ngưỡng của người
Khmer vẫn giữ lại những giá trị căn bản nhất.
Trong một cuộc khảo sát tại xã Định An chúng tôi nhận thấy tín ngưỡng
thờ cúng tổ tiên còn giữ vai trò như tín ngưỡng tổ nghề trong quá trình sinh kế.
Tại đây, đại đa số người dân sống bằng nghề đánh bắt cá trên sông hoặc đi làm
thuê cho các tàu đánh bắt cá biển. Theo quan niệm, những dân làm nghề sông
nước ở khu vực Nam bộ đều thờ Mẹ Nam Hải như một vị tổ nghề. Nhưng với
111
gia đình anh D.S.L có hơn 20 năm theo nghề chài lưới mỗi khi đi đánh bắt anh
đều khấn nguyện ông bà tổ tiên phù hộ cho anh được bình an, nếu hôm nào
đánh được nhiều cá bán được nhiều tiền anh sẽ mua một số thức ăn như: thịt
heo hoặc con gà, bánh ngọt, trái cây,… về nấu mâm cơm cúng tạ ơn ông đã phù
hộ cho công việc của anh được thuận lợi. Sau khi cúng xong gia đình anh bày
mâm cơm trước nhà mời một số anh em, hàng xóm lại dùng cơm, chung vui
với nhau vài chung rượu xem như ăn mừng thành quả.
Thông qua tư liệu thực địa và phân tích trên, chúng tôi nhận thấy đã có sự
tích hợp chức năng mới của tổ tiên vào trong tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người
Khmer. Đó là tổ tiên có thêm khả năng phù hộ cho những người thờ cúng đồng
thời cũng có khả năng bảo hộ như một vị tổ nghề. Nếu xem xét trong sự tương
quan với tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của các tộc người cộng cư trên cùng địa bàn,
vấn đề tích hợp vai trò của tổ tiên của người Khmer rất tương đồng với quan niệm
về vai trò của tổ tiên trong niềm tin tín ngưỡng của người Kinh và người Hoa. Vấn
đề tương đồng này sẽ được chúng tôi bàn luận rõ hơn ở chương 4 của luận án.
Như vậy có thể thấy rằng quá trình sinh kế đã tạo cho tín ngưỡng thờ cúng
tổ tiên của người Khmer ở Trà Vinh có nhiều sắc thái mới về hình thức, qui mô
cũng như quan niệm về linh hồn của tổ tiên. Những sắc thái mới này có thể được
nhìn nhận và đánh giá theo nhiều phương diện khác nhau. Nếu đứng ở quan điểm
truyền thống hoặc quan niệm về tôn giáo thì sự thay đổi kinh tế đã và đang phá
vỡ những giá trị truyền thống. Tuy nhiên, nếu chúng ta nhìn vấn đề ở khía cạnh
qui luật giao lưu tiến biến văn hoá thì đây là một vấn đề tất yết của sự vận động
và phát triển xã hội, các giá trị văn hóa cũ không phải bị phá vỡ mà chỉ là sự
dung hợp thêm nhưng giá trị văn hóa khác từ nhu cầu của chủ thể văn hóa.
3.3. Sự biến đổi của tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên do tác động của hôn
nhân đa tộc người
Trong truyền thống, phong tục cưới xin của người Khmer ở Trà Vinh
được qui định khá nghiêm ngặt. Đám cưới thường được tổ chức vào mùa khô,
từ tháng 10 đến tháng 4 âm lịch, trước lễ Chôl Chnăm Thmây và sau khi mùa
màng thu hoạch xong. Tuyệt đối lễ cưới không được cử hành vào những tháng
112
“Vassa”, tức là những tháng thuộc mùa vào lễ nhập hạ của các vị sư sãi (từ 15/6
đến 15/9 âm lịch). Lễ cưới của người Khmer phải trải qua các lễ như: Lễ Si –
Sla – dâk (tương đương với lễ dạm ngõ của người Kinh), Lễ Si – Sla – đâk sèng
(tương đương với lễ ăn hỏi của người Kinh), Lễ Si – Sla – banh Cheabpeak
(tương đương với lễ cưới của người Kinh). Trong mỗi lễ lại có nhưng tiểu tiết
lễ khác nhau. Bên cạnh đó còn có những qui định về tuổi tác, hôn nhân trong
tộc người, ngoài tộc người,…Tuy nhiên, ngày nay tính dân chủ của Phật giáo
Nam tông đã ảnh hưởng sâu rộng đến cộng đồng nên tạo điều kiện cho nam nữ
Khmer đến tuổi trưởng thành được tự do yêu nhau, không bị cha mẹ hay qui
định của lễ tộc ràng buộc. Trừ anh chị em ruột không được lấy nhau, còn ngoài
ra có thể kết hôn rộng rãi, những gia đình giàu có còn khuyến khích họ hàng
lấy nhau, ở quây quần trong một khu vực để bảo vệ dòng họ và cái chính là giữ
gìn của cải không bị san sẻ ra ngoài.
Chính tư tưởng mở thoáng này đã tạo điều kiện để thanh niên nam nữ
của người Kinh, người Hoa và người Khmer có điều kiện tìm hiểu, yêu thương
và kết hôn với nhau. Thông qua mối quan hệ hôn nhân đã đa dạng hoá tín
ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Khmer và các tộc người cộng cư trên địa
bàn tỉnh Trà Vinh. Chúng tôi nhận thấy có hai xu hướng biến đổi trong tín
ngưỡng thờ cúng tổ tiên do quá trình cộng cư và kết hôn đa tộc người như sau:
Thứ nhất là xu hướng tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Khmer được
giản lược và tiếp nhận các giá trị văn hoá tín ngưỡng của các tộc người cộng
cư. Đó là trường hợp xảy ra khi người con gái tộc người Khmer đi lấy chồng
thuộc tộc người khác và sinh sống bên nhà chồng nên các nghi lễ thờ cúng tổ
tiên được tổ chức vào ngày mất như nghi lễ của nhà chồng và nếu gia đình định
cư lâu dài qua đến thế hệ thứ hai thì tiếp nhận thêm nhiều nghi lễ khác. Chẳng
hạn như gia đình N.V.T., mẹ anh là người Khmer ở huyện Tiểu Cần, ba là ông
N.V.M (người Kinh), ngày mẹ anh mất gia đình tổ chức tang lễ theo phong tục
của người Kinh. Hiện tại trên bàn thờ gia tiên nhà anh vẫn có thờ ông bà ngoại
nhưng hằng năm vẫn tổ chức cúng giỗ theo phong tục của người Kinh. Hiện
113
tượng này cũng xuất hiện nhiều tại các địa bàn có số lượng người Khmer sinh
sống ít so với người Kinh và người Hoa như trung tâm Thành phố Trà Vinh.
Thứ hai là xu hướng tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của các tộc người khác
hoà trộn vào tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Khmer và ngược lại. Chẳng
hạn: tại Thành phố Trà Vinh chúng tôi gặp không ít trường hợp các gia đình có
vợ hoặc chồng là người thuộc tộc người Kinh hoặc người Hoa. Sự phân biệt
này diễn ra theo hướng phụ thuộc vào tập quán của gia đình. Nghĩa là nếu người
con gái Khmer đi lấy chồng người Kinh hoặc người Hoa và làm dâu ở gia đình
chồng thì đối tượng thờ cúng là ông bà tổ tiên bên chồng, nếu có thỉnh ông bà
cha mẹ về thờ phụng thì tổ chức theo phong tục của tộc người bên chồng.
Trường hợp này đặc biệt xuất hiện nhiều ở Thành phố Trà Vinh, thậm chí có ở
nhiều gia đình mới đến đây sinh sống hoặc thuê nhà để ở. Chẳng hạn như trường
hợp chị S.S.P ở Ấp Phú Khánh, xã Song Lộc, huyện Châu Thành thỉnh di ảnh
của mẹ ruột từ gia đình của đứa em trai út về nhà chồng (là người Kinh) để thờ.
Vợ chồng chị phải chuẩn bị một bàn thờ riêng để đặt di ảnh và bát hương. Hằng
ngày chị thắp hương cho mẹ cùng lúc với thắp hương cho cha mẹ chồng, hằng
năm gia đình chị tổ chức cúng giỗ mẹ vào ngày mất như phong tục nhà chồng.
Theo ông S.S.S là cán bộ dân số của Thành phố Trà Vinh thì “Việc cúng ông
bà bây giờ không còn phân biệt nữa nên người Khmer cũng chọn cách cúng
gọn nhẹ như người Kinh cho tiện công việc”. Ngược lại nếu người con trai
người Kinh hoặc người Hoa đi lấy vợ người Khmer mà ở rể bên gia đình vợ thì
ông bà tổ tiên được thờ cúng là của gia đình bên vợ và phụ thuộc vào tập quán
của gia đình bên vợ (trường hợp này chúng tôi chưa tìm thấy trên địa bàn khảo
sát mà chỉ thông qua ý kiến của thông tín viên). Không chỉ vậy, cũng có trường
hợp sau một khoảng thời gian sinh sống, gia đình lại chuyển về bên vợ hoặc
bên chồng để cư trú thì đối tượng thờ cúng được thay đổi theo phong tục của
số đông tộc người tại địa bàn cư trú. Sự thay đổi này cũng phù hợp bởi vì tín
ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Khmer, người Kinh và người Hoa hiện tại
không khác biệt nhiều. Sự thay đổi này tạo điều kiện thuận lợi cho sinh hoạt tín
114
ngưỡng của gia đình đồng thời thể hiện sự tôn trọng đối với phong tục tập quán
của cộng đồng bên vợ hoặc bên chồng.
Bên cạnh đó cũng có nhiều trường hợp có sự giao lưu các giá trị văn hoá
tín ngưỡng trong tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của cả hai tộc người. Đó là trường
hợp tang ma được tổ chức theo phong tục của người Kinh, người Hoa nhưng
đọc kinh để siêu thoát cho linh hồn là kinh tiếng Pali. Tương tự như vậy, tang
ma của người Khmer được tổ chức giản lược và pha trộn nhiều nghi lễ của
người Kinh và người Hoa nhưng được các vị Achar tổ chức và sư sãi đọc kinh
tiếng Pali. Trong xu hướng đánh giá này chúng tôi không chỉ định lễ thức nào
là của người Kinh, người Hoa hay người Khmer. Chúng tôi chỉ trên cở sở dữ
liệu truyền thống thông qua phỏng vấn nhận định của chính những người trong
cộng đồng người Khmer để chỉ ra những yếu tố giao lưu tiếp biến văn hoá tín
ngưỡng cần bàn luận. Theo Achar D.T “Ngày nay, dựa vào đám tang hoặc hình
thức thờ cúng ông bà thì rất khó biết được gia đình đó có thành viên là người
Khmer không vì việc quyết định cách thức tổ chức là do gia đình quyết định
nên có khi được tổ chức theo phong tục của bên chồng hay bên vợ. Chỉ có
những gia đình có 2 vợ chồng đều là người Khmer thì dễ biết”. Thông qua sự
giao thoa về hôn nhân đa tộc người giúp cho tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của
các dân tộc được đa dạng hoá nhiều màu sắc hơn, đồng thời cũng làm thay đổi
những giá trị truyền thống trong tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của mỗi tộc người
ở một mức độ nhất định.
3.4. Biến đổi qua giao lưu văn hóa với các tộc người cộng cư
Từ kết quả khảo sát cho thấy hiện nay trong quá trình cộng cư, giao lưu
văn hóa đã và đang dẫn đến khá nhiều điểm tương đồng giữa tín ngưỡng thờ
cúng tổ tiên của người Khmer với các tộc người cộng cư như người Kinh, người
Hoa. Cụ thể:
Việc lập bàn thờ tổ tiên có nhiều sự tương đồng với người Kinh và người
Hoa. Theo lời của cụ ông K.B (85 tuổi) ở ấp Tắc Hố, xã Ngọc Biên, huyện Trà
Cú “Ngày trước lúc tôi còn nhỏ thì chỉ đi theo cha mẹ lên chùa để cúng ông bà
và đọc kinh cho ông bà nhưng sau này khi cưới vợ rồi nhận thờ cúng ông bà,
115
thấy nhiều gia đình tổ chức cúng tại nhà nên cũng làm bàn thờ để cúng nhưng
cũng phải lên chùa”. Cũng theo lời của Thông tín viên T. S.V thì: “Có thể tục
thờ cúng tổ tiên chịu ảnh hưởng của người Kinh từ việc lập bàn thờ tại nhà và
thờ di ảnh người mất”. Người Khmer theo Phật giáo Nam tông nên phong tục
tang ma và thờ cúng linh hồn tổ tiên tương tự như người Thái Lan, Lào và
Capuchia, vì chịu ảnh hưởng chung một loại hình tôn giáo và văn hóa Ấn Độ.
Sau khi thực hiện nghi lễ hỏa táng cho người chết, di cốt được người thân cho
vào một chiếc bình, gửi vào ngôi chùa gần nhà. Cho nên việc tổ chức đám
phước dành cho linh hồn hay các nghi thức cúng cầu siêu đều phải diễn ra trong
chùa với sự trụ trì của chư tăng. Theo văn hóa truyền thống, người Khmer đi
chùa với mục đích chiêm bái Phật, thỉnh an chư tăng để cầu an tạ gắm trong
chùa. Ngày nay hầu hết người Khmer tại Trà Vinh đều đã lập bàn thờ tổ tiên tại
nhà, thắp hương hành lễ thường ngày và cầu khấn ông bà phù hộ cho con cháu.
Tuy nhiên, người Khmer vẫn đến chùa hành lễ cúng và cầu siêu cho ông bà theo
văn hóa truyền thống. Chính điều này đã tạo nên một điểm mới trong quá trình
hỗn dung văn hóa thông qua thờ cúng tổ tiên của người Khmer đó là việc tin linh
hồn của tổ tiên ngự trị tại gia như quan niệm của người Kinh và người Hoa, nhưng
đồng thời người Khmer vẫn tin linh hồn của tổ tiên ngự trị tại chùa theo truyền
thống văn hóa. Hiện nay việc lập thờ tổ tiên tại gia và thờ di ảnh đã phổ biến trong
cộng đồng người Khmer ở Trà Vinh. Ngoài ra, theo khảo sát của chúng tôi tại gia
đình anh K.D.T ở ấp Trà Sất C huyện Trà Cú cho thấy phía sau di ảnh tổ tiên, gia
đình anh còn trang trí thêm tranh vãng sanh với hình ảnh long, phụng, văn tự chữ
Hán với niên đại ghi năm 2001. Điều đó đã minh chứng thêm cho cách thiết lập
và trang trí bàn thờ tổ tiên của người Khmer có sự giao thao văn hóa với cộng
đồng người Kinh, người Hoa đang cộng cư vào thời gian gần đây.
Ngày nay, tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Khmer ở Trà Vinh đã
và đang tiếp tục thể hiện sự giao lưu với văn hóa của các tộc người anh em bằng
những dạng thức mới. Chẳng hạn, ngoài hình thức hỏa táng người thân khi qua
đời theo truyền thống thì ngày nay xuất hiện hình thức địa táng (chôn người
chết). Hình thức thiêu và chôn xác người chết đã và đang tồn tại song song
116
trong tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Khmer ở Trà Vinh. Trong khi đó
hình thức địa táng từ lâu đã trở thành phong tục của người Kinh và người Hoa.
Điều này cũng đã được sư trụ trì chùa Âng T.S.X xác nhận: “Ngày nay người
Khmer cũng có tục chôn người mất giống như người Kinh chứ trước kia chỉ
thiêu thôi”. Hay ở một khía cạnh khác là việc con cháu mang khăn tang khi có
người thân qua đời. Ngày nay khi tham dự tang lễ của người Khmer ở Trà Vinh
người ta không khó để nhận thấy bên cạnh việc quấn khăn tang choàng ngang cổ
theo kiểu nút sơn ca (đây là cách quấn khăn tang truyền thống của người Khmer),
thì còn xen lẫn cách quấn khăn tang ngang trán như người Kinh và người Hoa
tại địa phương. Theo truyền thống của người Khmer, khăn tang được choàng
ngang cổ. Nhưng theo cách giải thích cho hiện tượng quấn khăn tang ngang trán
là vì khi nhà có tang lễ con cháu trong gia đình phải tham gia việc nấu nướng
mâm cỗ để tiếp đãi khách đến chia buồn cùng gia đình nên ngày nay họ chọn
cách quấn khăn tang ngang trán để tiện lợi trong công việc.
