Tổ chức dạy học theo hướng tăng cường vận dụng kiến thức vật lí vào thực tiễn

Chia sẻ: Tony Tony | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:6

0
2
lượt xem
0
download

Tổ chức dạy học theo hướng tăng cường vận dụng kiến thức vật lí vào thực tiễn

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Bài báo đề xuất một số biện pháp tổ chức dạy học theo hướng tăng cường vận dụng kiến thức vật lí vào thực tiễn trong dạy học ở trường trung học phổ thông hiện nay và tác dụng, hiệu quả của chúng.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Tổ chức dạy học theo hướng tăng cường vận dụng kiến thức vật lí vào thực tiễn

Trường Đại học Vinh<br /> <br /> Tạp chí khoa học, Tập 46, Số 3A (2017), tr. 41-46<br /> <br /> TỔ CHỨC DẠY HỌC THEO HƯỚNG TĂNG CƯỜNG VẬN DỤNG<br /> KIẾN THỨC VẬT LÍ VÀO THỰC TIỄN<br /> Huỳnh Lê Hiếu Thảo (1), Lê Phước Lượng (2)<br /> 1<br /> Trường Đại học Sư phạm, Đại học Huế<br /> 2<br /> Trường Đại học Nha Trang<br /> Ngày nhận bài 23/5/2017, ngày nhận đăng 15/10/2017<br /> Tóm tắt: Bài báo đề xuất một số biện pháp tổ chức dạy học theo hướng tăng<br /> cường vận dụng kiến thức vật lí vào thực tiễn trong dạy học ở trường trung học phổ<br /> thông hiện nay và tác dụng, hiệu quả của chúng.<br /> <br /> 1. Đặt vấn đề<br /> Vật lí là môn khoa học thực nghiệm, kiến thức gắn kết một cách chặt chẽ với thực<br /> tế đời sống. Tuy nhiên, thực trạng dạy học (DH) vật lí ở phổ thông hiện nay cho thấy tình<br /> trạng “dạy chay, học chay” vẫn còn khá phổ biến, chưa thực sự gắn lý thuyết với thực<br /> hành. Trong DH, giáo viên (GV) ít liên hệ và vận dụng kiến thức vào thực tiễn cuộc<br /> sống. Chính vì vậy, đa số học sinh (HS) thường nắm bắt kiến thức một cách thụ động,<br /> chưa phát huy tư duy sáng tạo và gặp khó khăn khi vận dụng kiến thức vào các tình<br /> huống thực tiễn và đời sống.<br /> DH gắn với thực tiễn, GV không những làm cho HS thấy được những ứng dụng<br /> của kiến thức mình đã học, những ứng dụng trong khoa học kỹ thuật và trong đời sống<br /> mà còn hình thành ở HS niềm say mê khoa học, sự hứng thú trong tìm tòi, giải thích<br /> những sự thay đổi xung quanh, hình thành động cơ học tập đúng đắn.<br /> 2. Cơ sở khoa học và yêu cầu đề xuất các biện pháp dạy học theo hướng tăng<br /> cường vận dụng kiến thức vật lí vào thực tiễn<br /> Vật lí là môn khoa học thực nghiệm, gắn kết một cách chặt chẽ với thực tế đời<br /> sống. Tuy nhiên, đối với đại đa số HS phổ thông hiện nay, việc vận dụng kiến thức vật lí<br /> vào thực tiễn còn nhiều hạn chế. Do đó, muốn đổi mới phương pháp dạy học (PPDH)<br /> một cách có hiệu quả phải xuất phát từ đặc điểm của bộ môn. Vì vật lí là khoa học thực<br /> nghiệm, cho nên, ngoài việc có sự hiểu biết về các công thức, khái niệm, định luật, HS<br /> còn phải có sự trải nghiệm nhất định. Bởi vậy, DH vật lí không thể truyền thụ máy móc<br /> mà phải tìm cách kích thích hứng thú học tập của HS, làm cho HS thấy được ý nghĩa của<br /> việc học vật lí trong thực tiễn đời sống và đối với chính bản thân HS.