
LUẬN VĂN:
Tỉnh uỷ bắc giang lãnh đạo phát triển
giáo dục phổ thông Trong giai đoạn hiện nay

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Giáo dục là một hoạt động đặc thự của xó hội loài người. Từ khi hỡnh thành, tồn tại
và phỏt triển, xó hội loài người đạt được những thành tựu, những bước tiến vĩ đại như
ngày nay chính là kết quả của quá trỡnh lao động sáng tạo, đấu tranh và cải tạo thế giới
của con người. Loài người có được kết quả như vậy là nhờ quỏ trỡnh giỏo dục thường
xuyên, liên tục và không ngừng sáng tạo của các thế hệ loài người kế tiếp nhau.
Giáo dục đặc biệt cần thiết đối với sự phát triển của mỗi con người và của cả xó hội.
Năng lực của một con người bao gồm toàn bộ thể lực, trí lực, phẩm chất đạo đức, nhân
cách. Năng lực đó phần lớn do giáo dục đào tạo mà có, nó làm cho con người trở nên có
ích, có giá trị, có chất lượng, hiệu quả của lao động cũng vỡ thế mà tăng lên không
ngừng, làm cho xó hội loài người liên tục phát triển. Loài người đó và đang có ngày càng
nhiều phát minh khoa học, công nghệ được ứng dụng vào cuộc sống, làm cho năng suất
lao động xó hội tăng lên vượt bậc, thông qua giáo dục, đào tạo, nguồn nhõn lực cú trỡnh
độ học vấn ngày càng cao, ngày càng tạo ra nhiều của cải vật chất và văn hoá, xó hội.Vị
trớ của giỏo dục ngày càng cú ý nghĩa quyết định đối với sự phát triển của mỗi con
người, mỗi gia đỡnh, mỗi địa phương, đơn vị và mỗi quốc gia, dân tộc, nhất là trong thời
kỳ kinh tế tri thức hiện nay.
Nhận thức rừ vị trí, vai trũ của giỏo dục đào tạo, đối với sự phát triển của con người
và đất nước, nên ngay từ khi thành lập cho đến nay, Đảng ta đó đặc biệt quan tâm đến
nền giáo dục của nước nhà. Trong các thời kỳ cách mạng Đảng đó kịp thời đề ra những
chủ trương, nghị quyết đúng đắn để lónh đạo phát triển sự nghiệp giáo dục đào tạo trong
cả nước. Vỡ thế từ một quốc gia nghèo nàn, lạc hậu, hầu hết người dân đều mù chữ bởi
chính sách ngu dân thuộc địa dó man của thực dân Pháp và bọn địa chủ phong kiến áp
bức kéo dài ngót một thế kỷ, giờ đây nền giáo dục đào tạo ở Việt Nam đó đạt được nhiều
thành tựu hết sức to lớn. Việt Nam cú tỉ lệ dõn số biết chữ, trỡnh độ giáo dục trung học
và đại học cao hơn nhiều so với các quốc gia có thu nhập đầu người tương đương. Hằng
năm số lượng học sinh, sinh viên đều tăng từ 1,8 đến 2 triệu người. Mạng lưới giáo dục
phát triển rộng khắp toàn quốc, từ thành thị đến nông thôn, miền núi, hải đảo, đó tạo cơ

hội cho con em các gia đỡnh ở khắp cỏc miền được đến trường (nhất là cấp tiểu học) tạo
sự công bằng được hưởng thụ, tiếp cận giỏo dục. Cỏc hỡnh thức tổ chức trong giỏo dục
đào tạo ngày càng đa dạng và mở rộng hơn, nhiều hỡnh thức giỏo dục được triển khai
như: chính quy, tại chức, giáo dục thường xuyên, giáo dục từ xa...Chất lượng giỏo dục ở
cỏc cấp học và trỡnh độ đào tạo có chuyển biến. Nội dung dạy học và kiến thức của học
sinh phổ thông đó cú tiến bộ, toàn diện hơn. Trỡnh độ hiểu biết, năng lực tiếp cận tri thức
mới của học sinh, sinh viên được nõng cao. Cụng tỏc quản lý chất lượng giáo dục được
đặc biệt chú trọng...