Trong hình thức cúng tổ tiên cũng có khá nhiều gia đình đã chuyển sang
tổ chức cúng tổ tiên vào ngày mất theo truyền thống của người Hoa và người
Kinh. Như đã trình bày ở trên tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Khmer ở
Trà Vinh đã và đang có những nét tương đồng với tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên
của các tộc người anh em trên địa bàn cư trú. Thứ nhất vấn đề hôn nhân ngoại
tộc đã tạo nên nhiều thay đổi trong việc thờ cúng tổ tiên của người Khmer như
sự phụ thuộc vào phong tục tập quán của địa phương bên chồng hay bên vợ mà
đã xuất hiện hình thức cúng ông bà tổ tiên theo ngày mất nên dẫn đến việc cúng
cho từng thành viên trong dòng họ được gọi là “tổ tiên”. Đơn cử như gia đình
anh D.S.V ở khóm 2, phường 1 thành phố Trà Vinh, gia đình anh có 2 anh em,
sau khi người em gái lập gia đình chuyển về Thành phố Hồ Chí Minh sinh sống
thì anh và vợ chuyển đến sống tại một khu dân cư. Ngoài việc tổ chức thờ cúng
cha mẹ hằng ngày và tổ chức lễ cúng vào ngày Đôlta anh còn tổ chức cúng cha
mẹ vào ngày mất. Lý do anh chọn cách cúng này là “Sống ở đây mọi người đều
làm đám giỗ cho ông bà, mình cũng tổ chức cúng giỗ để mời mọi người hàng
xóm qua lại cho có tình nghĩa, cúng thêm một lần thì tốt cho ông bà chứ có tốn
117
bao nhiêu”. Tuy cúng theo ngày mất là một mốc thời gian mới nhưng anh vẫn
mời ông Achar và các vị sư về đọc kinh cầu siêu cho ông bà tổ tiên trước ngày
tiếp đãi khách. Hiện tượng này xuất hiện khá nhiều ở các hộ dân tại thành phố
Trà Vinh, Thị trấn Trà Cú và Thị trấn Châu Thành, đặc biệt phổ biến ở các gia
đình có người làm công chức. Đây là hiện tượng hợp lí bởi lẽ người Khmer tại
các địa bàn này chỉ chiếm khoảng 19,96% dân số nên việc giao lưu văn hóa diễn
ra mạnh hơn so với các địa bàn còn lại. Như vậy việc cúng tổ tiên của người
Khmer không chỉ theo lối truyền thống mà giờ được tăng thêm lượt cúng với nhu
cầu tạo mối quan hệ với cộng đồng trong cuộc sống thường nhật.
Ngoài ra, ở người Khmer cũng đã xuất hiện việc thờ cúng tổ tiên theo
hình thức của tộc người cộng cư. Đó là việc chuyển hoàn toàn về hình thức lẫn
nội dung thờ cúng sang hình thức của tộc người Kinh hay người Hoa, cụ thể
như: Lập bàn thờ cho từng thành viên trong tổ tiên, không đặt bàn thờ Phật bên
trên bàn thờ tổ tiên, không tổ chức tụng kinh cầu siêu cho người mất vào ngày
cúng giỗ mà thay vào đó là khấn ông bà tổ tiên về dùng cơm với con cháu.
Những trường hợp này xuất hiện khá nhiều ở huyện Châu Thành và Thành phố
Trà Vinh với trường hợp người phụ nữ Khmer lấy chồng người Kinh hoặc
người Hoa mà trong gia đình chỉ duy nhất một người con gái. Khi cha mẹ qua
đời họ vẫn về lại gia đình thực hiện tang lễ theo truyền thống của tộc người
Khmer nhưng sau đó sẽ chuyển về nhà chồng thờ cúng giống như phương thức
của gia đình bên chồng. Chúng tôi chỉ tìm được một vài trường hợp như của
gia đình chị D.P ở khóm 4, phường 8, thành phố Trà Vinh, hoặc gia đình chị
T.T.H ở ấp Trà Nóc, xã Song Lộc, huyện Châu Thành. Tuy không được tổ chức
cúng ông bà theo truyền thống của tộc người mình nhưng các chị đều cho biết
không cảm thấy buồn phiền vì “Cúng theo ngày chết thì cũng có mời tất cả ông
bà của tổ tiên về ăn cơm chung, không đọc được kinh nhưng quan trọng là tấm
lòng”. Vì sống bên nhà chồng nên hai chị đồng ý thay đổi hình thức thờ cúng
tổ tiên để phù hợp với gia đình bên chồng. Đúng như những lời chia sẻ của họ,
chúng tôi nhận thấy xung quanh địa bàn cư trú của họ hầu hết là người Kinh
nên nếu tổ chức cúng ông bà vào dịp Đôlta theo truyền thống việc đọc kinh sẽ
118
làm ảnh hưởng đến những gia đình xung quanh. Tại địa bàn huyện Trà Cú
không thấy có xu hướng này có lẽ là do đại đa số cư dân ở đây là người Khmer.
Thêm vào đó là trường hợp mỗi gia đình người Khmer chỉ có một con gái cũng
khá hiếm đối với cộng đồng tộc người Khmer ở Trà Cú nói riêng và ở Trà Vinh
nói chung. Nếu đứng ở góc độ truyền thống, vấn đề hôn nhân ngoại tộc và sự
phụ thuộc trong hôn nhân phần nào đó đã là nhạt nhòa đi các giá trị truyền
thống của tộc người. Nhưng văn hóa vốn dĩ là kết quả của quá trình giao thoa,
sáng tạo và tích lũy nên việc nảy sinh những biểu hiện mới cũng giúp cho tín
ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Khmer thêm phong phú và đa dạng.
Không chỉ vậy, trong tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Khmer cũng
đã có hiện tượng phân tầng tôn ti theo vai vế của tổ tiên. Người Khmer vốn
không sử dụng bài vị để tượng trưng cho tổ tiên và phân thứ bậc bài vị theo xu
hướng từ thấp lên cao như người Kinh và người Hoa tại địa phương nhưng
ngày nay đã xuất hiện hiện tượng sắp xếp di ảnh theo kiểu ai ở vai vế lớn hơn
thì sẽ xếp cao hơn. Cách sắp xếp này không được làm từ đầu thông qua thiết kế
bàn thờ phân tầng mà dùng các vật dụng trong gia đình như sách hoặc hộp giấy
trang trí lại cho đẹp để làm đế và đặt di ảnh người đã khuất với thứ bậc cao nhất
ở trên dần dần xuống thấp. Một số gia đình làm khung ảnh cho ông bà có đế
cao hơn để phân biệt với cha mẹ và con cháu. Nếu ở người Kinh và người Hoa
sẽ phân chia bài vị tổ tiên theo tầng bậc từ 5 đến 6 đời để con cháu ghi nhớ và
thờ cúng, thậm chí còn phân biệt được các chi họ trong dòng tộc thì người
Khmer không quan trọng việc chi tiết. Xuất phát từ truyền thống thờ cúng tổ
tiên theo hình thức cộng gộp, thêm vào đó việc xác định tôn ti trong thờ cúng
chỉ mới xuất hiện trong khoảng thời gian gần đây nên tộc người Khmer vẫn
chưa xác định việc cần phải thờ bao nhiêu đời mà chủ yếu là để “con cháu phân
biệt được mối quan hệ trong dòng họ”. Chúng tôi không cho rằng việc phân
chia thứ bậc, tôn ti này là sự du nhập hoàn toàn hay vay mượn từ tín ngưỡng
thờ cúng tổ tiên của người Kinh hay người Hoa. Tuy nhiên, nếu đối chiếu lại
với các giá trị truyền thống trong thờ cúng tổ tiên của người Khmer cũng như
việc xuất hiện không đồng thời của hiện tượng phân chia này tại các gia đình
119
có bàn thờ tổ tiên cho thấy rằng việc phân biệt tôn ti của tổ tiên trong thờ cúng
chỉ mới bắt đầu được dung hợp trong khoảng thời gian gần đây để nhằm mục
đích giáo dục mối quan hệ huyết thống trong dòng tộc và làm đa dạng thêm các
giá trị văn hóa trong tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Khmer.
Từ kết quả phân tích cho thấy sự giao lưu văn hóa trong tín ngưỡng thờ
cúng tổ tiên của người Khmer là sự dung hợp từ yếu tố Phật giáo và tinh thần
đạo hiếu trong văn hóa của người Kinh và người Hoa. Thông qua truyền thuyết
và sức ảnh hưởng của Phật giáo Nam tông đã hình thành một thế giới cho linh
hồn người mất tồn tại, kết hợp với các nghi thức và Kinh phật để giúp đỡ linh
hồn được siêu thoát đầu thai đồng thời đáp ứng nhu cầu tinh thần của con cháu
đang thờ cúng. Mặt khác, ngoài ý nghĩa thờ cúng tổ tiên để giúp cho linh hồn
nhận được phước báo thì người Khmer còn xem thờ cúng tổ tiên là một cách
thức để thể hiện đạo hiếu của con người, thể hiện đạo lý uống nước nhớ nguồn.
Bên cạnh đó, trong giao lưu tiếp biến văn hóa của người Khmer còn cho
thấy sự chấp nhận đa dạng trong quá trình cộng cư với các tộc người khác. Cụ
thể như sự đa dạng trong quan niệm về linh hồn tổ tiên của người Khmer: người
Khmer cho rằng linh hồn sẽ đi đảnh lễ đức Phật để được đầu thai hoặc bị đày
xuống địa ngục nhưng đồng thời cũng tin linh hồn sẽ về với tổ tiên sau khi mất
và con đường đi về với tổ tiên sau khi con người qua đời, đồng thời cũng tin linh
hồn tổ tiên ngự trị trên bàn thờ tại gia. Hay ở một hình thức khác; khi thờ cúng
tổ tiên người Khmer tổ chức Đôlta, đọc kinh, chăm lo cho các vị sư để tạo
“phước” cho linh hồn sớm được đầu thai nhưng đồng thời cũng có hình thức
dâng cúng tổ tiên để cầu xin sự phù hộ, ban phúc cho con cháu.
3.5. Biến đổi trong nhận thức của thế hệ trẻ về tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên
Do ảnh hưởng của Phật giáo Nam tông nên người Khmer rất coi trọng lễ
nghĩa và giáo dục. Mỗi người Khmer khi mới chào đời được xem là con của
đức Phật (Phật Thích Ca Mâu Ni), khi lớn lên, con trai thì được đưa vào chùa
để tu học biết kinh kệ, lễ nghĩa, nhân sinh để ứng xử với đời, con gái thì được
giáo dục tại nhà thông qua cha mẹ và các vị Achar. Trong triết lý giáo dục của
các vị sư cả tại các chùa là hướng con người ứng xử xã hội theo hướng “hành
120
thiện tích đức” và hiếu thảo trong gia đình, hoà thuận với anh em và tôn trọng
đức Phật. Theo thông tin từ nhiều vị sư Cả (sư trụ trì), đã là người Khmer thì
phải biết kinh Phật, biết hành lễ đúng đạo đức từ nhà chùa đến gia đình. Tuy
nhiên, theo khảo sát của chúng tôi thì trong cuộc sống đương đại có rất nhiều
con em người Khmer không đọc được hoặc chỉ đọc được một ít câu kinh cầu
siêu trong các lễ cúng tổ tiên. Đây là xu hướng bắt nguồn từ sự tác động tất yếu
của các yếu tố xã hội. Trong truyền thống, con em người Khmer lớn lên được
vào chùa tu học ít nhất 3 năm để biết lễ nghĩa và trả hiếu cho cha mẹ. Tuy nhiên,
trong xã hội đương đại các em phải tập trung học theo chương trình giáo dục
phổ thông của Bộ giáo dục nên không có thời gian để đến chùa tu học. Có nhiều
trường hợp các em tận dụng thời gian hè để vào chùa tu học nhưng khoảng thời
gian đó rất ngắn không đủ để lĩnh hội được hết khối lượng kiến thức giáo dục
tại chùa. Cũng không ít trường hợp các em chọn phương thức vào chùa tu học
trong một tuần hoặc một tháng để trả hiếu cho cha mẹ, thời gian còn lại các em
tập trung vào học tập hoặc công việc mưu sinh. Tại huyện Trà Cú chúng tôi còn
tiếp cận được nhiều trường hợp các em vào chùa nhờ sư Cả xuống tóc, cạo chân
mày và ở lại chùa trong vòng một ngày để gọi là tu trả hiếu cho cho mẹ sau đó
trở về các trung tâm thành phố để đi học hoặc làm công nhân. Điều đó không
có nghĩa là tất cả con em người Khmer các thế hệ gần đây không thuộc câu kinh
nào để đọc cho ông bà tổ tiên mình được siêu thoát mà vẫn có nhiều trường hợp
đọc được một đoạn hoặc một vài câu trong đoạn này hoặc đoạn khác do thuộc
được từ những lần Achar và cha mẹ đọc trong các dịp tổ chức cúng tổ tiên. Điều
này có nguy cơ dẫn đến sự lãng quên những giá trị truyền thống trong tín
ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Khmer cũng như làm mất dần một giá trị
văn hoá độc đáo của họ. Nếu đối với người Kinh và người Hoa trên cùng địa
bàn thì văn khấn tổ tiên là chất xúc tác quan trọng để các thế hệ con cháu thể
hiện lòng thành kính, sự chăm lo của mình đối với ông bà tổ tiên, đó là tri thức
dân gian đã được kế thừa qua bao thế hệ thì kinh cầu siêu cho linh hồn tổ tiên
của người Khmer còn được coi là điều kiện không thể thiếu để giải thoát cho
linh hồn giúp họ có cơ hội quay trở lại với cuộc sống mới ở “kiếp khác”. Theo
121
đó, hành động đọc kinh cầu siêu cũng là cách thức để những người thực hành
nghi lễ tích luỹ công đức cho chính bản thân mình khi sau này có trở về với ông
bà tổ tiên. Kinh cầu siêu là loại kinh được viết bằng tiếng Pali. Do vậy, để đọc
được loại kinh này đòi hỏi người học phải kiên nhẫn và tập trung học tập trong
một khoản thời gian dài nên ngoài giá trị văn hoá, những bài kinh cầu siêu còn
thể hiện giá trị tri thức sâu sắc. Nhưng thế hệ trẻ ngày nay không đủ thời gian
để học tập, đồng thời sự biến đổi của tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên đã làm giảm
đi tầm quan trong của loại kinh này. Cũng chính vì lẽ đó mà việc đến chùa tu
học để lĩnh hội và phát huy các giá trị văn hoá của tộc người không còn là mục
tiêu quan trọng của giới trẻ.
Bên cạnh đó đã xuất hiện nhiều quan niệm giản lược nội dung nghi lễ
thờ cúng tại gia đình do công việc hoặc do quá trình cộng cư. Đơn cử như gia
đình anh S.V (37 tuổi) ở huyện Trà Cú, Anh không tổ chức cúng ba của mình
theo nghi thức truyền thống của người Khmer (cúng vài 3 ngày Sel Đôlta) mà
tổ chức cúng giỗ vào ngày mất như người Kinh, vào ngày dịp Sel Đôlta thay vì
cúng vào 3 ngày cuối tháng 8 như truyền thống thì anh chọn 1 ngày trong tháng
8 để tổ chức cúng ông bà tổ tiên và cũng là dịp để mời bạn bè đến tham dự
chung vui với gia đình. Theo anh “Bây giờ đã là thời hiện đại nên nếu mình
không đọc được kinh cầu siêu thì mình đi làm kiếm tiền về đóng góp cho chùa,
cúng dường cho các vị sư nhờ họ đọc kinh cầu siêu cho ông bà cũng tích được
nhiều phước cho ông bà”. Cũng theo quan niệm của anh kinh cầu siêu không
phải là cách duy nhất để tạo phước cho ông bà mà còn nhiều cách khác nên
mình không thuộc, không đọc được thì mình thực hiện bằng cách khác, hơn
nữa trong xã hội đương đại để mời được Achar và các vị sư đến nhà đọc kinh
là một chuyện khá khó khăn vì đối tượng này đã ít dần trong xã hội. Quan niệm
về sự tiện lợi cũng đã xuất hiện trong tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người
Khmer ở Trà Vinh. Trong tang lễ đã giản lược đi rất nhiều so với truyền thống
vì quan niệm “xã hội đã phát triển nên không cần phải rườm rà, nguyên tắc”.
Nếu nhìn nhận quan niệm này của người Khmer trong xã hội đương đại thì nó
rất phù hợp sự phát triển tất yếu của xã hội. Tuy nhiên nếu nhìn ở góc độ giá trị
122
văn hoá truyền thống thì rõ ràng đây là một trong những yếu tố làm nhạt nhoà
các giá trị truyền thống.
Nhận thức về trách nhiệm thờ cúng phần nào đó đã làm ảnh hưởng đến
vai trò kế thừa các giá trị văn hoá. Trong truyền thống của người Khmer, vai
trò thờ cúng tổ tiên được giao cho người con nhỏ nhất trong gia đình. Tuy nhiên,
trong xã hội đương đại đã xuất hiện thêm phương thức họp gia đình để thống
nhất người chịu trách nhiệm thờ cúng hoặc phương thức chia nhau để cúng nên
mỗi cá nhân trong gia đình đều không đặt trách nhiệm thờ cúng tổ tiên là của
riêng mình, ít quan tâm đến ý nghĩa và giá trị văn hoá của các nghi lễ khi tổ
chức thờ cúng tổ tiên. Bên cạnh đó, vấn đề kinh tế cũng ảnh hưởng sâu sắc đến
quan niệm thờ cúng tổ tiên thông qua việc lấy lí do kinh tế và công việc để giao
trách nhiệm thờ cúng cho các thành viên khác. Chúng tôi tiếp cận không ít
trường hợp vì công việc kinh tế nên không thể lĩnh trách nhiệm thờ cúng tổ tiên
mà giao cho các thành viên khác sau đó họ chịu trách nhiệm về các khoản kinh
phí trong ngày làm lễ cúng tổ tiên chúng tôi tạm gọi là “bù đắp kinh tế” để hoàn
thành trách nhiệm thờ cúng tổ tiên. Chúng tôi không phê phán hay đánh giá
hiện tượng xã hội này. Trên cơ sở tư liệu điền dã chúng tôi chỉ nhận định các
giá trị văn hoá đã và đang biến đổi qua đó nhìn nhận sự hỗn dung trong tín
ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Khmer.