<br /> DH ứng dụng kỹ thuật trong DH vật lí nhằm trang bị cho HS những nguyên lí<br /> khoa học chủ yếu của những ngành sản xuất chính, rèn luyện kĩ năng, kĩ xảo sử dụng và<br /> điều khiển các công cụ sản xuất cần thiết. Như vậy, bộ môn vật lí góp phần thực hiện một<br /> trong những nhiệm vụ cơ bản của trường phổ thông là đào tạo con người mới, những<br /> người lao động có tri thức và có năng lực thực hành, tự chủ, năng động và sáng tạo, sẵn<br /> sàng tham gia lao động sản xuất và các hoạt động xã hội.<br /> Bộ môn vật lí bắt nguồn từ cuộc sống, hình thành và phát triển theo sự đòi hỏi<br /> của cuộc sống. Các kiến thức vật lí được khái quát từ hàng loạt các sự kiện, hiện tượng<br /> hay được biểu đạt bởi các tiền đề lí thuyết tổng quát bằng ngôn ngữ toán học... đều được<br /> vận dụng vào quá trình lao động sản xuất, vào kỹ thuật, phục vụ cuộc sống con người.<br /> Email: luonglp@ntu.edu.vn (L. P. Lượng)<br /> <br /> 41<br /> <br /> H. L. H. Thảo, L. P. Lượng / Tổ chức dạy học theo hướng tăng cường vận dụng kiến thức vật lí vào thực tiễn<br /> <br /> DH vật lí chính là dạy một khoa học đã, đang tồn tại và phát triển, một khoa học sống<br /> động gắn với môi trường xung quanh. Do vậy, DH vật lí không thể tách rời với thực tiễn<br /> cuộc sống mà phải luôn gắn liền với những tình huống xuất phát và giải trình phù hợp,<br /> phải dựa trên đặc điểm nhận thức của HS.<br /> Ngoài việc truyền thụ các kiến thức cơ bản có trong sách giáo khoa, GV cần cung<br /> cấp thêm một số kiến thức, hình ảnh, hiện tượng vật lí có trong cuộc sống, trong sinh<br /> hoạt và trong suy nghĩ hằng ngày nhằm thỏa mãn nhu cầu nhận thức của HS.<br /> Bản chất của việc xác định mối liên hệ giữa vật lí và thực tiễn đời sống trong dạy<br /> học vật lí là chỉ ra những ứng dụng cụ thể của ngành vật lí vào đời sống, qua đó làm cho<br /> HS hiểu rõ bản chất của việc DH này có ý nghĩa như thế nào đối với sự phát triển khoa<br /> học và công nghệ, thấy được ý nghĩa của việc học vật lí nói riêng và các môn học nói<br /> chung trong việc tạo ra nguồn nhân lực đáp ứng nhu của công cuộc phát triển đất nước và<br /> hội nhập quốc tế.<br /> 3. Một số biện pháp dạy học theo hướng tăng cường vận dụng kiến thức vật<br /> lí vào thực tiễn<br /> Trên cơ sở lý luận và thực tiễn của hoạt động DH, chúng tôi đề xuất một số biện<br /> pháp DH sau:<br /> 3.1. Khai thác và sử dụng các phương tiện dạy học trực quan<br /> Phim, tranh ảnh, hình vẽ đóng vai trò trung gian giữa thực tế với tư duy bởi vì<br /> chúng đã cụ thể hóa những cái trừu tượng, làm cho thực tế phức tạp trở nên đơn giản. Vì<br /> vậy, một khi kiến thức được mô tả và trình bày bằng hình ảnh thì HS dễ học và dễ nhớ<br /> hơn. Dùng hình thức DH trực quan sẽ nâng cao hiệu quả của việc DH, bởi từ những biểu<br /> tượng, hình ảnh rõ ràng sẽ phát huy được tư duy trực quan, phát huy trí nhớ của HS.<br /> Chẳng hạn, khi DH các kiến thức về vật lí hạt nhân, GV có thể cho HS tìm hiểu<br /> về các lò phản ứng hạt nhân trên thế giới và những lò phản ứng hạt nhân làm việc hiệu<br /> quả thông qua những đoạn phim.