Tuy nhiên đứng trước yêu cầu thời kỳ mới, thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá,
hiện đại hoá đất nước và hội nhập hợp tác quốc tế, đũi hỏi nguồn nhân lực phải có chất
lượng cao, thỡ nền giỏo dục nước nhà nói chung và giáo dục phổ thông núi riờng cũn bộc
lộ nhiều mặt bất cập, yếu kộm. Chúng ta đang đứng trước nhiều thách thức lớn. Cơ cấu
hệ thống giáo dục quốc dân chưa đồng bộ, thiếu tính liờn thụng giữa cỏc cấp học và cỏc
trỡnh độ đào tạo. Chất lượng và hiệu quả của giáo dục đào tạo cũn hạn chế về kiến thức,
kỹ năng, phương pháp tư duy khoa học cũn thấp hơn so với trỡnh độ của các nước tiên
tiến trong khu vực. Nội dung giáo dục tuy được đổi mới nhưng cũn nhiều mặt hạn chế.
Đội ngũ giáo viên và cỏn bộ quản lý giỏo dục cũn nhiều điểm bất cập, chưa đáp ứng được
nhiệm vụ giáo dục trong thời kỳ mới...Với đũi hỏi từ thực tiễn hiện nay, Đảng cần tăng
cường hơn nữa sự lónh đạo đối với công tác giáo dục và đào tạo.
Trong những năm qua, cùng với sự phát triển về kinh tế - xó hội, ngành giáo dục,
đào tạo tỉnh Bắc Giang đó đạt được nhiều thành tựu quan trọng. Quy mô cơ sở giáo dục
đào tạo ngày càng được mở rộng; đa dạng hoỏ loại hỡnh đào tạo, đáp ứng nhu cầu học
tập của người dân. Chất lượng giáo dục từng bước được nâng lên ở tất cả các cấp học. Tỷ
lệ học sinh lên lớp và đỗ vào các trường đại học, cao đẳng năm sau cao hơn năm trước.
Bắc Giang là tỉnh được xếp thứ 10 trong các tỉnh, thành phố của toàn quốc về chất lượng
giáo dục. Đội ngũ giáo viên cơ bản đáp ứng được yêu cầu giảng dạy...
Bắc Giang cách Thủ đô Hà Nội 50 km về phía Bắc và nằm trên hành lang kinh tế
Hà Nội - Hải Phũng - Quảng Ninh nên có điều kiện phát triển kinh tế công nghiệp trong
tương lai gần. Những năm gần đây, nguồn vốn FDI được đầu tư vào tỉnh, thu hỳt hàng

nghỡn lao động địa phương. Yêu cầu đặt ra đối với địa phương là phải đáp ứng yêu cầu
chất lượng nguồn nhân lực. Vỡ vậy Tỉnh uỷ Bắc Giang đó đặc biệt quan tâm phát triển
giáo dục, đào tạo. Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVI khẳng định:
Phỏt triển hợp lý, đa dạng cỏc loại hỡnh trường, lớp. Đổi mới mạnh mẽ
phương phỏp dạy và học, cụng tỏc quản lý giỏo dục; đẩy nhanh tiến độ xây dựng
trường chuẩn, tích cực thực hiện phổ cập bậc trung học, nâng cao chất lượng giáo
dục toàn diện...Mở rộng quy mô, nâng cao chất lượng và đa dạng hoỏ cỏc loại hỡnh
đào tạo nghề...[13, tr.52-53].
Song, nền giáo dục đào tạo của tỉnh Bắc Giang cũn nhiều mặt hạn chế, cả về quy
mô, chất lượng, công tác quản lý, đội ngũ giáo viên và ở tất cả các cấp học mầm non, tiểu
học, trung học cơ sở, trung học phổ thông.
Những mặt ưu điểm và hạn chế trên có nhiều nguyên nhân, trong đó nguyên nhân
quan trọng, mang tính quyết định là sự quan tõm lónh đạo của Đảng bộ tỉnh mà trực tiếp,
thường xuyên là Tỉnh uỷ và các cấp uỷ đảng trong tỉnh đối với sự nghiệp giáo dục đào tạo
của tỉnh. Thực tiễn đang đặt ra yêu cầu phải tăng cường sự lónh đạo của Tỉnh uỷ đối với
ngành giáo dục đào tạo tỉnh Bắc Giang trong thời kỳ hội nhập kinh tế thế giới. Đảng phải
không ngừng đổi mới nội dung và phương thức lãnh đạo nói chung, trong đó có phương
thức lãnh đạo của Đảng đối với công tác giáo dục đào tạo, trước hết là giáo dục phổ thông.