Trong quá trình điền dã thực tế, chúng tôi cũng tiếp cận được nhiều quan
niệm mới về vấn đề mà chúng tôi tạm gọi là “linh hồn tổ tiên cảm thông”. Như
ở nội dung trên đã đề cập, vấn đề kinh tế và việc làm trong xã hội phần nào đó
đã ảnh hưởng không nhỏ đến tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Khmer ở
Trà Vinh. Có hai luồng ý kiến khác nhau về vấn đề này. Đối với những người
lớn tuổi thì luôn muốn con cháu tổ chức cúng ông bà tổ tiên theo phương thức
truyền thống, cúng vào đúng 3 ngày quan trọng nhất của lễ Đôlta, cũng có thể
cúng vào ngày mất nhưng phải cúng đúng ngày mất. Đối với những người trẻ
tuổi, cúng ông bà tổ tiên là lòng thành của con cháu nên có thể hiện là được,
không nhất thiết phải đúng vào 3 ngày chính của Đôlta mà chọn 1 ngày của
“tháng Đôlta” thì đã tạo được phước để ông bà nhận, cúng vào ngày mất là để
123
tưởng nhớ nên nếu ngày mất vào đúng ngày thứ trong tuần thì có thể đổi vào
ngày nghỉ gần nhất để thuận tiện cho các thành viên tập trung về tham dự, đồng
thời cũng dễ dàng mời khách đến chung vui cùng gia đình. Giải thích cho quan
niệm này, họ cho rằng “linh hồn tổ tiên sẽ cảm thông” cho cuộc sống của con
cháu. Lúc còn hiện hữu họ thương con cháu thì khi về với tổ tiên cũng sẽ “cảm
thông” cho con cháu.
Tiểu kết chương 3
Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên là một thành tố của xã hội. Sự vận động là
một tất yếu của xã hội nên tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên cũng biến đổi theo sự
vận động đó. Dưới tác động từ nhiều yếu tố của xã hội đương đại cũng như nhu
cầu phát triển nội sinh của chủ thể văn hoá tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của
người Khmer ở Trà Vinh đã có những thay đổi nhất định.
Trong quá trình cộng cư với các tộc người anh em tại vùng đất Trà Vinh
người Khmer đã thể hiện những giá trị văn hoá độc đáo của mình đồng thời
cũng có những dung hợp các giá trị văn hoá ở một chừng mực nhất định. Một
trong những sự dụng hợp đó là sự biến đổi về hình thức và nội dung trong tín
ngưỡng thờ cúng tổ tiên. Về mặt hình thức tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên biến đổi
theo hướng hỗn dung các hình thức tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của các tộc
người cộng cư. Sự biến đổi về mặt nội dung của tín ngưỡng là sự hỗn dung các
yếu tố tôn giáo và tín ngưỡng dân gian bản địa.
Sự thay đổi về mặt kinh tế của chủ thể văn hoá cũng là nhân tố quan trọng
tạo nên sự biến đổi trong tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Khmer. Đời sống
của những người chịu trách nhiệm thờ cúng được nâng lên làm nảy sinh quan
niệm nâng cao “đời sống của linh hồn tổ tiên” dẫn đến những biến đổi trong hành
vi thờ cúng cũng như giá trị của lễ vật và niềm tin về linh hồn tổ tiên.
Quá trình cộng cư đã giúp các tộc người trên cùng một địa bàn gắn kết
gần nhau hơn về vật chất lẫn tinh thần. Biểu hiện của sự gắn kết ấy là vấn đề
hôn nhân đa tộc người. Trong xã hội đương đại, vấn đề hôn nhân đã trở nên
bình đẳng về giới và tộc người nên tự do yêu thương và kết hôn trên cơ sở tự
nguyện đã trở thành xu hướng. Tự do về mặt hôn nhân đã tạo cho tín ngưỡng
124
thờ cúng tổ tiên của người Khmer tại Trà Vinh biến đổi đa dạng và phong phú
với nhiều dạng thức khác nhau tuỳ thuộc vào mối quan hệ hôn nhân của người
chịu trách nhiệm thờ cúng.
Quá trình giao lưu tiếp biến văn hoá với người Kinh và người Hoa tại
Trà Vinh giúp cho tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Khmer tiếp thu những
giá trị mới và loại bỏ những giá trị không còn phù hợp. Sự biến đổi theo hướng
giao lưu tiếp biến phụ thuộc khá nhiều vào địa bàn cộng cư cũng như nhu cầu
thuận lợi về mặt kinh tế, quan hệ xã hội của chủ thể văn hoá. Bên cạnh đó, nhận
thức của người chịu trách nhiệm thờ cúng trước những tác động của các yếu tố
văn hoá từ các tộc người khác là yếu tố quyết định cho sự biến đổi.
Sự thay đổi về môi trường giáo dục đã ảnh hưởng rất lớn đến nhận thức
của thế hệ trẻ về giá trị nhân văn của tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên. Sự bó hẹp
dần thời gian giáo dục tại các chùa thay vào đó là chương trình giáo dục phổ
thông theo qui định chung phần nào đó đã là cho thế hệ kế thừa không thể tiếp
cận được những giá trị truyền thống nhân văn đích thực của tín ngưỡng thờ
cúng tổ tiên. Những giá trị quan trọng như: chữ viết (chữ Pali), kinh Phật (kinh
cầu siêu, cầu an), quan niệm về sự tồn tại của linh hồn, giá trị nhân văn sâu sắc
của ngày cúng ông bà đã và đang dần bị thay đổi trong nhận thức của giới trẻ.
125
Chương 4
TÍN NGƯỠNG THỜ CÚNG TỔ TIÊN CỦA NGƯỜI KHMER
Ở TRÀ VINH: MỐI LIÊN HỆ VỚI PHẬT GIÁO NAM TÔNG,
CỘNG ĐỒNG VÀ CÁC TỘC NGƯỜI CỘNG CƯ
4.1. Ảnh hưởng của tư tưởng Phật giáo đến nhân sinh quan của
người Khmer
Từ cách hiểu nhân sinh quan là quan niệm về con người và cuộc sống của
con người, mục đích và giá trị của cuộc sống, qua khảo sát tín ngưỡng thờ cúng tổ
tiên cho thấy Phật giáo có ảnh hưởng sâu sắc đến nhân sinh quan của người Khmer.
Trước hết là đối với quan niệm về sự xuất hiện và tồn tại của con người:
Khi chúng tôi tìm hiểu vấn đề này thông qua những cuộc phỏng vấn tại các địa
bàn nghiên cứu thì đại đa số người Khmer cho rằng “Con người được cha mẹ
ông bà sinh ra” đây là vấn đề đương nhiên của cuộc sống, cách giải thích này
được chúng tôi xem như sự lý giải về sự xuất hiện lý tính của con người nên
không lấy làm căn cứ để giải thích vấn đề nhân sinh quan. Tuy nhiên, khi tìm
hiểu sâu hơn chúng tôi nhận được ý kiến cho rằng “con người đến được với thế
giới này là do kiếp trước tạo ra” nghĩa là họ cho rằng nguyên nhân để con người
xuất hiện trong cuộc sống là do những gì của “kiếp trước” (là khoảng thời gian
sống rồi chết đi 1 lần trước đó). Theo ông D.S ở ấp Tà Rom xã Đôn Châu huyện
Trà Cú thì “Cuộc sống hiện tại của mình cũng là do duyên nghiệp mà kiếp trước
tạo ra nên cố gắng sống cho tốt để phước cho kiếp sau” ông cũng luôn khuyên
bảo con cháu trong gia đình phải sống cho thật tốt, không được làm điều tội lỗi
để kiếp sau được làm người. Anh T.M.T là một cán bộ công an của tỉnh Trà
Vinh cũng cho rằng “Ông bà mình dạy phải sống lương thiện để phước lại cho
đời sau và cho con cháu, việc mình làm ông Phật (Phật Thích Ca) đều biết nên
làm việc thiện thì tốt cho mình và tốt cho đời”. Tương tự như vậy, các vị sư và
những người hiểu biết về Phật giáo Nam tông cho rằng con người hiện hữu
trong cuộc sống này là nhờ vào luật “nhân – quả” và trải qua một quá trình biến
đổi gọi là “kiếp luân hồi”. Họ tin rằng con người tồn tại trong cuộc sống này là
kết quả của “kiếp trước”. Có thể ở “kiếp trước” là súc vật, là thần, là Phật cũng
126
có thể là con người mang các giá trị khác nhau từ những giá trị đó được đức
Phật cho phép hình thành nên các dạng thức ở “kiếp này” là người hay súc vật,
thần,…Sư trụ trì chùa Surindarajabriksa (Sla Pang) ở ấp La Bang xã Đôn Châu
huyện Trà Cú còn nhấn mạnh “Đức phật cũng phải hóa thân từ nhiều kiếp để
thành chánh quả thì con người cũng phải đầu thai chuyển kiếp theo duyên
nghiệp của mình”. Như vậy, người Khmer không giải thích sự có mặt của con
người về mặt vật chất lý tính được hình thành bằng những chất gì mang đặc
trưng như thế nào? Hay nguồn gốc con người được sinh ra từ sinh thể nào như
sinh học mà họ tin có được cuộc sống thực tại là do những thành quả của “kiếp
trước” tạo nên và những thành quả của kiếp này là nguyên nhân để hình thành
kiếp tiếp theo. Từ quan niệm chết không phải là hết người Khmer tin rằng cuộc
sống là vòng tuần hoàn của “kiếp trước” – “kiếp này” – “kiếp sau”. Cũng cần
nói thêm: để có được những phân tích như trên là quá trình chúng tôi phải kết
hợp rất nhiều tư liệu phỏng vấn với nhau. Trong thực tế, khi đề cập đến vấn đề
này đại đa số những người Khmer tại các gia đình đều cho thông tin ngắn gọn
“Do cha mẹ sinh ra còn hoàn cảnh cuộc sống là do phước báo của kiếp trước”,
cũng có một hướng khác từ các vị Acha (những người khá thông hiểu về Phật
giáo Nam tông) thì giải thích khá rõ ràng theo hướng luật nhân – quả của nhà
Phật. Trên địa bàn huyện Trà Cú chúng tôi ghi nhận không ít ý kiến từ các vị
cao niên là “có được cuộc sống này là do ông Phật (Phật Thích Ca) ban cho”.
Trong khi đó, những người vừa mới lập gia đình đều không quan tâm đến vấn
đề con người được sinh ra từ đâu mà chỉ quan tâm ở mức độ cha mẹ đã sinh ra
mình và ông bà đã sinh ra cha mẹ giống như ý kiến của anh S.N.S ở huyện Trà
Cú “Việc con người sinh ra làm sao chúng tôi biết, chúng tôi chỉ biết mình được
cho mẹ sinh ra rồi nghe theo lời dạy của ông bà cha mẹ mà lớn lên”. Như vậy,
nếu chúng tôi cố gắng tìm ra nguồn gốc con người theo quan niệm của người
Khmer qua các cuộc phỏng vấn thì hoàn toàn không thể được. Đồng thời, mục
tiêu của luận án cũng không phải đi đến kết quả là chứng minh nguồn gốc của
người Khmer mà mục đích là biết được quan niệm của họ về sự tồn tại của con
người trong vũ trụ. Mặt khác, trong quan niệm về sự tiếp nối của cuộc sống
127
người Khmer tin rằng “Ông Phật (Phật Thích Ca) sẽ cho đầu thai tùy vào phước
mà mỗi người tích tạo”. Nghĩa là mọi hành vi của cuộc sống con người đều
diễn ra dưới sự quan sát của đức Phật, con người có trở về với kiếp người hay
không đều phụ thuộc vào đức Phật. Khi con người chết đi phần hồn sẽ tìm về
nơi ngự trị của Phật do vậy rất nhiều chi tiết trong tang lễ của người Khmer
nhằm nhắc nhở linh hồn đi tìm về nơi Phật ngự trị (Theo các vị Acha chỗ đặt
người chết trang trí tương đồng với hình ảnh cõi thiên đàng, ba cây nhang ghim
vào lá trầu là lễ vật để đảnh lễ đức Phật cũng là hình ảnh gợi nhớ bàn tay của
đức Phật, khi đưa quan tài đi hỏa thiêu phải có người đi trước quan tại rải bông
gòn – là biểu trưng của con đường nhiều mây trên cõi thiên đàng,…). Khi linh
hồn đến đảnh lễ, đức Phật dựa vào công đức, nghiệp báo mà linh hồn đã tạo ra
lúc sinh thời sẽ quyết định cho linh hồn được lên thiên đàng để được siêu thoát
đầu thai làm người hoặc đày xuống địa ngục bị làm súc vật hoặc mãi mãi không
được siêu thoát. Diễn biến trong cuộc sống thực tại và sự cai quản của đức Phật
là hai yếu tố quan trọng quyết định quá trình luân chuyển cuộc đời con người.
Người Khmer quan niệm rằng hành vi thiện ác đều được đức Phật nhìn thấy và
lưu giữ, có thể những người khác không thấy, thậm chí người thực hiện không
nhớ nhưng đức Phật sẽ biết được. Trong vấn đề tiếp nối cuộc sống chúng tôi
nhận thấy người Khmer khá thống nhất về vai trò của đức Phật trong cách lí
giải con người sẽ được tái tạo như thế nào. Hầu hết người Khmer trên các địa
bàn nghiên cứu đều thống nhất quan điểm theo hướng “Việc thiện hay việc ác
đều được đức Phật nhìn thấy và ghi nhớ”. Trên 3 địa bàn nghiên cứu đều có sự
khác nhau về hình thức tổ chức tang ma cho người chết nhưng tất cả đều nhằm
một mục đích đưa tiễn người chết đi gặp đức Phật. Mặc dù không ít những vị
cao niên cũng như những người trung niên khi tham dự tang lễ đều cầu mong
cho người chết được “đoàn tụ với ông bà” nhưng khi được phỏng vấn sâu về
các tình tiết trong tang lễ thì họ vẫn cho rằng linh hồn người chết sẽ đi gặp đức
Phật trước khi được “đoàn tụ với ông bà tổ tiên”. Cũng không ít những ý kiến
từ những người có học thức khá cao từ các bậc Đại học cho đến Cao học thậm
chí những người có học vị và chức quyền trong giáo hội Phật giáo cho rằng:
128
“Chết là chấm dứt cuộc sống thực tại, linh hồn sẽ đi đoàn tụ với ông bà dưới
sự hướng dẫn của đức Phật”.
Điều này cho thấy trong quan niệm của người Khmer đức Phật luôn giữ
vai trò quyết định cho vòng đời của họ nhưng đức Phật quyết định trên cơ sở
rất công bằng là dựa vào phước của linh hồn đã tạo ra. Như vậy, có thể thấy
việc thờ cúng tổ tiên của người Khmer là để cho linh hồn người chết được siêu
thoát để “đoàn tụ với tổ tiên” và tạo phước cho chính bản thân người thực hiện
hành vi thờ cúng. Nó cũng là tiền đề cho một cuộc sống mới của tổ tiên và con
người đang hiện hữu dưới sự giám sát của đức Phật.
Thông qua những nghi lễ dành cho người chết cũng như các nghi lễ trong
thờ cúng tổ tiên cho thấy người Khmer tin rằng linh hồn của tổ tiên vẫn còn tồn
tại sau khi chết. Con cháu ứng xử với linh hồn của tổ tiên theo đạo lý của sự hiếu
thảo. Thờ cúng để tạo “phước” cho linh hồn của tổ tiên sớm được siêu thoát là
hành vi ứng xử đúng đắn và phù hợp với giá trị đạo đức của cộng đồng và xã hội.
Từ những phân tích trên cho thấy quan niệm về linh hồn tổ tiên của người
Khmer vừa mang yếu tố tôn giáo vừa mang yếu tố dân gian hóa. Người Khmer
quan niệm đức Phật sẽ cai quản và quyết định “số phận” của linh hồn, sau khi
chết linh hồn của con người sẽ đi đảnh lễ đức Phật sau đó được đầu thai hoặc
hoặc ở địa ngục để chờ ngày siêu thoát. Tuy nhiên, người Khmer vẫn tin linh
hồn được “đoàn tụ với tổ tiên” nếu chưa đủ điều kiện siêu thoát thông qua niềm
tin ông bà ngự trị trên bàn thờ và có khả năng phù hộ cho con cháu mà ở phần
trên chúng tôi đã phân tích. Mặt khác nơi “đoàn tụ” của các linh hồn thì không
được chỉ rõ là ở đâu hay ở cõi nào và được hình thành ra sau. Như vậy, quan
niệm về vũ trụ quan của người Khmer đã không thống nhất với nhau. Tuy nhiên,
nếu xét ở khía cảnh hỗn dung văn hoá thì vấn đề này là tất yếu xảy ra trong quá
trình phát triển văn hoá. Khi tôn giáo chưa ảnh hưởng đến cuộc sống của chủ
thể văn hoá thì các hiện tượng tự nhiên và xã hội đều được giải thích bằng tri
thức dân gian theo sự đồng thuận của cộng đồng (linh hồn đi về với “tổ tiên”,
con người được cha mẹ sinh ra). Nhưng khi tôn giáo (Phật giáo Nam tông) có
ảnh hưởng đến đời sống tinh thần của chủ thể văn hoá đã chi phối nhiều giá trị
129
văn hoá trong đó có nhân sinh quan của họ (con người được cha mẹ sinh ra
nhưng do đức Phật quyết định, cải quản. Khi chết đi linh hồn tìm đến đức Phật,
chịu sự phán xét của đức Phật).