<br /> 3.2. Trình bày những ứng dụng kỹ thuật của vật lí<br /> Việc nghiên cứu các ứng dụng kỹ thuật của vật lí góp phần phát triển tư duy vật lí<br /> kỹ thuật của HS, làm cho HS thấy được vai trò quan trọng của kiến thức vật lí đối với đời<br /> sống và sản xuất, qua đó, kích thích hứng thú, nhu cầu học tập của HS. GV trình bày<br /> những ứng dụng của kiến thức vật lí trong đời sống là hình thức đơn giản nhất giúp HS<br /> nắm bắt kiến thức lý thuyết. Tùy theo điều kiện của GV, HS và của nhà trường, việc trình<br /> bày những ứng dụng kỹ thuật này có thể thực hiện sau bài học; nếu có điều kiện thì cho<br /> HS thực hiện trong bài học bằng cách một nhóm tiến hành, báo cáo, sau đó cả lớp nhận<br /> xét, đánh giá, GV kết luận.<br /> Ví dụ: khi dạy về bài lực hướng tâm, GV có thể cho HS tìm hiểu nguyên tắc hoạt<br /> động của máy li tâm, vận dụng chúng vào thực tế đời sống.<br /> 3.3. Hướng dẫn học sinh tìm hiểu các ứng dụng của những kiến thức vật lí trong<br /> thực tiễn<br /> GV có thể yêu cầu HS tìm những ví dụ cụ thể mà các em thường gặp trong<br /> đời sống để minh họa cho bài học. Trong quá trình tìm hiểu các ví dụ minh họa, HS sẽ<br /> nảy sinh hai chiều hướng nhận thức sau:<br /> - Một là, HS đưa ra được những ví dụ sát với kiến thức bài học, chứng tỏ rằng HS<br /> hiểu nội dung, biết vận dụng kiến thức bài học vào thực tiễn.<br /> 42<br /> <br /> Trường Đại học Vinh<br /> <br /> Tạp chí khoa học, Tập 46, Số 3A (2017), tr. 41-46<br /> <br /> - Hai là, HS đưa ra những ví dụ không đúng hoặc không sát với kiến thức bài học,<br /> khi đó HS đã bộc lộ được những sự nhầm lẫn hoặc hiểu sai kiến thức bài học.<br /> Như vậy, dù quá trình nhận thức có xảy ra theo chiều hướng nào thì cũng có lợi<br /> về mặt giáo dục. GV cũng nên khuyến khích HS tự tìm những ứng dụng của những kiến<br /> thức đã học, xem HS phát hiện và giải quyết như thế nào, từ đó khêu gợi và rèn luyện<br /> cho họ tự tìm kiếm và vận dụng kiến thức một cách linh hoạt.<br /> 3.4. Liên hệ giữa kiến thức vật lí đã học với kinh nghiệm và hiểu biết đã có của<br /> học sinh trong đời sống để giải quyết một số vấn đề thực tiễn trong dạy học<br /> Trong cuộc sống hàng ngày, HS có thể vận dụng những kiến thức của vật lí vào<br /> trong thực tế, nhưng đôi khi, HS khó có thể tự mình nhận ra điều đó, nghĩa là HS chỉ làm<br /> mọi việc theo suy nghĩ của mình chứ chưa áp dụng một cách khoa học các kiến thức đã<br /> học. Vì thế, GV cần phải chỉ ra những mối liên hệ mật thiết giữa kiến thức với kinh<br /> nghiệm cuộc sống của HS, hoặc hướng dẫn họ phát hiện những điều này.<br /> Chẳng hạn, khi nghiên cứu cấu tạo chất, GV có thể tổ chức cho HS trình bày<br /> trước những hiểu biết của mình về chất trên thực tế; sau đó, cho HS sử dụng các dụng cụ,<br /> thí nghiệm sẵn có để kiểm chứng lại những gì HS đã phân tích rồi mới rút ra kết luận.<br /> 3.5. Liên hệ kiến thức vật lí thông qua bài tập mang tính thực tiễn<br /> Bài tập vật lí với chức năng là một PPDH có một vị trí đặc biệt trong DH vật lí.