Do đó, việc nghiên cứu nhằm đề ra các giải pháp đổi mới sự lãnh đạo của Đảng đối với
công tác giáo dục và đào tạo đang đặt ra hết sức cần thiết.
Với những lý do trờn, tôi lựa chọn đề tài : "Tỉnh uỷ Bắc Giang lónh đạo phát triển
giáo dục phổ thông trong giai đoạn hiện nay’’ làm luận văn thạc sỹ chuyên ngành xây
dựng Đảng tại Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh. Với mong muốn
góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả giáo dục, đào tạo của tỉnh nhà, nơi tôi hiện đang
công tác.
2. Tỡnh hỡnh nghiờn cứu liờn quan đến đề tài
Vấn đề Đảng lónh đạo đối với giáo dục đào tạo là vấn đề quan trọng, do đó đó được
nhiều nhà khoa học, nhiều tác giả nghiên cứu ở các khía cạnh khác nhau, đó cú không ít
đề tài cấp nhà nước, cấp bộ, sách chuyên khảo, bài viết trên các tạp chí nghiên cứu, tiêu

biểu như:
- Phạm Văn Đồng "Vấn đề giáo dục - đào tạo" Nxb Chính trị quốc gia, số
XB.01553/XB-QLXD 1/7/1999.
- Đỗ Mười "Phát triển mạnh giáo dục-đào tạo phục vụ đắc lực sự nghiệp công
nghiệp hoá, hiện đại hóa đất nước" , Nxb Giỏo dục - mó số:8G230M6.
- Nguyễn Trọng Bảo (1996), Gia đình, nhà trường, xã hội với việc phát hiện, tuyển
chọn, đào tạo, sử dụng và đãi ngộ người tài, Nxb Giáo dục, Hà Nội;
- Phạm Minh Hạc (1966), Phát triển giáo dục - phát triển con người - phục vụ phát
triển kinh tế xã hội, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội;
- Vũ Đình Cự (chủ biên) (1999), Giáo dục hướng tới thế kỷ XXI, Nxb Chính trị quốc
gia, Hà Nội;
- Nguyễn Hữu Châu (1999), Về định hướng chiến lược giáo dục đầu thế kỷ XXI của
một số nước trên thế giới, Viện Khoa học giáo dục;
- Phạm Minh Hạc (1997), Giáo dục nhân cách. Đào tạo nhân lực, Nxb Chính trị
quốc gia, Hà Nội;
- Phạm Minh Hạc (1999), Giáo dục Việt Nam trước ngưỡng cửa thế kỷ XXI, Nxb
Chính trị quốc gia, Hà Nội;
- Phạm Minh Hạc (2001), Nghiên cứu con người và nguồn nhân lực đi vào công
nghiệp hoá, hiện đại hoá, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội;
- Nguyễn Đăng Tiến (chủ biên) (1996), Lịch sử giáo dục Việt Nam, Nxb Giáo dục,
Hà Nội.
- Luận cứ khoa học cho vịêc đổi mới chớnh sỏch xó hội, (1994) Chương trỡnh khoa
học- cụng nghệ cấp nhà nước KX.04.
- Chiến lược phát triển giáo dục 2001-2010 (2002) Nxb Giáo dục, Hà Nội.
- Đặng Hữu "Phỏt triển kinh tế tri thức, rỳt ngắn quỏ trỡnh công nghiệp hoá, hiện
đại hoá đất nước" (2001), Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
-"Phát triển giáo dục đáp ứng yêu cầu đào tạo nhân lực phục vụ sự nghiệp công
nghiệp hoá, hiện đại hoá, từng bước phát triển kinh tế trí thức". Kỷ yếu hội thảo khoa
học: Kinh tế tri thức với đào tạo nguồn nhân lực ở Việt Nam trong thập niên đầu của thế