Đối với quan niệm về ý nghĩa giá trị cuộc sống: Thông qua tín ngưỡng
thờ cúng tổ tiên của người Khmer có thể thấy giá trị cuộc sống mà cá nhân và
cộng đồng tộc người Khmer theo đuổi có những đặc trưng như sau:
Quan niệm về sự hiếu đạo của con người: Trong mối quan hệ huyết
thống, con cháu phải có trách nhiệm đối với tổ tiên. Biểu hiện của hành vi thờ
cúng là thước đo giá trị đạo đức mà con người đạt được. Mục đích chính của
việc thờ cúng là giúp ông bà nhận được nhiều công đức của con cháu để sớm
được siêu thoát, trong quá trình thờ cúng con cháu phải đối xử với linh hồn như
lúc còn sống, phải tạo điều kiện để họ được đến chùa, được vui vẻ. Hầu hết
những người Khmer từ độ tuổi vị thành niên trở lên đều cho rằng “Thờ cúng
ông bà là trách nhiệm của con cháu, từ trước đến giờ ông bà mình thờ cúng thì
đến đời mình phải làm theo cho đúng”, hoặc “Thờ cúng ông bà là để biết ơn họ
đã sinh ra và nuôi dưỡng mình, giúp họ mau được đầu thai”. Anh T.K.A ở
phường 8 Thành phố Trà Vinh còn có quan niệm “Hiếu thảo không phải đợi
khi ông bà mình chết đi rồi cúng, đọc kinh mà ngay lúc còn sống phải chăm lo
cho ông bà, đưa ông bà đến chùa thường xuyên để tạo phước cho họ”, “Ông
bà đã mất nhưng phải đối xử với họ như lúc còn sống”. Đó là lí do mà trong lễ
Đôlta con cháu phải bày mâm bàn, thức ăn, hoa quả, chuẩn bị chiếu, gối mới
để mời ông bà về nhà với con cháu. Sau lễ cúng, con cháu phải có lời mời ông
bà ở lại vui chơi, mời ông bà lên chùa nghe kinh kệ và xem múa hát trong các
ngày tổ chức Đôlta. Như vậy đạo đức của mỗi con người không chỉ đánh giá
bằng hành vi thường nhật mà còn ở sự thành tâm thành khẩn đối với những
người đã khuất. Qua cách ứng xử với tổ tiên cũng giáo dục cách đối xử của
những thành viên trong gia đình về đạo lý nguồn cội và trật tự tôn ti trong gia
đình, gia tộc. Trong gia đình, người Khmer không phân công ai sẽ là người thắp
hương hằng ngày mà đến giờ thắp hương con cháu trong gia đình tự nhận thấy
trách nhiệm của mình mà thực hiện. Tại gia đình ông S.V.M ở ấp Đầu Dòng 1
130
xã Phước Hưng huyện Trà Cú là gia đình nhiều thế hệ nhất trong cuộc khảo sát
của chúng tôi. Ông S.V.M đã lên chức Cụ nhưng việc thắp hương cho tổ tiên
không cần phải phân công cho các thành viên. Theo ông “Con cháu thấy mình
không làm gì thì đến giờ tự đi thắp hương. Có những hôm phải nhắc nhở sợ tụi
nhỏ quên nhưng mỗi đứa tự biết trách nhiệm của mình mà làm”. Cũng có
trường hợp gia đình từ 2 thế hệ trở lên thường là người chủ gia sẽ thực hiện
việc thắp hương, nhưng nếu con cháu trong gia đình muốn thắp thêm vào giờ
đó thì vẫn có thể thực hiện lần nữa. Như vậy, lòng hiếu đạo đã được giáo dục
sâu sắc trong tâm thức của mỗi cá nhân người Khmer và trở thành một phản
ứng bản năng trong mỗi thành viên. Trên ba địa bàn nghiên cứu mà chúng tôi
tiếp cận có sự khác nhau về qui mô tổ chức cúng ông bà vào dịp Đôlta. Chẳng
hạn: tại huyện Trà Cú, đại đa số các gia đình đều tổ chức cúng ông bà với qui
mô khá lớn và đồng loạt trong ba ngày chính của lễ. Trong khi đó, không khí
đồng loạt này sẽ giảm dần từ Trà Cú đến Châu Thành và Thành phố Trà Vinh.
Trên thực tế sự giảm dần này cũng khá phù hợp bởi vì phần lớn các gia đình có
nhiều thế hệ được tập trung ở huyện Trà Cú nên khi tổ chức cúng ông bà họ
chọn ngày chính của dịp Đôlta để con cháu đi làm xa tập trung được đầy đủ tạo
nên không khí của gia đình đầm ấm hơn. Ngược lại tại Thành phố Trà Vinh có
mật độ người Khmer thấp nhất trong 3 địa bàn, thêm vào đó phần lớn lại là
người lao động tạm trú nên vào dịp Đôlta họ tập trung về gia đình để sum họp.
Mặt khác do yêu cầu công việc nên họ sắp xếp cúng ông bà theo hướng ưu tiên
phù hợp với công việc. Tuy nhiên, dù cúng to hay nhỏ, đúng vào ngày chính
hay không thì người Khmer không xem đó là điều quan trọng mà quan trọng là
các thành viên có thực hiện hay không và có thành tâm không. Đúng như lời
của ông S.V.M nói “Quan trọng nhất là con cháu tưởng nhớ đến ông bà và tổ
chức cúng để họ được phước chứ không quan trọng lớn hay nhỏ”. Các vị sư
trong chùa cũng đồng tình rằng “Một chén cơm dâng cũng hằng ngày còn tạo
được phước đức hơn nhiều lần so với tổ chức linh đình rồi quên đi ông bà”.
Sự hòa thuận của các thành viên trong gia đình cũng là một tiêu chí đạo
đức giữ một vai trò khá quan trọng trong tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người
131
Khmer. Chúng tôi nhận thấy rất nhiều trường hợp chia nhau thờ cúng ông bà
tại các gia đình khá độc đáo. Chẳng hạn, một vị tổ tiên có thể được thờ ở nhiều
gia đình khác nhau. Đó là trường hợp khi cha mẹ qua đời con cháu ở xa nhau
nên mỗi người con đều lập bàn thờ để thể hiện lòng thành kính với cha mẹ trong
cuộc sống hằng ngày, đến ngày cúng Đôlta thì tập trung về lại ngôi nhà mà sinh
thời cha mẹ, ông bà sinh sống để tổ chức lễ cúng. Cũng có trường hợp ông bà
cha mẹ được tổ chức cúng nhiều lần tại các gia đình của con cháu. Tại Thành
phố Trà Vinh chúng tôi nhận thấy có nhiều trường hợp cha mẹ được mỗi đứa
con lập bàn thờ tại nhà riêng, khi vào tháng Đôlta (tháng 8 âm lịch) họ sẽ tổ
chức cúng ông bà cha mẹ tại ngôi nhà mà cha mẹ sinh thời đã sinh sống và để
lại cho một người con nào đó trong gia đình thụ hưởng. Các anh em còn lại
chọn ngày để tiếp tục tổ chức cúng ông bà cha mẹ và mời anh em đến dự. Nếu
nhìn ở khía cạnh kinh tế, tổ chức cúng ông bà như trên là khá tốn kém nhưng
người Khmer thường không quan trọng tổ chức lớn hay nhỏ mà họ quan trọng
tổ chức được nhiều lần thì ông bà tổ tiên nhận được nhiều “phước” của con
cháu đồng thời con cháu cũng tích tạo được công đức cho mình. Đánh giá về
vấn đề chia nhau để thờ cúng tổ tiên sư Cả T.S.N cho biết “Trong truyền thống
không có hiện tượng chia nhau để thờ hoặc thờ 1 người ở nhiều gia đình như
vậy. Ngày nay khi các gia đình có điều kiện thì lựa chọn nhiều cách thức thờ
cúng ông bà nhưng dù có thờ cách nào thì con cháu phải thành tâm tạo phước
cho ông bà là tốt nhất”
Tổ tiên được quan niệm là những linh hồn phụ thuộc vào đức Phật nên
trong thờ cúng phải thể hiện sự tôn kính với tôn giáo. Sự tôn kính này thể hiện
rõ nhất qua cách bài trí bàn thờ tổ tiên. Đó là việc ưu tiên theo phương thẳng
đứng khi bài trí, phối thờ trên bàn thờ tổ tiên, đức Phật ngự trị ở vị trí cao nhất
đến các vị sư Cả và thấp nhất là ông bà tổ tiên, khi hành lễ thì hành lễ đức Phật
trước và cuối cùng là tổ tiên. Trên ba địa bàn mà chúng tôi khảo sát thì hầu hết
các gia đình đều có sự phối thờ giữa các vị tổ tiên với Phật và các vị sư. Có
trường hợp bàn thờ được lập chung với bàn thờ tổ tiên (xuất hiện nhiều nhất tại
các gia đình ở huyện Trà Cú và huyện Châu Thành), cũng có trường hợp bàn
132
thờ Phật được lập riêng với bàn thờ tổ tiên (xuất hiện nhiều ở trung tâm Thành
phố Trà Vinh) nhưng đều thể hiện sự tôn trọng Phật giáo với nguyên tắc từ đối
tượng ưu tiên được đặt ở vị trí cao nhất. Trong ngày lễ Đôlta nói riêng và các
dịp lễ khác nói chung, việc quan tâm chăm lo cho các vị sư trong chùa cũng là
một cách thức để con cháu tạo phước cho tổ tiên được siêu thoát. Chăm lo cho
các vị sư ở đây không phải chăm sóc cuộc sống hằng ngày mà thông qua các lễ
vật dâng lên cúng ông bà tổ tiên giúp các vị sư có thể sử dụng hằng này trong
sinh hoạt tại chùa hoặc hành động dâng cơm cho các vị sư vào giờ ngọ hay
tham gia vào các công việc quét dọn vệ sinh chùa. Như vậy, đạo đức của con
người trong cuộc sống không chỉ là ứng xử của cá nhân đối với tổ tiên những
người có quan hệ huyết thống mà còn là ứng xử của cá nhân đối với tôn giáo.
Thông qua tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên cho thấy nhân sinh quan của người
Khmer có sự tổng hợp từ quan điểm của Phật giáo Nam tông về con người và
cuộc đời: quan niệm về nguyên nhân sinh ra con người cũng như việc giải thích
phương thức tồn tại; giá trị cuộc sống mà con người cần theo đuổi luôn lấy luật
“nhân – quả” của nhà Phật để làm phương thức ứng xử. Trong tiêu chí để đánh
giá đạo đức của con người thì việc ứng xử với tôn giáo mà cụ thể là việc ứng
xử với các vị sư sãi và lòng thành kính đối với đức Phật là một tiêu chí quan
trọng không thể thiếu.
4.2. Mối quan hệ tương hỗ giữa Phật giáo và tín ngưỡng dân gian
trong thực hành tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Khmer
Từ kết quả khảo sát, có thể thấy Phật giáo Nam tông đã và đang tồn tại
như là yếu tố không thể thiếu trong tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người
Khmer ở Trà Vinh.
Ta biết rằng tang lễ là nghi lễ chuyển đổi để đưa linh hồn người mất về
đức Phật và về với tổ tiên ông bà. Thông qua tang lễ, Phật giáo Nam tông đã
đưa kinh Phật vào cuộc sống cộng đồng người Khmer. Dù tang lễ được tổ chức
với qui mô lớn hay nhỏ đều không thể thiếu kinh Phật. Nghi thức tổ chức tang
ma tại các địa phương có thể khác nhau nhưng bài kinh đọc trong tang lễ phải
là kinh của Phật giáo Nam tông và được đọc theo tiếng Pali. Anh T. T. A - một
133
Achar thành thạo việc thực hành nghi lễ, thường xuyên được mời thực hiện các
nghi thức tang lễ cho các hộ gia đình tại huyện Trà Cú cho biết “Tùy theo điều
kiện của từng nhà mà các loại lễ vật có khác nhau, có khi đầy đủ có khi thiếu,
chỗ ít chỗ nhiều, nhưng nó không quan trọng mà quan trọng nhất là phải đọc
kinh mỗi ngày 2 lần cho vong hồn người chết”. Cũng theo anh, kinh đọc trong
đám tang là kinh cầu an và kinh cầu siêu đều được đọc theo âm của tiếng Pali
[P6, P8]. Hai hồi kinh này nhằm để giải thoát cho linh hồn được an nhàn về với
đức Phật, đồng thời giúp cho con cháu được an yên sau khi mất đi người thân.
Tuy nhiên, đối với phần lớn người dân khi được phỏng vấn về tác dụng khi
đọc kinh trong tang lễ thì họ chỉ trả lời “Tang lễ thì phải đọc kinh của Phật,
ông bà ngày trước làm sao thì mình phải là vậy”. Theo quan sát của chúng tôi,
khi tham dự các nghi lễ trong tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Khmer tại
Trà Vinh trong lúc các vị sư hoặc Achar đọc kinh sẽ có con cháu trong gia đình
đọc theo, nhưng chỉ đọc một đoạn rồi lại ngừng, sau đó lại tiếp tục đọc đoạn
khác. Nguyên nhân không đọc liên tục được là do không thể thuộc được hết bài
kinh. Họ quan niệm rằng “Nếu có nhiều con cháu đọc được kinh sẽ giúp ông
bà nghe được và mau chóng siêu thoát, nhưng vì không thể thuộc được hết nên
thuộc đến đâu đọc đến đó”. Tìm hiểu vấn đề này, chúng tôi được em S.B.V
chia sẻ “chúng em đọc được là do nghe các vị sư hoặc Achar đọc nhiều rồi đọc
theo chứ không biết chữ”. Chúng tôi cũng được Sư T.S.X chia sẻ “muốn đọc
được tiếng Pali thì phải học ít nhất hết lớp 9 (lớp học được tổ chức theo hình
thức giáo dục của chùa Phật giáo Nam tông), muốn đọc và hiểu được kinh Phật
bằng tiếng Pali thì phải học thêm 5 đến 10 năm nữa, có rất ít người làm được
điều này”. Chúng tôi nhận được thông tin từ Achar D.B “Có người làm Achar
đọc được kinh Phật bằng tiếng Pali thật, nhưng có người cũng chỉ thuộc thôi
chứ không đọc được chữ”. Qua đây cho thấy, phần lớn người Khmer khi đọc
được kinh Phật để cầu siêu cho ông bà tổ tiên chỉ thuộc được âm của loại kinh
này. Thật vậy, khi chúng tôi hỏi về nghĩa của các bài kinh được đọc trong các
dịp cúng ông bà tổ tiên thì chỉ có các vị sư mới giải thích được từng câu, các vị
Achar chỉ giải thích được một vài câu dẫn đơn giản của bài kinh. Như vậy, khi
134
người Khmer đọc kinh trong dịp cúng ông bà tổ tiên họ không quan tâm đến ý
nghĩa của từng câu kinh mà chỉ phát lại những âm đã thuộc thông qua nhiều lần
nghe, họ tin rằng những âm thanh đó sẽ giúp cho linh hồn tổ tiên được siêu thoát.
Nếu xét ở góc nhìn giao lưu văn hóa thì Phật giáo Nam tông tồn tại trong tín
ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Khmer ngoài vai trò giúp cho các gia đình và
cá nhân thỏa mãn niềm tin tín ngưỡng Phật giáo Nam tông còn thực hiện vai trò
giáo dục đến cộng đồng. Đồng thời tôn giáo này cũng không bắt buộc người
Khmer phải tuân thủ một cách nghiêm ngặt các nguyên tắc tôn giáo mà hoà vào
cuộc sống dân gian để các tính đồ có thể học tập và tiếp thu một cách đơn giản,
dễ dàng nhất. Hay nói cách khác, Phật giáo Nam tông đã được hỗn dung vào tín
ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Khmer theo phương thức bản địa hoá.
Mặt khác, Phật giáo Nam tông đã củng cố được vị thế của mình trong tín
ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Khmer thông qua việc giải thích nguồn gốc
của việc thờ cúng cho tổ tiên. Như đã trình bày, đối với người bình dân việc thờ
cúng tổ tiên là đạo hiếu, là cách ứng xử chuẩn mực của con cháu đối với ông bà
tổ tiên, họ không quan tâm nguồn gốc của tín ngưỡng vì “ông cha đi trước làm
như thế nào thì làm như thế ấy”. Theo các vị sư và các vị Achar thì truyền thuyết
Phật giáo là nguồn gốc của tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên. Nhưng theo chúng tôi,
truyền thuyết trên là một bước đệm để kết hợp với các tín ngưỡng dân gian của
địa phương tạo nên tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên. Bởi lẽ, truyền thuyết chỉ giải
thích mối quan hệ của người cúng và vong linh được cúng là mối quan hệ quen
biết, phụ thuộc nhau trong công việc. Trong khi đó, tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên
của người Khmer xác định người cúng và linh hồn được thờ cúng thông qua mối
quan hệ huyết thống. Nhưng có thể thấy sự đóng góp này của truyền thuyết Phật
giáo đã làm đa dạng thêm cho tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Khmer Nam
bộ nói chung và người Khmer ở Trà Vinh nói riêng. Thông qua truyền thuyết
giải thích về nguồn gốc của tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của Phật giáo cũng như
quan niệm về linh hồn tổ tiên của người Khmer cho thấy Phật giáo Nam tông đã
góp phần tạo nên “thế giới thứ hai” cho linh hồn tồn tại.