<br /> Thông qua bài tập vật lí, HS không những nắm được qui luật vận động của thế giới vật<br /> chất, mà còn giúp HS hiểu rõ những qui luật, biết phân tích và vận dụng những qui luật<br /> ấy vào thực tiễn. Việc giải các bài tập còn tạo điều kiện cho HS vận dụng kiến thức đã<br /> học để giải quyết các tình huống cụ thể, qua đó, kiến thức mới trở nên hoàn thiện.<br /> Trong quá trình giải quyết các tình huống cụ thể mà các bài tập vật lí đặt ra, HS<br /> phải sử dụng các thao tác tư duy như phân tích, tổng hợp, so sánh, khái quát hóa, trừu<br /> tượng hóa… để giải quyết vấn đề; do đó, tư duy của HS có điều kiện để phát triển. Có thể<br /> nói, kiến thức vật lí mang tính thực tiễn là một phương tiện rất tốt để HS phát triển tư<br /> duy, óc tưởng tượng, khả năng độc lập trong suy nghĩ và hành động, tính kiên trì trong<br /> việc khắc phục những khó khăn trong cuộc sống.<br /> 3.6. Tổ chức các buổi ngoại khóa, tham quan<br /> Hoạt động ngoại khóa và tham quan là những hoạt động rất thiết thực và bổ ích.<br /> Từ hoạt động này, HS vừa được học, vừa được vui chơi giải trí, tạo thêm niềm hứng thú<br /> để học tập tốt hơn. Hoạt động ngoại khóa còn có thể giúp HS củng cố, mở rộng, khơi sâu<br /> thêm tri thức về một số lĩnh vực nhất định, gắn kết các tri thức đó với thực tế đời sống.<br /> Trong quá trình tham quan, HS được tận mắt chứng kiến các thiết bị, mô hình,<br /> nhà máy, được nghe các chuyên gia kỹ thuật giới thiệu, mô tả cách vận hành của máy<br /> móc, được tận mắt chứng kiến sự vận hành của các thiết bị máy móc và có thể đặt câu<br /> hỏi với người hướng dẫn. Do đó, qua ngoại khóa và tham quan, kiến thức mà HS thu<br /> nhận sẽ bền vững và sâu sắc hơn.<br /> Chẳng hạn, khi học về cấu tạo và nguyên lý hoạt động của các động cơ, có thể tổ<br /> chức cho các em tham quan các xưởng máy của trung tâm hướng nghiệp dạy nghề để các<br /> <br /> 43<br /> <br /> H. L. H. Thảo, L. P. Lượng / Tổ chức dạy học theo hướng tăng cường vận dụng kiến thức vật lí vào thực tiễn<br /> <br /> em có thể tận mắt thấy các máy móc hoạt động; từ đó, các em thu nhận kiến thức một<br /> cách sâu hơn.<br /> 3.7. Tổ chức các cuộc thi “Sáng tạo khoa học kĩ thuật”, “Thiết bị dạy học”<br /> Đây là biện pháp nhằm phát huy sự sáng tạo, khéo léo của HS. Thông qua các<br /> cuộc thi, HS sẽ say mê tìm hiểu kiến thức, tích cực và năng động hơn trong học tập; từ<br /> đó, kiến thức được mở rộng cả về các ứng dụng của vật lí trong khoa học kỹ thuật, tư duy<br /> được phát triển, việc giáo dục hướng nghiệp với những ngành nghề sau này cho HS cũng<br /> được nâng cao. Tổ chức DH theo cách này, GV có thể thành lập câu lạc bộ vật lí trong<br /> nhà trường - đây cũng là một mô hình học tập không gò bó mà học gắn với hành, lí<br /> thuyết gắn liền với thực tiễn nhằm kích thích sự tò mò, sáng tạo trong quá trình học tập<br /> của HS.