intTypePromotion=3
Array
(
    [0] => Array
        (
            [banner_id] => 140
            [banner_name] => KM1 - nhân đôi thời gian
            [banner_picture] => 964_1568020473.jpg
            [banner_picture2] => 839_1568020473.jpg
            [banner_picture3] => 620_1568020473.jpg
            [banner_picture4] => 994_1568779877.jpg
            [banner_picture5] => 
            [banner_type] => 8
            [banner_link] => https://tailieu.vn/nang-cap-tai-khoan-vip.html
            [banner_status] => 1
            [banner_priority] => 0
            [banner_lastmodify] => 2019-09-18 11:11:47
            [banner_startdate] => 2019-09-11 00:00:00
            [banner_enddate] => 2019-09-11 23:59:59
            [banner_isauto_active] => 0
            [banner_timeautoactive] => 
            [user_username] => sonpham
        )

)

tổ chức và kiểm soát quyền lực nhà nước: phần 1

Chia sẻ: Lê Na | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:179

0
121
lượt xem
48
download

tổ chức và kiểm soát quyền lực nhà nước: phần 1

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

cuốn sách "tổ chức và kiểm soát quyền lực nhà nước" của tác giả thái vĩnh thắng được biên soạn với mong muốn phân tích và lý giải cách thức tổ chức và kiểm soát quyền lực nhà nước trong các kiểu và mô hình nhà nước khác nhau nhằm tìm ra những nguyên lý, những bài học kinh nghiệm để phục vụ công cuộc xây dựng và hoàn thiện việc tổ chức bộ máy nhà nước ta phù hợp với các đặc trưng của nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. sách gồm 2 phần, sau đây là phần 1.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: tổ chức và kiểm soát quyền lực nhà nước: phần 1

  1. PGS. TS. THÁI VĨNH THẮNG TỈ CHỨC VÀ KIẾM SOÁT Q U Y Ề N Lực N H À NƯỚC (Sách chuyên khảo) NHÀ XUẤT BẢN Tư PHÁP HÀ NỘI - 2011
  2. LỜI GIỚI THIỆU Trong tác phẩm “i?à/7 \'ề khế ước xã hội” (Du contrat social) viết năm 1762, khi bàn về việc tổ chức và kiểm soát quyền lực trong tổ chức bộ máy nhà nước, Jean Jacques Rousseau đã từng viết; “Nếu các thiên thần cai quản thì không cần phải có sự kiểm soát đối với chính quyền từ bên ngoài và bên trong... Điều khó khăn nhất là ờ chỗ: trước hết, chính quyền phải có khả năng kiểm soát những người bị quản lý, kế tiếp, chính quyền phải có nghĩa vụ íiểm soát lẫn nhau”. Mặc dù nhận định trên đây được Rousseau đưa ra cách đây 249 năm nhưng đến nay nó vẫn còn giá trị. Khoa học về quản lý nhà nước ngày nay đã tiến bộ vưọt bậc nhưng công nghệ tổ chức và kiểm soát quyền lực nhà nước vẫn còn nhiều điều bất cập. ở nước này hay nước khác, quyền lực nhà nước vẫn còn bị lạm dụng, nạn tham nhũng trong bộ máy nhà nước vẫn tồn tại là do nhiều nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân không kiểm soát được đầy đủ quyền lực nhà nước. Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI đà chỉ rõ “nguyên tắc quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan trong việc thực hiện quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp”. Suy cho cùng, phân công, phối hợp và kiểm soát quyền lực nhà nước cũng là dể cho bộ máy nhà nước hoại động nhịp nhàng, quyền lực nhà nước được thống nhất và thông suốt, nhờ đó mà bộ máy nhà nước hoạt động