135
Trong các nghi lễ thờ cúng tổ tiên của người Khmer ở Trà Vinh không
thể thiếu sự hiện diện của các vị sư sãi. Khi tổ chức tang lễ, dù khó khăn về mặt
kinh tế gia đình cũng cố gắng mời ít nhất 1 vị sư đến đọc kinh cho người mất.
Theo anh T.T.A, trên địa bàn huyện Trà Cú nhiều trường hợp gia đình giàu có
đám tang hoặc tổ chức cúng tổ tiên họ mời đến 5, 10 ông sư về thay nhau đọc
kinh nhưng cũng có gia đình chỉ mời được một ông sư về đọc kinh cho người
mất “Có nhiều nhà khi mời tôi đến làm lễ rồi đọc kinh cùng ông sư, nhưng khi
xong đám ông sư cũng không lấy tiền vì thấy nhà người ta nghèo khó”. Qua tìm
hiểu thì không có qui định khi đọc một hồi kinh gia đình phải trả bao nhiêu tiền
cho ông sư, cũng như phải trả bao nhiêu tiền khi mời ông sư đên đọc kinh cho
một đám tang nhưng người Khmer ở Trà Vinh đều gửi một khoản tiền nhỏ cho
các vị sư sau khi kết thúc nghi lễ. Ngoài ý nghĩa thể hiện lòng thành để tạ ơn,
giúp các vị sư có kinh phí để trang trải cuộc sống tu hành khoản tiền này được
trao đến các vị sư như một hành động để gia đình tích được “phước” cho linh
hồn tổ tiên. Người Khmer rất xem trọng sự có mặt của các vị sư trong các nghi
lễ vì họ xem vị sư là đại diện của đức Phật. Trên thực tế các vị Achar đều thông
thạo các nghi thức của các lễ cúng và thuộc hầu hết các loại kinh trong các nghi
thức tại gia nhưng các gia đình đều muốn sự hiện diện của các vị sư để vong
hồn ông bà tổ tiên được hưởng phước và cũng là niềm tự hào của mỗi gia đình
với cộng đồng. Đó là trường hợp của gia đình chị T.S.P ở Ấp Trà Tro B (xã
Hàm Giang huyện Trà Cú). Khi chúng tôi đến nhà chị vào dịp cúng Đôlta năm
2020 thấy chị sống một mình với nghề bán đậu phộng luộc ngày chỉ kiếm lời
khoảng 50 nghìn đồng nhưng chị cho biết “Ngày mai có mời ông sư đến tụng
kinh cúng ông bà lớn lắm” và mời chúng tôi đến tham dự cho vui vì con cái đi
làm ăn xa không về được. Theo đó thì chị quan niệm tuy sống một mình nhưng
còn dòng họ tổ tiên và con cháu nên khi buôn bán chị luôn dành riêng một phần
tiền để năm nào đến Đôlta cũng mời ông sư về tụng kinh tạo phước cho tổ tiên
và mọi thành viên trong gia đình.
Người Khmer xem sự hiện diện của các vị sư sãi thay thế cho sự xuất
hiện của đức Phật, khi người Khmer chắp tay lạy vị sư nhưng trong tâm niệm
136
của họ là lạy bộ y áo mà các vị sư đang khoác trên mình, coi nó như hiện diện
của đức Phật. Cùng với sự tôn trọng này đã giúp các vị sư có vai trò quan trọng
trong cộng đồng người Khmer. Mỗi vị sư tu tập đức độ của mình để xứng đáng
với sự tôn trọng của cộng đồng, từ đó tạo nên uy tín của Phật giáo Nam tông
đối với tộc người Khmer. Qua khảo sát của chúng tôi đã cho thấy, tuy cuộc
sống có thể khó khăn nhưng người Khmer luôn hướng tới một tương lai tươi
sáng từ cái phước được chính con người hiện tại xây đắp. Trong việc tạo nên
cái phước đó không thể thiếu vai trò quan trọng của các vị sư thông qua các
nghi lễ mà tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên là một minh chứng.
Bên cạnh đó, thờ cúng tổ tiên không thể tách rời Phật giáo Nam tông.
Thứ nhất là vấn đề về không gian tồn tại của linh hồn ông bà trong tín ngưỡng
thờ cúng tổ tiên. Như đã trình bày, người Khmer luôn quan niệm linh hồn của
ông bà sau khi mất sẽ đến gặp đức Phật để đảnh lễ, nghĩa là linh hồn phải phụ
thuộc vào không gian tồn tại của đức Phật. Không chỉ vậy, ngoài không gian
thờ cúng linh hồn tổ tiên tại gia thì không gian thờ cúng tại chùa cũng không
thể thiếu trong tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Khmer. Tro cốt của ông
bà tổ tiên được người Khmer gửi vào chùa với quan niệm là để ông bà được
nghe lời kinh tiếng kệ của các vị sư để sớm được siêu thoát. Ngoài việc thực
hành nghi lễ tại nhà, con cháu phải đến các tháp cốt để thắp hương cho ông bà
vào các dịp cúng giỗ hoặc lễ hội. Chẳng hạn như Sel Đôlta (Lễ cúng ông bà) là
một trong ba lễ lớn nhất của người Khmer, ngoài cúng ông bà tại nhà con cháu
phải mang lễ vật lên chùa để mời các vị sư đọc kinh cầu siêu cho ông bà tổ tiên.
Sự quan tâm của các cá nhân đối với linh hồn tổ tiên được thể hiện bằng việc
thắp hương tại các tháp cốt. Trong lễ hội Chôl Chnăm Thmây, trước khi tham
gia các cuộc vui chơi tại chùa con cháu đều phải đến tháp cốt thắp hương và
đọc kinh cho ông bà tổ tiên của mình. Thứ hai là vấn đề tạo phước. Như chúng
tôi đã phân tích ở các chương trước, vấn đề tạo “phước” là rất quan trọng trong
cuộc sống của người Khmer. “Phước” lớn nhất được tạo ra đó là việc chăm lo
cho đời sống của các vị sư sãi. Chính vì lẽ đó người Khmer xem việc cúng
dường cho các vị sư khi họ đi khất thực còn quan trọng hơn cả việc tổ chức
137
cúng ông bà với qui mô lớn. Vào các dịp lễ hội, người Khmer mang cơm và
thức ăn lên chùa rất nhiều, cả số lượng thức ăn và số lần mang lên trong một
ngày với niềm tin tạo được “phước” cho linh hồn tổ tiên và cho chính bản thân
mình. Theo quan sát của chúng tôi, có rất nhiều thực phẩm thừa tại nhà trù (nhà
bếp của chùa) của chùa vào các dịp lễ hội. Tuy biết vậy nhưng mọi người đều
mang đến bởi theo họ “Không phải việc mang cơm đến chùa cúng linh hồn tổ
tiên mới dùng được hay nhờ các vị sư linh hồn mới dùng mà quan trọng hơn là
hành động thực hiện đã tạo công đức và minh chứng cho tấm lòng của người
mang cơm từ nhà đến chùa thì đó là phước”. Như vậy, phước mà con cháu tạo
cho linh hồn không phải là giá trị vật chất của các lễ vật mà giá trị được tạo ra
bởi hành động. Không chỉ vậy, sự chăm lo cho đời sống của các vị sư còn thể
hiện ở lễ vật dâng cúng. Vào các dịp lễ hội, ngoài việc cúng dường bằng tiền
và dâng cơm cho các vị sư người Khmer còn chọn những lễ vật là các vật dụng
được sử dụng trong sinh hoạt thường nhật trong chùa hoặc các loại thực phẩm
có thể tích trữ được lâu ngày [P13, P14]. “Phước” mà con cháu tạo ra cho ông
bà tổ tiên không phải là giá trị hoặc số lượng là các lễ vật mà là hành động thể
hiện sự chăm lo cho đời sống của các vị sư sãi. Thông qua hành động đó các vị
sư trả ơn cho gia đình bằng cách đọc các bài kinh cầu siêu và cầu an cho gia đình.
Trong hoạt động này có chúng tôi xem như một sự tương quan hai chiều, sự gắn
bó cùng có lợi. Một bên mang đến giá trị vật chất, một bên thọ nhận và trả ơn
bằng giá trị tinh thần. Kết tinh của sự tương quan này là sự thỏa mãn nhu cầu tin
thần của các cá nhân thông qua một giá trị chung thứ 3 được tạo ra là “Phước”.
Như vậy theo quan điểm nghiên cứu mà chúng tôi đã nêu ở chương 1, khi
có sự giao lưu tiếp biến của hai giá trị văn hoá sẽ xảy ra giai đoạn hỗn dung các
giá trị vào trong một hiện tượng văn hoá. Trong trường hợp cụ thể này là sự hỗn
dung các yếu tố văn hoá của Phật giáo và tín ngưỡng dân gian trong tín ngưỡng
thờ cúng tổ tiên. Sự giao lưu tiếp biến này đã giúp thỏa mãn nhu cầu về tinh thần
của người Khmer đó là niềm tin về sự tồn tại của linh hồn tổ tiên, giá trị hữu ích
của việc thực hành các nghi lễ trong tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên đồng thời củng
cố sự tin tưởng của cộng đồng đối với Phật giáo Nam tông. Bên cạnh đó, thông
138
qua việc tham gia tổ chức các nghi lễ trong tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên Phật giáo
Nam tông đã giữ được vị trí quan trọng trong đời sống của người Khmer, thực
hiện chức năng giáo dục con người hướng tới những giá trị tốt đẹp của xã hội, tập
họp được sức mạnh của phật tử để đưa Phật giáo Nam tông ngày càng phát triển.
Từ kết quả khảo sát còn cho thấy, tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người
Khmer ở Trà Vinh một mặt chịu sự chi phối bởi Phật giáo Nam tông. Mặt khác,
tín ngưỡng này đã bản địa hóa nghi lễ Phật giáo Nam tông vào trong các nghi
lễ trong thờ cúng tổ tiên.
Chẳng hạn, trong lễ tang, ông Achar You Ky sẽ đặt một cặp lá trầu có têm
vôi và ghim ba cây nhang gọi là “Trầu niệm” với ý nghĩa nhắc nhở người mất
nhớ đến bàn tay của đức Phật và mang trầu đi đảnh lễ Ngài. Tất cả các vị sư và
Achar đều không giải thích được nguồn gốc của tục này, cũng như vì sao là lá
trầu mà không phải là một loại lá khác hay một biểu tượng khác. Vấn đề chúng
tôi đặt ra là phải chăng đây là sự vay mượn từ một loại hình tín ngưỡng khác hay
do cộng đồng tộc người Khmer tự sáng tạo và tích lũy?. Ta biết rằng trầu và vôi
là một trong những biểu tượng đã trở thành lễ vật dâng cúng trong lễ nghi của
nhiều tộc người trên đất nước Việt Nam. Từ các lễ nghi dành cho người mất đến
các dịp hiếu hỷ trong cuộc đời của con người. Trong văn hóa dân gian người
Việt miếng trầu đã trở thành đầu câu chuyện. Tác giả của luận án cũng đã cố
gắng khảo sát những tài liệu về Phật giáo Nam tông để tìm ra cách giải thích về
ý nghĩa và nguồn gốc của nghi thức đặt lá “trầu niệm” cho người chết nhưng vẫn
không thể tìm thấy kết quả. Mặt khác, khi được phỏng vấn về nguồn gốc của lễ
vật này chúng tôi chỉ nhận được một phản hồi giống nhau “ông bà đi trước làm
thế nào thì bây giờ mình phải làm như vậy cho phải”. Tương tự, nghi thức rải
bông gòn (một loại tơ sợi được lấy từ quả của cây gòn) khi đưa quan tài người
mất đến chỗ hỏa thiêu hoặc chôn cất được giải thích “bông gòn thay thế cho mình
tượng của mây trên trời nhằm nhắc nhở linh hồn người chết tìm đường có mây
mà đi thì mới gặp được đức Phật”. Như vậy, về mục đích của việc làm là hướng
linh hồn về với đức Phật để sau đó được về lại với ông bà tổ tiên nhưng cách
139
thức thực hiện là dựa vào tri thức dân gian để tạo nên hình thức phù hợp với ý
nghĩa và mục đích của người còn sống đối với linh hồn người mất.
Mặt khác, khi lập “Bàn thiên linh hồn” trong đám tang vị Achar phải
chọn hướng theo nguyên tắc: lưng hướng Đông Bắc nhà đang ở và quay mặt về
hướng Tây Nam (hướng của Cha Trời, Mẹ Đất).
Cũng trong đám tang, bên cạnh lễ Phật thì còn có các lễ cúng thần trong
quá trình thực hành các nghi lễ như: cúng chư thiên (cúng Têvôđa) – một hình
thức bản địa hóa quan niệm Phật giáo về cõi trời. Ngoài ra còn phải kể đến lễ
cúng thực địa. Lễ này được tổ chức cúng 2 lần (một lần để xin phép tổ chức
tang lễ, một lần để tổ chức di quan và hỏa táng người mất). Theo tìm hiểu, tên
gọi Thực địa được nhiều vị Achar cho rằng nó được dịch theo từ Konghing Pres
Thoraki (thổ địa). Tuy nhiên trong tín ngưỡng dân gian của người Khmer không
thờ vị thần này mà Konghing Pres Thoraki chỉ xuất hiện trong truyền thuyết
Phật giáo với vai trò bảo vệ đức Phật khi Ngài “Ngộ được đạo”. Trong khi đó
trong tín ngưỡng dân gian của người Kinh và người Hoa tại địa phương lại có
tục thờ ông Địa hay Thổ công với vai trò cai quản đất đai cho gia chủ. Như vậy
đã có sự bản địa hóa vai trò của Konghing Pres Thoraki trong quá trình cộng
cư của người Khmer và các tộc người anh em tại địa phương.
Bên cạnh đó, trong thực hành nghi lễ thờ cúng tổ tiên của người Khmer
còn có biểu hiện bản địa hóa quan niệm về vũ trụ quan Phật giáo Nam tông.
Như đã biết, do ảnh hưởng của Phật giáo nên họ tin rằng linh hồn của người
chết sẽ đi lên trời để gặp đức Phật đảnh lễ sau đó được siêu thoát hoặc bị đày
xuống địa ngục chờ sự tích phước từ con cháu để được đầu thai. Tuy nhiên khi
tổ chức cúng tổ tiên vào dịp Đôlta hay Chôl Chnăm Thmây ngoài việc đổ thức
ăn trước sân nhà thì người Khmer còn thực hiện việc đặt thức ăn vào thuyền để
cho linh hồn tổ tiên và Ngạ quỷ ăn để về lại nơi cũ. Trong khi đó các nghi thức
tổ chức thờ cúng tổ tiên của người Kinh tại địa phương đều nhằm mục đích tiễn
đưa linh hồn người mất về nơi chín suối. Vấn đề chúng tôi đặt ra ở đây là: Phải
chăng việc làm thuyền để tiễn đưa linh hồn tổ tiên của người Khmer là có nguồn
140
gốc từ quan niệm cổ xưa của họ về nơi cư trú của linh hồn người chết ở dưới
mặt đất – tương tự như người Kinh quan niệm về nơi chín suối?
Cũng liên quan đến vấn đề bản địa hóa vũ trụ quan Phật giáo, người
Khmer tin rằng linh hồn cũng bị quản thúc bởi các vị thần trong “cõi/tầng Đất”
nên khi tổ chức cúng tổ tiên gia đình phải chuẩn bị một mâm cơm để cúng Neak
– Ta với ý nghĩa xin phép ông Neak – Ta cho linh hồn tổ tiên được vào nhà
đoàn tụ với con cháu. Qua đây cho thấy người Khmer xem mỗi linh hồn tổ tiên
như một thành viên trong gia đình và ông Neak – Ta với vai trò của một Thổ
công cai quản và bảo hộ cho gia đình.
Thông qua những phân tích trên kết hợp với kết quả tìm hiểu quan niệm
của người Khmer về tổ tiên cho thấy, Phật giáo Nam tông vừa chi phối, vừa
được bàn địa hoá trong tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Khmer. Một mặt
Phật giáo Nam tông tạo ra “thế giới thứ 2” cho linh hồn tổ tiên tồn tại, định
hướng cho các nghi lễ thờ cúng tổ tiên giúp linh hồn về thế giới của Phật. Mặt
khác, tôn giáo này được bản địa hoá trong nguyên tắc và cách thức hành đạo để
giúp những người thực hành nghi lễ thờ cúng làm tròn nghĩa vụ của mình đối
với linh hồn tổ tiên.
4.3. Thờ cúng tổ tiên trong mối liên hệ với cộng đồng
Thờ cúng tổ tiên là một hình thức tín ngưỡng của tộc người Khmer ở cấp
độ gia đình dòng tộc nhưng ở một khía cạnh khác tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên
của người Khmer còn cho thấy sự độc đáo của lễ hội cộng đồng. Điều đó thực
sự có ý nghĩa trong bối cảnh xã hội đương đại với nhiều sự tác động của giao
lưu và hội nhập văn hóa.