<br /> Chẳng hạn, Nhà trường tổ chức các cuộc thi tìm hiểu về khoa học kỹ thuật cho<br /> HS. Thông qua các cuộc thi này, HS biết vận dụng tất cả các kỹ năng cũng như kiến thức<br /> vật lí và các môn họa khác để giải thích các mô hình mà các em thiết kế.<br /> 4. Kết quả thực nghiệm sư phạm dạy học theo hướng tăng cường vận dụng<br /> kiến thức vật lí vào thực tiễn<br /> Chúng tôi đã tiến hành thực nghiệm sư phạm với các biện pháp trên khi DH<br /> chương ”Chất khí”, Vật lí 10 tại Trường THPT Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên - Huế với<br /> 2 lớp thực nghiệm (TNg): 10B1, 10B4 với 93 HS và 2 lớp đối chứng (ĐC): 10B2, 10B6<br /> với 92 HS. Kết quả thực nghiệm cho thấy:<br /> 30<br /> Lớp TNg<br /> <br /> 25<br /> Số bài kiểm tra<br /> <br /> Lớp ĐC<br /> <br /> 20<br /> 15<br /> 10<br /> 5<br /> 0<br /> 1<br /> <br /> 2<br /> <br /> 3<br /> <br /> 4<br /> <br /> 5<br /> 6<br /> Điểm số<br /> <br /> 7<br /> <br /> 8<br /> <br /> 9<br /> <br /> 10<br /> <br /> Hình 1: Đồ thị phân phối tần số điểm số của hai lớp ĐC và TNg<br /> <br /> 44<br /> <br /> Trường Đại học Vinh<br /> <br /> Tạp chí khoa học, Tập 46, Số 3A (2017), tr. 41-46<br /> <br /> 120<br /> Số % bài kiểm tra đạt điểm Xi trở xuống<br /> <br /> Lớp TNg<br /> <br /> 100<br /> Lớp ĐC<br /> <br /> 80<br /> 60<br /> 40<br /> 20<br /> 0<br /> <br /> 1<br /> <br /> 2<br /> <br /> 3<br /> <br /> 4<br /> <br /> 5<br /> <br /> 6<br /> <br /> 7<br /> <br /> 8<br /> <br /> 9<br /> 10<br /> Điểm số<br /> <br /> Hình 2: Đồ thị phân phối tần suất luỹ tích của hai lớp ĐC và TNg<br /> <br /> Các tham số đặc trưng của 2 nhóm:<br /> Nhóm TNg<br /> <br /> Nhóm ĐC<br /> <br /> Điểm trung bình<br /> <br /> x = 6,30<br /> <br /> x = 5,49<br /> <br /> Phương sai<br /> <br /> S2 = 2,65<br /> <br /> S2 = 2,91<br /> <br /> Độ lệch chuẩn<br /> <br /> S = 1,63<br /> <br /> S = 1,71<br /> <br /> Tham số<br /> <br /> Qua phép kiểm định thống kê cho thấy điểm trung bình lớp TNg cao hơn lớp ĐC<br /> có ý nghĩa về mặt thống kê. Điều đó chứng tỏ việc tăng cường vận dụng kiến thức vật lí<br /> vào thực tiễn, một mặt đã góp phần nâng cao chất lượng học tập môn vật lí, mặt khác, rèn<br /> luyện kĩ năng thực hành, phát triển ngôn ngữ khoa học và tạo sự vững vàng trong lập<br /> luận cho HS.<br /> 5. Kết luận<br /> Việc tăng cường ứng dụng kiến thức vật lí vào thực tiễn trong DH vật lí là tìm ra<br /> những ứng dụng cụ thể trong kỹ thuật và đời sống liên quan đến nội dung kiến thức DH.<br /> Phương pháp DH này đã làm cho HS hiểu rõ hơn bản chất của kiến thức vật lí và ý nghĩa<br /> của nó đối với đời sống, thấy được ý nghĩa thực tiễn của việc học tập bộ môn vật lí nói<br /> riêng và các môn học khác nói chung trong nhà trường phổ thông; từ đó, bồi dưỡng sự<br /> say mê, hứng thú và ý thức tự giác học tập của HS. Phương pháp DH này sẽ góp phần<br /> nâng cao chất lượng và hiệu quả DH; hình thành và phát triển giáo dục toàn diện cho HS,<br /> góp phần tạo ra nguồn nhân lực mới đáp ứng nhu cầu xã hội và hội nhập quốc tế hiện<br /> nay.<br /> <br /> 45<br /> <br />

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

Đồng bộ tài khoản