  3. có hiệu lực, hiệu quả cao, hạn chế được sự lạm dụng quyền lực và tham nhũng. Với tư duy như vậy, tác giả cuốn sách: “ Tớ chứ c và kiểm soát quyền lực n h à n ư ớ c’' muốn phân tích và lý giải cách thức tồ chức và kiểm soát quyền lực nhà nước trong các kiểu và mô hình nhà nước khác nhau nhằm tìm ra những nguyên lý, những bài học kinh nghiệm để phục vụ công cuộc xây dựng và hoàn thiện việc tô chức bộ máy nhà nước ta phù họp với các đặc trưng của nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Nhà xuất bản Tư pháp trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc cuốn sách này và mong rằng sẽ nhận được ý kiến đóng góp và phê bình của bạn đọc để việc tái bản lần sau được tốt hơn. Xin chân thành cảm ơn! Hà Nội, í háng 6 năm 2011 N HÀ XUẤT BẢN T ư l’HÁP
  4. LỜI TÁC GIẢ Trong nhiều năm miệt mài làm công tác nghiên cửu và giảng dạy các chuyên đề sau đại học tại Đại học Luật Hà Nội, vấn đề tổ ch ứ c và k iể m soát q u y ề n lự c nhà nước là vấ n đề tô i đặc b iệ t q u a n tâm . N h ấ t là gần đ â y , k h i đ ư ợ c th am g ia đề tà i k h o a h ọ c cấp nhà n ư ớ c : “ P hân c ô n g , p h ố i h ợ p và k iể m soát q u y ề n lự c n h à n ư ớ c ờ Việl Nam” do GS.TS. Trần Ngọc Đường làm chủ nhiệm đề tài, tôi được giáo sư phân công viết phần về nhà nước phong kiến, tư sản, Liên Xô cũ và các nước Trung, Đông Âu. Nhờ đó, tôi đã tích lũy đ ư ợ c n h iề u tài liệ u trê n lĩn h vự c này. C àng n g h iê n cứ u tô i càng thấy vấn đề tố chức và kiểm soát quyền lực nhà nước là vấn đề p h ứ c tạp v à hấp dẫn từ k h i nhà nư ớc ra đ ờ i ch o đến tậ n n g à y n ay, V ì vậ y, v iệ c n g h iê n cứ u ch ủ đề trê n đây là b ư ớ c tiế p c h ặ n g đ ư ờ n g m à các nhà kh oa h ọ c đ i trư ớ c đã dày cô ng n g h iê n cứ u. Đ ế n lư ợ t m ìn h , tô i c ũ n g m o n g rằ n g n h ữ n g th ô n g tin có tro n g c u ố n sách n à y có thể là sự g ợ i m ở ch o các nhà kh oa học tiế p tụ c n g h iê n c ứ u , p h á t h iệ n , k h á m phá để g ó p phần xâ y dựng và h o à n th iệ n b ộ m á y nhà n ư ớ c ta tro n g g ia i đoạ n h iệ n nay. Nhân dịp xuất bản cuốn sách này, tôi xin bày tỏ sự biết ơn sâu săc tới GS.TS. Trần Ngọc Đường, người đã khích lệ và giúp đỡ để tôi hoàn thành công trình này; xin chân thành cảm ơn Nhà 7
  5. xuất bản Tư pháp đã tạo điều kiện thuận lợi để cuốn sách sớm được ra mắt bạn đọc. Hà Nội, ngày 17 tháng 6 năm 2011 Tác giả PGS.TS. Thái Vĩnh Thắng 8
  6. Chương I TỒ CHỨC VÀ KIẺM SOÁT QUYÈN LỤC TRONG NHÀ NƯỚC PHONG KIẾN VIỆT NAM I. QUAN NIỆM VẺ Q L \t.N LỤC NHÀ Nước VÀ THUYÉT TÔN QUÂN QUYẺN CỦA NHÀ Nước PHONG KIÉN 1'rong thời kỳ phong kiến, quan niệm phổ biến về quyền lực nhà nước là quyền lực của vua. Vua được coi là thiên tử là người "tliế thiên hành đạo, trị quốc an bang” nên tờ sắc chiếu nào của nhà vua cũng bắt đầu bằng câu; ‘T h ừ a thiên hưng vận, Hoàng đế sắc chiếu...” nghĩa là tuân theo mệnh trời để làm cho vận nước hưng thịnh hơn Hoàng đế giáng chiếu như sau... Vì nhà vua là thiên tử (con trời) nên muốn cai