Ta biết rằng, trong một năm người Khmer có 3 lễ hội lớn: Chôl Chnăm
Thmây, Óoc om bóok và Sel Đôlta. Trong đó Sel Đôlta (Lễ cúng ông bà) là một
phần quan trọng trong tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của họ. Người Khmer ở Trà
Vinh còn có thuật ngữ “Mùa Đôlta” hoặc “Tháng Đôlta” bởi lễ Sel Đôlta ngày
nay ngoài hình thức tổ chức vào 3 ngày chính là từ 29 tháng 8 đến ngày mùng
1 tháng 9 thì bắt đầu từ mùng 1 tháng 8 các gia đình người Khmer đã bắt đầu
chọn ngày cúng ông bà tổ tiên, thậm chí có thể cúng nhiều lần trong tháng 8
141
dịp này. Người Khmer không chỉ xem Sel Đôlta là một lễ để thể hiện lòng hiếu
thảo của con cháu đối với tổ tiên trong gia đình dòng họ mà họ còn xem đây là
dịp để tạ ơn những người đã khuất, tưởng nhớ đến cội nguồn dân tộc và cầu
phước cho những người còn sống. Sel Đôlta còn được xem là lễ hội cộng đồng
vì đây là dịp để mọi người trong phum, sróc thể hiện tình đoàn kết thông qua
việc cùng chung tay thực hiện công việc của cộng đồng, quan tâm thăm hỏi và
chúc tụng nhau.
Trước hết, mỗi cá nhân không chỉ có trách nhiệm với gia đình mà còn
phải có trách nhiệm với cộng đồng, thể hiện ở sự quan tâm đến những công
việc chung của phum, sróc và với các công việc tại chùa. Anh T.S.V là một cán
bộ đoàn ở huyện Trà Cú đã coi lễ Sel Đôlta là một phần không thể thiếu trong
kế hoạch công tác đoàn của huyện. Ngoài phần lễ cúng ông bà tại nhà và tại
chùa thì phần hội tại các điểm được chọn trong phum, sróc hoặc tại các sân
chùa là phần không thể thiếu. Ngoài việc chuẩn bị các phần quà đến thăm hỏi
các gia đình có công với cách mạng trong công tác đền ơn đáp nghĩa hoặc thăm
hỏi các hộ gia đình có hoàn cảnh khó khăn để chia sẻ những món quà chung
tay vì cộng đồng anh còn phải liên hệ với các đoàn viên thanh niên tại các xã,
phường để biết tình hình tổ chức vui chơi tại địa phương, chỉ đạo các anh em
cán bộ đoàn tại địa phương làm đẹp cảnh quan đường làng khu phố, treo các
băngrol mừng lễ Sel Đôlta tại các ngôi chùa, ngõ đường trong phum, sróc Tại
trung tâm huyện Trà Cú mỗi năm anh thường chọn một ngôi chùa để tổ chức
các trò chơi dân gian, ca hát giao lưu hoặc tổ chức các cuộc thi cho thanh niên
trong phum, sróc vào ba ngày chính lễ. Có những năm anh tổ chức cả chương
trình luân phiên hàng đêm từ đầu tháng 8 đến kết thúc lễ Đôlta. Ngoài những
cán bộ đoàn như anh thì các vị Achar tại các phum, sróc cũng cùng mọi người
đến chùa giúp các vị sư sãi quét dọn, sơn son, trang trí lại các ngôi chùa cho
thật đẹp, lấy ý kiến của các hộ gia đình để quyết định có tổ chức Sel Đôlta cho
phum, sróc hay không?,.... Nếu tổ chức họ sẽ thống nhất thời gian, kinh phí và
địa điểm tổ chức, một vị Achar sẽ đứng ra tập họp mọi người sau đó phân công
các công việc như: đi chợ, nấu ăn, dựng rạp, thuê dàn nhạc, mời các vị sư sãi.
142
Đến thời gian tổ chức họ tập trung từ sáng sớm làm các công việc được giao,
sau đó dọn một mâm cơm cho các vị sư sãi để họ đọc kinh cầu siêu cho linh
hồn người đã khuất và kinh cầu an cho những người còn đang sống. Sau đó họ
tổ chức ăn uống vui chơi đến tối hoặc sáng hôm sau. Vì đây là phần hội nên
người Khmer không qui định thời gian kết thúc. Ngoài ra, tại các điểm chùa
còn tổ chức các chương trình ca múa kịch [P17] để mừng tuổi các vị sư đồng
thời đây là dịp bà con trong phum sróc đến thưởng thức văn nghệ chúc mừng
nhau dịp Đôlta. Với sức lan tỏa của phần hội, tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của
người Khmer đã phát huy tính đoàn kết cộng đồng trong mỗi cá nhân con người
khiến họ thấy được trách nhiệm của mình đối với công việc của cộng đồng. Chị
K.S ở Ấp Phú Khánh huyện Châu Thành tâm sự vui với chúng tôi rằng “Thường
lấy nổi buồn làm niềm vui khi mỗi dịp Sel Đôlta về” vì khi đến “mùa Đôlta”
ngoài việc đi học về thì 2 cậu con trai của chị lại cùng chồng chị đi phụ mọi
người làm những công việc của phum, sróc hoặc trên chùa đến chiều hoặc tối
mới về, chị ở nhà một mình. Tuy nhiên, chị lại bảo “…nghĩ lại chị thấy cũng
vui vì gia đình mình đã đóng góp được công sức với mọi người, đặc biệt là làm
được nhiều việc cho chùa để tích phước”. Có thể thấy, nét độc đáo trong tín
ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Khmer là: thờ cúng tổ tiên là niềm tin của
mỗi cá nhân, gia đình về sự tồn tại của linh hồn ông bà tổ tiên. Trách nhiệm của
người thờ cúng là thực hành nghi lễ để giúp cho tổ tiên được siêu thoát. Đặc
biệt hơn lễ cúng tổ tiên không dừng lại ở cấp độ gia đình dòng họ mà đã trở
thành lễ hội của cộng đồng. Tổ chức cúng tổ tiên không chỉ là trách nhiệm của
mỗi gia đình mà đó còn là trách nhiệm đối với ngày hội của cộng đồng và là
một trong những hình thức thể hiện giá trị văn hoá của cả tộc người.
Không chỉ vậy, mỗi gia đình Khmer còn xem việc đến các gia đình khác
trong phum, sróc để chúc mừng trong dịp lễ hội là một tập quán tốt đẹp trong
ứng xử xã hội. Theo đó, ngoài việc tổ chức cúng ông bà cũng như phân công
các thành viên luân phiên có mặt tại gia đình để tiếp đón khách đến chúc mừng
Đôlta, những người khác trong gia đình còn phải sắp xếp thời gian đi chúc
mừng các gia đình khác để thể hiện tình làng nghĩa xóm, sự quan tâm đối với
143
cộng đồng, tạo mối quan hệ xã hội. Tùy theo mức độ thân thiết của mối quan
hệ mà người đi chúc chuẩn bị quà biếu khác nhau. Anh S.V cho biết năm nào
cũng chuẩn bị một số bánh ngọt, hoặc bia gói gém cẩn thận để mang đến chúc
mừng Đôlta gia đình của các lãnh đạo, trong khi đó khi đến thăm nhà các anh
em thân thuộc trong gia đình anh có thể không cần phải mang quà. Anh cũng
cho biết “Không ai chấp nhất việc quà cáp nhưng đến nhà lãnh đạo thì cũng
có chút gì cầm tay coi cho được”. Hiện tượng mang quà đến gia đình để chúc
nhau vào dịp Đôlta khá phổ biến trên địa bàn thành phố Trà Vinh. Đó cũng là
một vấn đề hợp lý bởi lẽ ở đây tập trung nhiều người làm công chức và mức
sống cao, thêm vào đó họ sống theo lối sống đô thị nên vấn đề quà biếu là chuyện
thường nhật. Tuy nhiên có thể nhận thấy rằng, dù có quà hay không, Đôlta là dịp
người Khmer gặp nhau để chúc mừng những điều tốt đẹp, thắt chặt tình đoàn
kết cộng đồng. Nếu so sánh với người Kinh và người Hoa tại địa phương thì
Đôlta tương tự như tết Nguyên đán của họ. Đây là dịp để mọi người được gặp
gỡ, tay bắt mặt mừng và chúc mừng cho nhau những đều tốt đẹp nhất. Có thể
nói, lễ cúng ông bà trong tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên là một lễ hội mang tính hỗn
dung văn hoá khá độc đáo của tộc người Khmer vì nó vừa mang yếu tố tôn giáo
sâu sắc vừa thể hiện tính dân gian bản địa bình dị của cuộc sống cộng đồng.
Một biểu hiện khác trong tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của Khmer trong
xã hội đương đại là mục đích hướng về cội nguồn huyết thống kết hợp với giáo
dục cội nguồn tộc người. Đối tượng được thờ cúng trong tín ngưỡng thờ cúng
tổ tiên của người Khmer là linh hồn của những người có quan hệ huyết thống
thêm vào đó là việc không xác định thời gian thờ cúng tổ tiên là bao nhiêu đời
nên họ xem linh hồn tổ tiên như một thành viên trong gia đình, gia đình còn tồn
tại thì linh hồn tổ tiên còn gắn bó, linh hồn này được đi siêu thoát thì đến linh
hồn khác được nhận phước mà các thế hệ con cháu tạo ra. Do vậy, các thế hệ
con cháu phải tạo ra một tính kế thừa liên tục trong các nghi lễ thờ cúng để các
thế hệ linh hồn của tổ tiên được nhận phước mà siêu thoát. Độc đáo trong tín
ngưỡng thờ cúng tổ tiên là sự hỗn dung Phật giáo Nam tông trong quan niệm
và sự phối thờ tổ tiên với đức Phật. Không một gia đình nào của người Khmer
144
ở Trà Vinh có bàn thờ tổ tiên mà không thờ đức Phật hoặc bàn thờ Phật. Sự gắn
hỗn dung này nhắc nhở các thế hệ kế thừa luôn nhớ về cội nguồn của tộc người.
Như phần trên chúng tôi đã trình bày, người Khmer ở Trà Vinh có chung nguồn
gốc người Khmer của triều đại Ăngko. Họ đến với vùng đất Nam bộ định cư
mang theo niềm tin sâu sắc vào Phật giáo Nam tông. Họ tin tưởng sự che chở
của đức Phật trong những hoàn cảnh nguy hiểm khó khăn, họ luôn qui mình là
con của đức Phật từ khi mới được sinh ra cho đến khi trở thành linh hồn. Do
vậy, ngoài vai trò nhắc nhở người thờ cúng ở cấp độ gia đình thì tín ngưỡng thờ
cúng tổ tiên cũng nhắc nhở con cháu quan tâm đến cội nguồn chung của dân
tộc, cộng đồng. Theo chúng tôi, giá trị văn hoá này đã giúp cho người Khmer
có một sức mạnh đoàn kết to lớn trong cộng đồng từ quá khứ đến đương đại.
Đồng thời, chính sự hỗn dung những yếu tô Phật giáo vào nghi lễ cúng tổ tiên
(Sel Đôlta) nên nhiều nghiên cứu xem Sel Đôlta như một lễ hội tôn giáo.
Bên cạnh đó, không gian chùa là một nét độc đáo thể hiện tính cộng đồng
trong tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Khmer ở Trà Vinh. Như ở chương
2 chúng tôi đã trình bày, cuộc sống của người Khmer gắn bó với Phật giáo Nam
tông từ lúc mới sinh ra cho đến khi trở thành linh hồn. Không gian chùa là nơi
trao gửi niềm tin và cũng là “mái ấm của linh hồn tổ tiên”. Do vậy, người Khmer
rất xem trọng các nghi lễ tổ chức tại chùa. Sau khi cúng tổ tiên tại gia, tất cả các
gia đình đều sắp xếp thời gian để các thành viên đến chùa làm lễ cúng ông bà
với niềm tin ông bà sẽ nhận được nhiều phước. Không chỉ vậy, người Khmer
còn quan niệm qui mô tổ chức cúng ông bà tại chùa còn thể hiện sự sung túc của
cộng đồng. Theo cô T.T.Ê “Phải đến chùa dâng cơm và nhờ các sư đọc kinh để
tạo phước cho ông bà. Bà con tập trung về chùa đông đúc để linh hồn ông bà
được vui cũng là niềm ảnh diện khi bà con trong phum, sróc tập hợp đầy đủ”.
Cũng theo cô “Đôlta là tết ông bà nên nhiều chùa tổ chức chương trình văn nghệ
lớn để bà con có dịp vui chơi, chúc mừng, chăm lo cho các vị sư để tạo phước”.
Trong cộng đồng người Khmer không có qui định chùa phải tổ chức Đôlta cho
bà trong phum, sróc cũng như không bắt buộc những đối tượng nào phải đến
chùa. Tuy nhiên, mỗi cá nhân tự ý thức được vai trò của mình mà chung vai với
145
công việc chung của cộng đồng. Theo chúng tôi, việc tổ chức Đôlta ở không gian
chùa không chỉ là ý thức về trách nhiệm cá nhân đối với cộng đồng mà còn là
nhu cầu chăm lo cho linh hồn tổ tiên của mỗi cá nhân và gia đình.
4.4. Thờ cúng tổ tiên với vấn đề cộng cư và nhu cầu thể hiện văn hóa
tộc người
Như đã trình bày, người Khmer là một trong những tộc người xuất hiện khá
sớm ở vùng đất Nam bộ. Trong quá trình phát triển tộc người, họ đã cùng cộng cư
với các tộc người anh em như Kinh, Hoa, Chăm,…Trong đó, người Khmer ở Trà
Vinh chủ yếu là địa bàn cộng cư của 3 tộc người Kinh, Hoa, Khmer. Trong bối
cảnh cùng cộng cư, để chống lại ảnh hưởng của thiên nhiên, sự tác động của chiến
tranh cũng như quá trình phát triển đất nước trong xã hội đương đại mà người
Khmer đã có sự giao lưu, hỗn dung văn hoá với người Hoa và người Kinh.
Trong các địa bàn nghiên cứu, huyện Châu Thành là nơi diễn ra sự giao
lưu văn hoá đa dạng hơn các huyện Trà Cú và thành phố Trà Vinh. Tại địa bàn
huyện Châu Thành xuất hiện khá nhiều hiện tượng thờ cúng tổ tiên vừa mang
dấu ấn văn hoá của người Kinh vừa mang đặc trưng văn hoá của người Khmer.
Chẳng hạn gia đình chị P.K.H là kiểu gia đình tổng hợp của hai yếu tố Kinh và
Khmer. Khi tổ chức cúng giỗ cho mẹ của mình thì chị tổ chức cúng theo ngày
mất và tổ chức 2 ngày theo phong tục truyền thống của người Kinh, mời bạn
bè người thân cả bên chồng đến tham dự. Đến khi cúng giỗ cho tổ tiên bên
chồng vào dịp Đôlta, chị lại tổ chức cúng theo phong tục truyền thống của bên
chồng, đồng thời vẫn chuẩn bị 1 mâm cơm để cúng mẹ của mình trong dịp này.
Theo chị chia sẻ, gia đình chị vào những năm làm ăn được lợi nhuận cũng xin
ý kiến của anh em bên chồng để tổ chức cúng ba mẹ chồng vào ngày mất của
ông hoặc bà, đồng thời cũng mời các vị tổ tiên về hưởng phước. Qua đây cho
thấy đã có sự hỗn dung văn hoá trong tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên giữa người
Khmer và người Kinh. Tuy nhiên, theo quan niệm hỗn dung văn hoá ở phần
trên đã trình bày “hỗn dung là sự cộng gộp các giá trị văn hoá” nên sự hỗn dung
văn hoá trong tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Khmer chưa làm thay đổi
các giá trị văn hoá truyền thống của mỗi tộc người. Hiện tượng này làm tăng
146
thêm các yếu tố văn hoá mới cho tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của cả người Kinh
và người Khmer tại Trà Vinh.
Bên cạnh đó, trong tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Khmer còn có
hiện tượng hạn chế một vài nghi lễ để không làm ảnh hưởng đến tộc người cộng
cư. Chúng tôi tạm gọi hiện tượng này là “nhường nhịn văn hoá”. Trường hợp
này xuất hiện nhiều ở Thành phố Trà Vinh, đặc biệt là khu dân cư đông đúc.
Tại địa bàn này hầu như chúng tôi không nhận thấy không khí của “mùa Đôlta”.
Nguyên nhân chủ yếu là do người Khmer sinh sống tại khu vực này rất ít nên
không tập hợp tổ chức Đôlta theo cụm nhóm hay dòng họ để cùng chúc nhau
được. Chẳng hạn tại địa bàn khu dân cư phường 8 Thành phố Trà Vinh, gia
đình anh S.K.VS chỉ tổ chức cúng cha mẹ vào ngày mất, vào tháng Đôlta anh
chọn một ngày thứ bảy hoặc chủ nhật nấu một mâm cơm cúng tổ tiên rồi mời
một vài bạn bè đến dùng cơm là kết thúc. Theo anh không tổ chức lớn và mời
sự đọc kinh cầu siêu cho ông bà là do “Sống trong khu vực đông dân cư tổ chức
như vậy làm ảnh hưởng đến mọi người, phần lớn các gia đình xung quanh là
người Kinh, người Hoa nên gia đình mình tổ chức như vậy cũng lạ hơn người
ta”. Cũng chính vì vậy mà dịp Đôlta anh chọn ngày về quê để đoàn tụ với dòng
họ và đọc kinh cầu siêu cho ông bà. Qua đây cho thấy, niềm tin tín ngưỡng là
quyền tự do của mỗi cá nhân, mỗi tộc người. Tuy nhiên, trong quá trình cộng
cư chính chủ thể văn hoá cũng dành sự tôn trọng cho các giá trị văn hoá khác
và giảm bớt đi nhu cầu thể hiện văn hoá của tộc người mình.
Ngược lại với xu hướng trên là nhu cầu thể hiện văn hoá của các chủ thể
văn hoá trong quá trình cộng cư. Tại địa bàn huyện Trà Cú không khí mùa Đôlta
rất sôi nổi và đa dạng. Tuy có sự cộng cư của cả ba tộc người nhưng người
Khmer lại chiếm đa số do vậy khi đến mùa Đôlta hầu hết các ngả đường của
thôn xóm đều có băngrol mừng ngày Đôlta [P16]. Những bài hát mừng Đôlta
được phát theo các khung giờ trên loa phát thanh của phum, sróc. Tại các chùa
thay phiên phát các bài hát ngợi ca mùa Đôlta của dân tộc và các bài kinh, kệ
siêu thoát cho các linh hồn. Tại các phum, sróc bà con họp nhau thành nhóm
để tổ chức tiệc mừng Đôlta cùng nhau ca hát chúc mừng. Tuy nhiên các gia
147
đình người Kinh và người Hoa trên địa bàn không lấy đó làm phiền hà mà xem
đó là dịp để mọi người nhìn thấy thôn xóm vui vẻ và đoàn kết, đồng thời cũng
là dịp gắn kết với mọi người với nhau. Theo ý kiến của anh N.V.N ở thành phố
Trà Vinh “Tại khu vực tôi sống rất hiếm trường hợp các hộ người Khmer tổ
chức cúng ông bà tổ tiên theo cách truyền thống. Tuy nhiên, vào dịp Đôlta ta
nghe văng vẳng tiếng kinh được phát từ các ngôi chùa cũng thấy vui, không khí
hằng ngày thêm phần sinh động”. Theo Cô L.H.N ở cạnh chùa Âng “Vào dịp
Đôlta vui lắm, mọi người đến viếng chùa rất đông, các lễ hội tổ chức trong
chùa khá lớn, tuy không phải lễ hội của mình nhưng bà con xung quanh cũng
đến chùa tham gia ca hát góp vui”. Theo Achar D.B “ Đôlta là dịp để các đoàn
nghệ thuật dân tộc biểu diễn Rôbăm thu hút sự quan tâm của mọi người về loại
hình nghệ thuật dân tộc độc đáo này
Ngày nay tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Khmer ở Trà Vinh còn
thể hiện vai trò gắn kết giữa người Khmer với các tộc người anh em khác. Trong
phạm vi tỉnh Trà Vinh, Sel Đôlta đã trở thành dịp lễ hội để người Kinh, người
Hoa tập trung đến các ngôi chùa để tham gia các lễ hội, xem biểu diễn múa
Rôbăm hoặc hát YuKê và là dịp để chúc mừng gia đình bạn bè là tộc người
Khmer. Không chỉ vậy, các bạn đoàn viên thanh niên người Kinh, Hoa cũng
tham gia vào việc tổ chức các chương trình văn nghệ hoặc trò chơi dân gian tại
các điểm chùa vào dịp Đôlta. Nhiều hộ gia đình Khmer tại Thành phố Trà Vinh
như gia đình chị K.S.P (là chuyên viên tại uỷ ban phường 8) cho rằng “Đôlta
là dịp để mời bạn bè, đồng nghiệp đến chung vui cùng gia đình như đám giỗ
ông bà của người Kinh”. Có thể thấy, phong tục đến nhà thăm viếng, chúc nhau
vào dịp Đôlta không chỉ là nét văn hoá truyền thống của người Khmer mà đã
hoà mình vào nét văn hoá của người Kinh và người Hoa tại địa phương, qua đó
góp phần gắn kết thêm mối quan hệ giữa các tộc người.
Tiểu kết chương 4
Trong quá trình cộng cư tộc người Khmer đã kết hợp nhiều giá trị văn
hóa trong tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên để làm đa dạng thêm cho các trưng văn
hóa của mình. Trong quan niệm nhân sinh, ngoài những chuẩn mực do cộng
148
đồng qui định, người Khmer đã dung hợp thêm tư tưởng Phật giáo Nam tông
để làm phong phú thêm nhận thức của cộng đồng. Một trong những minh chứng
cho sự dung hợp đó là sự hỗn dung trong tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên. Để thể
hiện lòng hiếu đạo đối với tổ tiên, cộng đồng người Khmer đã sáng tạo nhiều
giá trị văn hóa dân gian để giúp cho linh hồn người đã khuất được an nhàn về
với cõi Phật, kết quả của sự sáng tạo hay tổng hợp đó đều không được kiểm
nghiệm bằng một kết quả rõ ràng như khoa học kỹ thuật, nhưng nó đã được
cộng đồng chấp nhận và làm theo với niềm tin mãnh liệt. Bên cạnh đó việc
dung hợp các giá trị văn hóa tương đồng trong tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của
các tộc người anh em như người Kinh và người Hoa tại địa phương đã giúp cho
tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Khmer thêm phần đa dạng và ngày càng
gần gũi với các tộc người người cộng cư. Sự đa dạng này có thể bị xem như đi
ngược với các giá trị truyền thống, thậm chí phá vỡ các giá trị truyền thống
nhưng nếu chúng ta nhìn nó ở qui luật vận động và phát triển của xã hội thì đây
là sự tất yếu phải xảy ra. Vấn đề quan trọng nhất là các đặc trưng văn hóa truyền
thống sẽ tồn tại như thế nào bên cạnh các giá trị văn hoá mới.
Trong tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Khmer tại Trà Vinh tồn tại
cả những giá trị văn hoá dân gian và tư tưởng, triết lý của Phật giáo. Tuy nhiên,
hai yếu tố này không mẫu thuẫn loại trừ lẫn nhau mà cùng song song phát triển
để làm giàu đẹp thêm cho đặc trưng văn hoá của tộc người Khmer. Phật giáo
Nam tông góp phần giải thích cội nguồn của tín ngưỡng, hình thành các giá trị
chuẩn mực trong cách ứng xử của con người, hình thành nên “thế giới thứ hai”
để linh hồn con người tồn tại, giúp đỡ linh hồn được chuyển kiếp thông qua
kinh Phật và các nghi lễ tôn giáo. Tuy nhiên, Phật giáo cũng đồng thuận với
những giá trị văn hoá dân gian của cộng đồng tộc người như: thay đổi hình thức
thờ cúng, dung hợp quan niệm về linh hồn của các tộc người cộng cư, thay đổi
hoặc lược bỏ một số nghi lễ trong thờ cúng tổ tiên.
Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Khmer không chỉ giới hạn ở qui
mô gia đình, dòng họ mà đó còn là lễ hội của cả cộng đồng. Truyền thống cộng
gộp và không phân biệt thứ bật của các linh hồn tổ tiên kết hợp với thống nhất
149
thời gian tổ chức nghi lễ thờ cúng là yếu tố quan trọng góp phần tạo nên đặc
trưng lễ hội trong lễ cúng ông tổ tiên của người Khmer. Nét độc đáo là tổ tiên
không phải xác định theo tiêu chí tô tem giáo những hình thức tổ chức lại mang
tính cộng động tương tự như tô tem. Trong xã hội đương đại, lễ cúng ông bà đã
được mở rộng thành “mùa Đôlta” nên tinh thần lễ hội của Sel Đôlta được tăng
lên rất nhiều lần. Thông qua tính lễ hội trong tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên đã
góp phần thúc đẩy quá trình giao lưu tiếp biến văn hoá của người Khmer với
các tộc người cộng cư đồng thời góp phần thắt chặt tình đoàn kết dân tộc.
Cùng với việc hỗn dung những yếu tố truyền thống, tín ngưỡng thờ cúng
tổ tiên của người Khmer cũng đã thể hiện sự dung hợp nhiều yếu tố văn hoá
của các tộc người cộng cư vào hình thức cũng như nội dung thờ cúng. Trong
quá trình cùng song song tồn tại với các nền văn hoá của các tộc người khác
người Khmer đã có những biểu hiện “nhường nhịn văn hoá” để cùng hoà mình
với sự phát triển chung của xã hội thông qua việc giản lược các nghi lễ, dung
hợp các hình thức nghi lễ mới. Bên cạnh đó, các tộc người cộng cư tại Trà Vinh
cũng thể hiện sự tôn trọng và tiếp nhận các giá trị độc đáo trong tín ngưỡng thờ
cúng tổ tiên của người Khmer thể hiện qua việc tham gia lễ hội Sel Đôlta, đến
các gia đình người Khmer thăm viếng, chúc mừng và cùng chung vui vào dịp
cúng tổ tiên.
150
KẾT LUẬN
Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên là một đối tượng đã được quan tâm nghiên
cứu ở nhiều công trình đi trước. Tuy nhiên, mỗi công trình lựa chọn một hướng
tiếp cận khác nhau đã tạo nên một bức tranh đa dạng về tín ngưỡng thờ cúng tổ
tiên trên lãnh thổ Việt Nam. Bên cạnh đó vẫn còn một số vẫn đề cần được quan
tâm nhiều hơn như tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của một tộc người, sự hỗn dung
của các yếu tố văn hóa khác trong tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, sự tác động của
các yếu tố xã hội đến tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên trong xã hội đương đai,...Và
đơn cử là sự hỗn dung văn hoá trong tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người
Khmer ở Trà Vinh mà chúng tôi đang quan tâm.
Cũng như các địa phương khác trên cả nước, tỉnh Trà Vinh đang trong
thời kỳ hội nhập nền kinh tế mới và từng bước nâng cao đời sống của người
dân, đặc biệt là tộc người Khmer. Trà Vinh là tỉnh có đông tộc người Khmer
thứ 2 ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long, vị trí địa lí không thuộc trục giao
thương phát triển kinh tế vùng. Trà Vinh có những thuận lợi và khó khăn riêng
của mình trong quá trình phát triển kinh tế, văn hoá đối với tộc người Khmer.
Tuy nhiên, tỉnh Trà Vinh đã và đang thực hiện nhiều chính sách nhằm đẩy mạnh
việc nâng cao đời sống kinh tế, văn hóa tinh thần của cộng đồng người Khmer.
Phát triển văn hoá tộc người Khmer ở Trà Vinh là rất quan trọng và cần thiết,
không chỉ để phát triển văn hoá tộc người tại địa phương mà còn góp phần tạo
nên một bức tranh văn hóa đa dang mà thống và của đất nước. Nghiên cứu đề
tài này, luận án rút ra một số kết luận như sau:
1. Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên là một yếu tố không thể thiếu trong đời
sống văn hóa của tộc người Khmer ở Trà Vinh. Tín ngưỡng này không chỉ là
biểu hiện của văn hóa gia đình, dòng họ mà nó còn mang tính cộng đồng thông
qua lễ cúng ông bà ở không gian chùa và trách nhiệm của cá nhân, gia đình đối
với phum, sróc. Nghiên cứu tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Khmer ở
tỉnh Trà Vinh trong mối quan hệ giao lưu tiếp biến với các yếu tố văn hóa dân
151
gian và tôn giáo là cách tiếp cận nhằm tìm hiểu sự đa dạng sắc thái văn hóa của
tộc người cũng như của địa phương. Người Khmer ở Nam bộ nói chung và ở
tỉnh Trà Vinh nói riêng có một hệ thống tín ngưỡng dân gian phong phú, đặc
sắc. Tín ngưỡng dân gian không chỉ là bộ phận quan trọng của văn hóa tộc
người Khmer trong quá khứ mà còn có vai trò to lớn đối với đời sống tinh thần,
nếp sống văn hóa của tộc người Khmer trong cuộc sống đương đại. Song song
đó, sự nổi bật trong thờ cúng tổ tiên của người Khmer là đặc trưng về tôn giáo.
2. Phật giáo Nam tông giữ một vai trò không thể thiếu trong tín ngưỡng
thờ cúng tổ tiên của người Khmer. Tôn giáo này đã chi phối từ hình thức đến
nội dung và quan niệm của người Khmer về linh hồn tổ tiên. Tuy nhiên, trong
cuộc sống đương đại, tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Khmer đã có những
biến đổi nhất định. Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Khmer ở Trà Vinh
đã có sự hỗn dung giữa Phật giáo Nam tông với các loại hình tín ngưỡng dân
gian như: tín ngưỡng thờ Neak – Ta, thờ các vị thần tại gia, các vị thần của Bà
La môn giáo. Bên cạnh đó còn có biểu hiện sự hỗn dung với tín ngưỡng thờ
cúng tổ tiên của các tộc người anh em cộng cư tại địa phương như: dung hợp
thêm hình thức địa táng, quan niệm linh hồn người chết đoàn tụ với ông bà tổ
tiên, tin tưởng linh hồn có khả năng phù hộ cho con cháu trong cuộc sống.
Thông qua sự hỗn dung đó, tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Khmer trở
nên gần gũi với văn hoá của các tộc người cộng cư.
3. Trong đời sống của người Khmer, Phật giáo Nam tông đã trở thành
chỗ dựa tinh thần không thể thiếu. Tôn giáo này gần gũi gắn bó với người
Khmer từ cuộc sống đời thường đến những nghi lễ quan trọng của đời người.
Quá trình cùng tồn tại với tộc người Khmer, Phật giáo Nam tông đã được bản
địa hóa thành những đặc trưng riêng tại vùng đất Trà Vinh. Ngoài những nghi
thức mang đặc trưng Phật giáo còn có những nghi thức, nghi lễ có sự kết hợp
với các yếu tố dân gian. Ngoài những quan niệm, nghi lễ dành cho người mất
được đúc kết từ truyền thuyết Phật giáo thì yếu tố có tính tương đồng với văn
152
hoá của tộc người Kinh và người Hoa tại địa phương cũng được Phật giáo Nam
tông thừa nhận. Điều này đã được thể hiện khá rõ nét khi các nghi lễ trong tín
ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Khmer ở Trà Vinh đã dung hợp một số hình
thức thờ cúng tổ tiên của người Kinh và người Hoa hoặc giản lược các nghi lễ.
4. Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Khmer ở Trà Vinh là kết quả
của quá trình tích lũy, sáng tạo và dung hợp của nhiều yếu tố văn hóa khác nhau
trong đó có Phật giáo Nam tông. Cùng song song tồn tại trong tín ngưỡng thờ
cúng tổ tiên của người Khmer Phật giáo Nam tông vừa giữ vai trò bảo hộ cho
linh hồn của tổ tiên vừa là cầu nối giữa linh hồn với các thế hệ con cháu. Phật
giáo giữ vai trò quyết định cho linh hồn của con người được đi về đâu nhưng
đồng thời cũng định hướng, giúp đỡ cho linh hồn thông qua việc hình thành các
hình thức thực hành nghi lễ của con cháu. Với vai trò to lớn đó, Phật giáo Nam
tông cũng đã thực hiện được chức năng giáo dục của mình để củng cố niềm tin
tôn giáo trong cộng đồng tộc người Khmer.
5. Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Khmer ở Trà Vinh đang chịu
sự tác động mạnh mẽ của xã hội đương đại. Nếu việc tác động của đời sống xã
hội làm biến đổi văn hóa là tính tất yếu thì sự biến đổi tín ngưỡng thờ cúng tổ
tiên của người Khmer cũng thuộc qui luật ấy. Thật vậy, khi đời sống kinh tế
được phát triển, người Khmer đã sáng tạo thêm những “nhu cầu” mới cho linh
hồn tổ tiên thông qua việc cất nhà mồ, xây tháp cốt, quan tâm nâng cao giá trị
vật chất và tinh thần cho linh hồn. Sự phát triển của hôn nhân đa tộc người đã
du nhập nhiều yếu tố văn hoá của các tộc người khác thông qua việc thay đổi
hình thức, thời gian thờ cúng. Trong quá trình giao lưu văn hoá tín ngưỡng thờ
cúng tổ tiên là một phương tiện để người Khmer thể hiện các đặc trưng văn hoá
truyền thống của mình như: Vai trò của Phật giáo Nam tông, các loại hình nghệ
thuật truyền thống, quan niệm trong các nghi lễ cúng tổ tiên. Nhiều nghi lễ
trong tín ngưỡng xuất hiện hiện tượng vay mượn các yếu tố văn hóa khác, biến
đổi theo nhu cầu của chủ thể văn hóa, sự giản lược nhiều nghi lễ. Điều đáng
153
quan tâm là có những quan niệm truyền thống trong tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên
đã và đang còn tồn tại song song với những quan niệm được hỗn dung vào tâm
thức của những thành viên trong cộng đồng dù hình thức thờ cúng có những
biến đổi. Nét độc đáo ở đây là quá trình giao lưu tiếp biến đã hỗn dung những
giá trị văn hoá mới mà chính chủ thể văn hoá cũng không giải thích được nguồn
gốc nguyên sơ của nó.
6. Đã có những ảnh hưởng và tác động qua lại giữa hệ thống tín ngưỡng
thờ cúng tổ tiên của người Kinh, người Hoa và người Khmer ở Trà Vinh. Sự
đan xen các tộc người trong địa bàn sinh sống tất yếu sẽ dẫn đến những giao
lưu và tiếp biến văn hóa. Người Khmer ở Trà Vinh đã tiếp thu thêm những
phong tục, tín ngưỡng tốt đẹp của người Kinh, người Hoa để làm giàu thêm
vốn văn hóa truyền thống của mình. Đồng thời cũng thể hiện sự độc đáo trong
văn hóa của tộc người thông qua tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên. Đây là điểm đáng
trân quý và cũng là một nét đẹp trong truyền thống văn hóa của dân tộc ta.