trị được nước thi phải được mệnh Trời. Tuy nhiên, “Cái chính thể của Khổng giáo có quan niệm đặc biệt là Trời với người cùng đồng một thể, toàn dân muốn thế nào là 'rrời muốn thế ấy. ô n g vua chỉ là một phần trong toàn thể, vì có tài, có đức mà được cái địa vị tôn quý để giữ cho toàn thể dược diều hoà yên ổn. Hễ ông vua làm điều gì trái lòng dân tức là trái mệnh Trời. Thành thử tuy ông vua đối với Trời được thay quyền rrời nhưng đối với dân lại phải chịu hết cả trách nhiộm... bởi vì “thiên căng vu dân, dân chi sở dục, thiên tất tòng
  7. Tồ chức vù kiểm soát quyền lực nhà nnrớc chi” (trời thưong dân, dân muốn gì, trời cũng theo)'. Như vậy, Iheo quan điểm của Nho giáo, chiều theo lòng dân nên được lòng dân thì được mệnh Trời, không được lòng dân thì mất mệnh Trời. Mất mệnh Trời thì ngai vàng sớm muộn sẽ sụp đổ. Trong sách '"Dại học’\ Khổng Tử viết: “Duy mệnh bất vu thường, đạo thiện tắc đắc chỉ, bất thiện tắc thất chỉ” nghĩa là mệnh Trời không nhất định, thiện thì được, bất thiện thì mất. Nền chính trị truyền thống của các nước châu Á như Việt Nam, Trung Quốc, Nhật Bản, Cộng hoà dân chủ nhân dân Triều Tiên, Hàn Quốc về cơ bản có những đặc điểm chung giống nhau. Đó là sự ãnh hưỏng của Khổng giáo và quan niệm chung về pháp luật nặng về pháp luật hình sự và hành chính, nhẹ về pháp luật dân sự. Để trị nước, theo Khổng giáo thì nền cai trị cần có bốn yếu tố là: lễ, nhạc, hình, chíiih. “Lễ để tiết chế lòng dân, nhạc để hoà thanh âm của dân, chính trị để định việc làm, hình pháp để ngăn cấm điều bậy”^. Một trong những quan điểm nền tảng của Đạo Khổng là khái niệm về sự hài hoà trong vũ trụ. Các cá thể về bản chất là một bộ phận trong sự hài hoà đó nên luôn phải khiêm nhường, giữ vị trí của minh và tuân thủ các quy tắc xử sự theo quan niệm đạo đức trong xã hội. Các quy tấc này dựa trên những tập quán lâu đời, tuy phức tạp nhưng cân đối, chặt chẽ và thay đổi tùy theo mối quan hệ giữa các cá thổ. ' Trần Trọng Kim, Nho giáo, Nxb. Văn học, 2003, tr. 130 (sau đây gọi tắt là Nho giảó). ^ Nho giáo, tr. 123. 10
  8. Chương ỉ. Tổ chức và kiểm soát (Ịuyèn lực tronỊ’ nhà nước phong kiến... Theo Khổng Tử, Thẩm phán và các đạo luật là những công cụ cần thiết để trừng phạt các loại tội phạm nhưng không cần thiết để điều chinh quan hệ giữa những ngưcTÌ trung thực. Nói một cách khác, luật hỉnh sự là cần thiết còn luật dân sir là không cần thiết. Nếu tất cả mọi ngưòi đều cư xử phù hợp với các chuẩn mực đạo đức thì sẽ không có xung đột. Tranh chấp giữa các cá thể cần được giải quyết bằng con đư('mg hoà giải và thoả hiệp phù hợp với các nguyên tấc đạo đức mà theo đó các bên liên quan sẽ cử các thành viên đáng kính trọng của gia đình, họ tộc đưng ra làm người dàn xếp, giải quyết. Một điều còn quan trọng hơn cả sự.chiến thắng của bất kỳ bên nào trong kiện tụng là sự hoà hợp cần phải được giữ gìn và vì thế không có bên nào thắng, không có bên nào thua. Cá nhân nào từ chối chấp nhận cách giải quyết thân thiện sẽ ụ coi là một người xấu. Theo quan điểm của Khổng giáo, "dùng lễ có lợi hơn pháp luật là có thể ngăi cấm được việc chưa xảy ra, còn dùng pháp luật