154
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Sách trong nước
1. Viết An (2008), Phong tục cổ truyền Việt Nam và các nước, Nxb Hà Nội.
2. Đào Duy Anh (1957), Việt Nam văn hóa sử cương, Nxb Thuận Hóa, Huế.
3. Toan Ánh (1991), Phong tục Việt Nam, Nxb Khoa học xã hội.
4. Toan Ánh (2000), Phong tục thờ cúng trong gia đình Việt Nam, Nxb Văn
hóa thông tin, Hà Nội.
5. Ban Bí thư Trung ương Đảng (1991), Chỉ thị 68/CT-TW, ngày 18 tháng 4
năm 1991 Về công tác ở vùng đồng bào dân tộc Khmer, Nxb Chính trị quốc
gia, Hà Nội.
6. Ban Dân tộc học (1980), Người Khmer ở Đồng bằng sông Cửu Long, Viện
Khoa học Xã hội tại thành phố Hồ Chí Minh.
7. Ban Tổ chức Tỉnh ủy Trà Vinh (2007), Một số nội dung làm việc với Tạp chí
Xây dựng Đảng, ngày 10 tháng 7 năm 2007.
8. Ban Tuyên giáo Huyện ủy Trà Cú (1999), Lịch sử đảng bộ Trà Cú lãnh đạo
hai cuộc kháng chiến chống pháp và chống mỹ (1945 – 1975).
9. Võ Thanh Bằng (2008), Tín ngưỡng dân gian ở Thành phố Hồ Chí Minh,
Nxb Đại học quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh.
10. Trần Văn Bính (2004), Văn hóa các dân tộc Tây Bắc thực trạng và những
vấn đề đặt ra, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
11. Bounsayxiong NẼNGAYOU (2015), Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người
Mông trắng ở làng Phalavek, huyện Hôm Tỉnh Xay Xôm Bun, nước Cộng hòa
Dân chủ Nhân dân Lào (Luận văn cao học), Học viện Khoa học xã hội.
12. Trần Văn Bổn (1999), Một sồ lễ tục dân gian người Khmer Đồng bằng sông
Cửu Long, Nxb Văn hóa Dân tộc, Hà Nội.
13. Trần Văn Bổn (2002), Phong tục và nghi lễ vòng đời người Khmer Nam
Bộ, Nxb Đại học quốc gia Hà Nội.
14. Nguyễn Mạnh Cường (2002), Vài nét về người Khmer Nam Bộ, Nxb Khoa
học Xã hội, Hà Nội.
155
15. Y Chu (2008), Thờ cúng tổ tiên trong phong tục Việt Nam, Nxb Thành phố
Hồ Chí Minh.
16. Hà Hoài Dung (2005), Tìm hiểu nghi lễ cưới hỏi, thờ cúng trong dân gian,
Nxb Từ điển bách khoa.
17. Đảng Cộng sản Việt Nam (1991), Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời
kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Nxb Sự thật, Hà Nội.
18. Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần
thứ VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
19. Đảng Cộng sản Việt Nam (1998), Văn kiện Hội nghị lần thứ năm Ban chấp
hành Trung ương khóa VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
20. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần
thứ IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
21. Đảng Cộng sản Việt Nam (2008), Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 5 tháng
08 năm 2008, của Ban Chấp hành Trung ương khóa X về nông nghiệp,
nông dân, nông thôn, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
22. Trần Thị Thanh Đào (2004), Bàn thờ tổ tiên của người Việt ở ngoại thành
Thành phố Hồ Chí Minh (Trường hợp huyện Bình Chánh) (luận văn cao
học), Đại học Khoa học xã hội Thành phố Hồ Chí Minh.
23. Khai Đăng (2009), Tản mạn về tín ngưỡng và phong tục tập quán của người
Việt, Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội.
24. Cao Huy Đỉnh (1996), Tìm hiểu tiến trình văn hoá dân gian Việt Nam, Nxb
Văn hoá Thông tin, Hà Nội.
25. Phạm Trường Giang (2016), So sánh tục thờ cúng tổ tiên giữa người Việt và
người Khmer ở huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long (Luận văn cao học), Đại học
Trà Vinh.
26. Phạm Thị Phương Hạnh – Lương Minh Hinh – Vũ Thống Nhất – Huỳnh
Công Tín (2011), Văn hóa Khmer Nam Bộ nét đẹp trong bản sắc văn hóa
Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia – sự thật, Hà Nội.
27. Mai Thanh Hải (2005), Thờ cúng tổ tiên (tang lễ, ma chay, giỗ chạp) như
thế nào, Nxb Văn hóa thông tin.
28. Hoàng Ngọc Hiến (1999), Mỹ học Folklor, Nxb Đà Nẵng.
156
29. Nguyễn Duy Hinh (2003), Thần và quỷ, Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo (số1).
30. Phạm Văn Hùng (2016), Quan niệm về vũ trụ trong thần thoại Việt Nam,
tạp chí khoa học xã hội số 5(6/2016)
31. Nguyễn Thị Mai Hương (2014), Tục thờ cúng tổ tiên của người Mường ở
xã Bắc Phong, huyện Cao Phong, tỉnh Hòa Bình (Luận văn cao học), Học
viện Khoa học xã hội.
31. Trần Minh Hường (2010), Hình tượng rắn qua tục thờ và huyền thoại, Tạp
chí Văn hóa Nghệ thuật, (số 311).
33. Đỗ Huy (2005), Văn hóa và phát triển, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
34. Đổ Huy - Trường Lưu (1990), Bản sắc dân tộc của văn hóa, Nxb Văn hóa
Thông tin, Hà Nội.
35. Huyện ủy Châu Thành, tỉnh Trà Vinh (2007), Báo cáo công tác xây dựng
Đảng gắn với xây dựng hệ thống chính trị ở vùng có đông đồng bào dân
tộc Khơ me, ngày 24 tháng 5 năm 2007.
36. Phạm Trường Khang – Hoàng Lê Minh (2009), Từ điển Văn hóa gia đình,
Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội.
37. Vũ Ngọc Khánh - Phạm Minh Thảo (2009), Từ điển Việt Nam văn hóa tín
ngưỡng phong tục, Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội.
38. Phan Khoang (1967), Việt sử: Xứ đàng trong 1558 – 1777, Nhà sách Khai
Trí xuất bản, Sài Gòn.
39. Nguyễn Xuân Kính (2003), Con người – môi trường – văn hóa, Nxb Khoa
học Xã hội, Hà Nội.
40. Võ Phương Lan (2012), Thờ cúng tổ tiên người Việt, Nxb Từ điển bách
khoa, Hà Nội.
41. Bùi Xuân Lâm (2013), Nghi lễ thờ cúng cổ truyền của người Việt, Nxb Hà Nội.
42. Thanh Lê (1999), Văn hóa và đời sống xã hội, Nxb Thanh niên, Hà Nội.
43. Phan Huy Lê (2008), Lược sử vùng đất Nam Bộ Việt Nam, Nxb Thế giới,
Hà Nội.
44. Nguyễn Đức Lữ - Nguyễn Thị Hải Yến (2013), Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên
ở Việt Nam xưa và nay, Nxb Hà Nội.
157
45. Huỳnh Lứa (1987), Lịch sử khai phá vùng đất Nam Bộ, Nxb Thành phố Hồ
Chí Minh, Tp Hồ Chí Minh.
46. Trường Lưu (1999), Văn hóa một số vấn đề lý luận, Nxb Chính trị quốc gia, Hà
Nội.
47. Trường Lưu (2006), Văn minh tinh thần từ chất lượng văn hóa, Nxb Văn
hóa Thông tin và Viện Văn hóa, Hà Nội.
48. Trường Lưu - Hoàng Túc - Đặng Vũ Thị Thảo - Huỳnh Ngọc Tráng - Thạch
Voi - Lê Vân (1993), Văn hóa người Khơ me vùng Đồng bằng sông Cửu
Long , Nxb Văn hóa Dân tộc, Hà Nội.
49. Trường Lưu (2001): Toàn cầu hóa và vấn đề bảo tồn văn hóa dân tộc, Nxb
Chính trị quốc gia, Hà Nội.
50. Bùi Xuân Mỹ (2006), Tục thờ cúng của người Việt, Nxb Văn hóa thông tin.
51. Minh Nghiêm - Trương Thìn (2010), Nghi lễ thờ cúng tổ tiên, đền, chùa,
miếu phủ, Nxb Thời đại.
52. Minh Nghiêm (2010), 101 câu hỏi về lễ nghi thờ cúng tổ tiên, Nxb Thời đại.
53. Phan Hồng Ngọc (2013), Lễ giỗ họ của dòng họ Phan Văn xã Quỳnh Bá, huyện
Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An (Luận văn cao học), Học viện Khoa học xã hội.
54. Trần Văn Nhàn (2013), Tục hiếu kính tổ tiên của người Công giáo Trung
bộ Việt Nam (Qua nghiên cứu làng đạo Quy Chính, xã Vân Diên, huyện
Nam Đàn, tỉnh Nghệ An (Luận văn cao học), Học viện Khoa học xã hội.
55. Lương Văn Sáu (2009), Thờ cúng tổ tiên của người Việt Nam bộ (Luận văn
cao học), Đại học Khoa học xã hội và nhân văn Thành phố Hồ Chí Minh.
56. Lê Thị Son (2008), Triết học trong tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người
Việt ở Nam bộ (Luận văn cao học), Đại học Khoa học xã hội và nhân văn
Thành phố Hồ Chí Minh.
57. Sở Văn hóa Thông tinh Trà Vinh (2005), Người Khmer và Văn hóa Khmer
Trà Vinh.
58. Phạm Côn Sơn (2005), Gia lễ xưa và nay, Nxb Thanh niên.
59. Lê Thanh Sơn (2020), Kiến trúc và hiện tượng cộng sinh văn hóa, Nxb Xây
dựng, Hà Nội.
158
60. Diệu Thanh – Trọng Đức (2005), Phong tục và những điều kiêng kỵ, Nxb
văn hóa thông tin.
61. Trần Ngọc Thêm (1999), Cơ sở văn hóa Việt Nam, Nxb Giáo dục, Tp Hồ
Chí Minh.
62. Trần Đình Thêm (2010), Văn hóa các dân tộc Tây Nguyên Việt Nam, Nxb
Thanh niên.
63. Trương Thìn (2004), Nghi lễ thờ cúng tổ tiên đền, chùa, miếu truyền thống
và hiện đại, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội.
64. Ngô Đức Thịnh (2012), Tín ngưỡng và văn hóa tín ngưỡng ở Việt Nam,
Nxb Thành phố Hồ Chí Minh.
65. Ngô Đức Thịnh (2006), Văn hoá văn hóa tộc người và văn hóa Việt Nam,
Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội.
66. Ngô Đức Thịnh, Nguyễn Xuân Kính (1990), Văn hoá dân gian những
phương pháp nghiên cứu, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội.
67. Ngô Đức Thịnh – Frank Proschan (2005), Folklore thế giới, một số thuật
ngữ đương đại, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội.
68. Ngô Đức Thịnh (2012), Tín ngưỡng và văn hóa tín ngưỡng ở Việt Nam,
Nxb Trẻ, Tp Hồ Chí Minh.
69. Bùi Quang Tịnh – Bùi Thị Tuyết Khanh (2005), Từ điển tiếng Việt, Nxb
thống kê, Tp Hồ Chí Minh.
70. Hồ Đức Thọ (2005), Nghi lễ thờ cúng truyền thống của người Việt tại nhà
và chùa, đình, miếu, phủ, danh sơn cổ tích, Nxb Văn hóa thông tin.
71. Nguyễn Hữu Thông (2001), Tín ngưỡng thờ Mẫu ở miều Trung Việt Nam,
Nxb Thuận Hóa, Huế.
72. Vũ Mai Thùy (2004), Phong tục tập quán người Việt, Nxb Văn hóa thông
tin, Hà nôi.
73. Huỳnh Công Tín (2012), Ấn tượng văn hóa đồng bằng Nam Bộ, Nxb Chính
trị quốc gia, Hà Nội.
74. Huỳnh Ngọc Trảng (2002), Truyện cổ dân gian Khơ me, Nxb Đồng Nai.
75. Huỳnh Ngọc Trảng – Nguyễn Đại Phúc (2013), Đặc khảo về tín ngưỡng
thờ gia thần, Nxb Văn hóa văn nghệ, Thành phố Hồ Chí Minh.
159
76. Phan Nhật Trinh (2016), Sự dung hợp giữa Phật giáo và tín ngưỡng thờ
cúng tổ tiên của người Việt hiện nay (Qua khảo cứu tại một số chùa ở Thành
phố Hà Nội), luận án tiến sĩ, Đại học quốc gia Hà Nội – Đại học KHXHNV
77. Vương Hoàng Trù – Phú Văn Hẳn (2012), Một số vấn đề về dân tộc và tôn
giáo ở Nam Bộ trong phát triển, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội.
78. Uỷ ban Nhân Dân huyện Trà Cú (2010), Quy hoạch tổng thể kinh tế - xã
hội huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh đến năm 2020.
79. Ủy ban Dân tộc – trang tin điện tử, Người Khmer, http://cema.gov.vn
80. Đặng Nghiêm Vạn (1996), Về tín ngưỡng tôn giáo Việt Nam hiện nay, Nxb
Khoa học Xã hội, Hà Nội.
81. Viện Văn hóa (1998), Tìm hiểu vốn văn hóa dân tộc Khmer Nam bộ, Nxb Hậu
Giang.
82. Viện Khoa học Xã hội tại Thành phố hồ Chí Minh (1982), Một số vấn đề khoa
học xã hội về Đồng bằng sông Cửu Long, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội.
83. Viện Văn hóa (1984), Mấy đặc điểm văn hóa Đồng bằng sông Cửu Long,
Viện Văn hóa xuất bản, Hà Nội.
84. Viện văn hóa nghệ thuật Việt Nam (2013), Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên
trong xã hội đương đại (Nghiên cứu trường hợp tín ngưỡng thơ cúng Hùng
Vương ở Việt Nam), Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội.
85. Viện nghiên cứu văn hóa (nhiều tác giả) (2019), Văn hóa – xã hội nông thôn
Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi, Nxb thế giới.
86. Thạch Voi (2001), Bản sắc văn hóa dân tộc Khơ me Nam Bộ, Nxb Trung
tâm văn hóa thành phố Hồ Chí Minh.
87.Trần Hoàng Vũ (2011), Lược sử hình thành cộng đồng dân cư Khmer an
giang và văn hóa Khmer An Giang (Đề tài nghiên cứu bảo tồn và phát
huy các giá trị văn hóa Khmer An Giang),
https://sites.google.com/site/vhlsangiang/nghien-cuu-an-giang/van-
hoa/lichsuhinhthanhcongdongdancuvavanhoakhmerangiang
88. Vụ Văn hóa dân tộc - Bộ Văn hóa Thông tin (2004), Xây dựng đời sống văn
hóa vùng dân tộc Khơ me Nam Bộ, (Kỷ yếu Hội thảo khoa học).
89. Trần Quốc Vượng (Chủ biên) (1999), Cơ sở văn hoá Việt Nam, Nxb Giáo dục.
160
90. Nguyễn Như Ý (chủ biên)(2004), Đại từ điển Tiếng Việt, Nxb Văn hóa
Thông tin, Hà Nội.
91. Nguyễn Thị Yên (2010), Tín ngưỡng dân gian Tày, Nùng, Nxb Khoa học xã hội.
92. Nguyễn Thị Yên (2011), Then giải hạn của người Thái Trắng ở thị xã Mường
Lay, tỉnh Điện Biên, Nxb Khoa học xã hội.
Sách nước ngoài (Bản dịch)
92. Arnold van Gennep (1960), The rite of passage, NxbRoutledge & Kegan
Paul, London.
93. C.Mác và Ph.Ăngghen toàn tập (1994), Tập 20, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
94. C.Mác và Ph.Ăngghen toàn tập (1995), tập 2, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
95. C.Mác và Ph.Ăngghen toàn tập (1995), tập 3, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
96. C.Mác và Ph.Ăngghen toàn tập (2002), tập 4, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
97. C.Mác và ph.Ăngghen toàn tập (1995), tập 23, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
98. Dominique Wolton (2006), Toàn cầu hóa văn hóa, Nxb Thế giới, Hà Nội.
99. E.B.Tylor (2001), Văn hóa nguyên thủy, Huyền Giang dịch, Tạp chí văn
hóa nghệ thuật xuất bản.
100. Ronald Inglehart, Wayne E. Baker (2000), Hiện đại hóa, biến đổi văn hóa
và sự duy trì những giá trị văn hóa truyền thống, Bùi Lưu Phi Khanh dịch,
Đại học Princeton, Mỹ.
101. Saw Thant Zin (2002), Symbiosis religious pluralism, Assumption
University of Thailand.
102. Osman Bakar (2008), Cultural symbiosis and the role of Religion in the
contemporary world: an Islamic perspective, KaTha – The official journal
of the centre for civilisational Dialogue, vol 4.
103. Yoichi Kawacha, Buddhist Thoughts on symbiosis – An its comtenporary
Implications,http://buddhism.lib.ntu.edu.tw/FULLTEXT/JRMAG/mag373
908.pdf
161