thì chi để trị cái việc đã có rồi, bởi vậy thánh nhân chỉ trọng lễ, chứ không trọng iình”\ Chữ “lễ” theo nghĩa hẹp chỉ dùng để nói cách thở Ihần ch (0 ỉược phúc tức là chi có nghĩa cúng té, thuộc về nghi lễ mang tính cl-ất tâm linh, tôn giáo mà (hôi. Nhưng chữ “lễ” về sau được hiểu thto nghĩa rộng ra bao gồm cả '‘những quy củ mà phong tụo và tập qián của nhân quần xã hội đã thừa nhận”''. Rộng hơn nữa, chữ “liễ' còn có nghĩa về cả “cái quyền bính của vua và cách tiết chế hẩrahvi của dân chúng”\ Lễ lảm clio hành vi cùa con người ^ Nho giảo, tr. I 9. Nho --- - ôgiảo, trr.l 2, ' Nho N h ( ì giảo, ơ i n n ttĩr. rr 11Ỉ2. ! 11
  9. _V V > Tô chức và kiêm soát quyên lực nhà nước CÓ ch ừ n g m ự c. Khổng Tử đã từ n g n ó i; “Cung k ín h m à kh ô n g eó lễ thì phiền toái, cẩn thận mà không có lễ thành ra khúm núm. dũng mà không có lễ thì loạn, trực mà không có lễ thành ra nóng nủy”^. “Khổng giáo dùng lễ là cốt tạo thành một thứ không khí lễ nghĩa, khiến người ta có cái đạo đức tập quán để làm điều lành, điều phải mà vẫn tự nhiên không biết... ở chỗ mồ mả thì có cái không khí bi ai, ở chỗ tông miếu thì có cái không khí tôn kính, ai đã hô hấp cái không khí ấy rồi thì tự hòa theo mà không biết. Khổng giáo dùng lễ tức là để gây thành cái không khí đạo đức vậy”^ Theo Khổng giáo, “cách ăn mặc trong lúc tang chế, ở chồ Iriều đường, hay khi đi trận mạc phải theo lễ, cũng là có ý để gây nên những tình cảm cho xứng đạo nhân... Người mặc áo xô gai chống gậy, chí không để ý đến sự vui, không phải là tai không nghe thấy mà vì y phục khiến như thể; người mặc quân phục mũ, miện, dáng điệu không nhờn, không phải là nguyên tính vốn trang nghiêm mà vì y phục khiến như thế; người đội mũ trụ, mặc áo giáp, cầm cây giáo, không có cái khí nhút nhát, không phải là thân thể vốn mạnh bạo mà vì y phục khiến như thế”^ Khổng Tử đã dạy rằng: “Đạo đức nhân nghĩa khòng có lễ không thành; dạy bảo, sửa đổi phong tục không có lễ không đủ; xử việc phân tranh kiện tụng không có lễ không quyết;... học làm quan, thờ thầy, không có lễ không thân; xếp đặt thứ vị trong triều, cai trị quân lính, đi làm quan, thi hành pháp lệnh không có lễ không thành ^ Nho giáo, tr. 114. ’ Nho giáo, tr. 114. * Nho giáo, trl 14. 12
  10. Chương /. Tô chức và kiêm soát quyên lực tronỵ nhà nước phong kiên... kính... Bời thế cho nên, quân tử dung mạo phải cung, trong bụng phải kính, giữ gìn pháp độ, thoái nhượng dế làm sár„g tỏ Mục đích của lễ còn là định ra tôn ti trật tự trong gia đình, xã hội và quốc gia. Lễ cũng còn có mục đích nữa là tiết chế hành vi của con người. Khổng Tử đã dạy: “Cái thường tình của hạng người trung nhân, hễ có thừa thì xa xỉ, không đủ thi sẻn, không ngăn cấm thì dâm đãng, không theo tiết độ thì sai lầm, buông thả lòng dục thì iư hòng. Cho nên ẩm thực phải có hạn lượng, y phục phải có tiết chế, cửa nhà phải có pháp độ, súc tụ phải có số thường, xe cộ và đồ dùng phải có ngữ có hạn, là để giữ phòng cái nguồn loạn vậy... Người giàu sang biết lễ thi không dâm tà, không kiêu căng, người bần tiện biết lễ thì không nản chí, không làm bậy. Người làm vua chúa biết lễ thì mới biết trị nước, yên dân. Lễ đối với việc trị nước cũng như cái cân đối với việc nặng, nhẹ, cái dây đối với vật thẳng, vật cong, cái quy, cái củ đối với vật tròn, vật vuông vậy” '". Trong cuốn ''Trung Quốc íriếí học sìr”, Hồ Thích Chi đã viết: “Trong cái nghĩa rộng chữ “lễ” có hàm cái tính chất pháp luật, nhưng lễ thì thiên trọng về cái quy củ tích cực, mà pháp luật thì thiên trọng về cái cấm chế liêu cực. Lễ thì dạy người ta nên làm điều gì, pháp luật thì cấm không cho làm những việc gì, hễ làm thì phải tội. Người làm điều trái lễ thì chỉ bị người quân tử chỉ nghị chê cười, chứ người làm trái pháp luật thì có hình pháp xét xử” ". Nho giáo, tr. 1 ỉ 5. Nho giáo, tr. 1 19. ** Nho giảo, tr. 119. 13
  11. Tổ chức và kiểm soát quyền lực nhà nưởi Bên cạnh lễ, Khổng giáo còn chú trọng đến nhạc. “Nhạc vớ lòng người cảm hoá lẫn nhau: một là bởi lòng người cảm xúc ngoạ cảnh mà thành ra tiếng nhạc; hai là tiếng nhạc cảm lòng ngưcM rồ khiến lòng người theo tiếng nhạc mà biến đi. Như khi ngoại cảní đau đcm thì lòng người thương xót, trong lòng đã thương xót th thanh âm nghe tiêu sái; khi ngoại cảnh tốt lành, tất là trong lòng vu vẻ thì thanh âm nghe thong thả, êm đềm; khi ngoại cảnh thỏa thích trong lòng hớn hở thì tharửi âm nghe hể hả; khi ngoại cảm có điềi không lành, trong lòng tức giận thì thanh âm nghe thô thiển, dĩ tợn; khi ngoại cảnh trông thấy tôn nghiêm thì thanh âm nghe chínl' trực, nghiêm trang; khi ngoại cảnh làm cho sinh ra lòng yêu mếr thì thanh âm nghe dịu dàng, hoà nhã” '^ Các tác dụng của nhạc cốt hoà thanh âm cho tao nhã để di dưỡnẾ tính tình. Cho nên Khổng Tử nói: “Xét cho cùng các lẽ về nhạc để tr lò n g ngưòd, th i cái lò n g g iả n d ị, chính trự c, từ ái, th à n h tín , tự Iih iê r phoi phới mà sinh ra. Thánh nhân biết nhạc có cái thế lực rất mạiửi VỄ đường đạo đức cho nên mới chế nhạc để dạy người ' \ “Nhạc cũng nht lễ, có ảnh hưởng và cỏ mối quan hệ mật thiết với chính trị. Hễ chínP ứị hay thì nghe tiếng nhạc hay, chính trị dở thì nghe tiếng nhạc dở. V: dụ, âm nhạc đòd trị thì nghe yên tĩnh, vui vẻ; âm nhạc đòã loạn th' nghe oán giận, tức tối; âm nhạc lúc mất nước thì nghe bi ai, sầu thảrr v.v... Bởi thế nên Khổng Tử nói: “Thẩm nhạc dĩ tri chính”, nghĩa lí Ì.5 5 1 4 xét cho kỹ âm nhạc để biết chính ừị hay dở’ 12 Nho giáo, tr. 120. Nho g iá O y tr. 121 14 Nho giáo, tr. 122, 14
  12. Chưtmg I. Tổ chức và kiểm soát quyền lực tronỊỊ nhà nước phong kiến... Theo Khổng Tử, dùng nhạc cũng như dùng lễ phải giữ lấy đạo trung. Nhạc để khiến người ta đồng vui, đồng thương. Nhưng vui hay thương vẫn phải lấy điều hoà làm chủ. Khổng Tử chủ trương: “Lạc nhi bất dâm, ai nhi bất thưtmg” nghĩa là vui mà không dâm, thưoTig mà không hại. Qua đó, Khổng Tử ngụ ý: nhạc là để điều hoà tính tình, dẫu vui thế nào cũng không mất chính mà buồn thế nào cũng không mất cái hoà. Lễ và nhạc có cái chủ đích chung là sửa đổi tâm tính cho ngay chính, bồi dưỡng tình cảm cho thật hậu. Tuy nhiên, lễ và nhạc mỗi bên lại có cái chủ đích riêng, lễ cốt ở sự cung kính, để giữ trật tự cho phân minh, nhạc cốt ở sự điều hoà để khiến tâm tính cho tao nhã. Nếu có lễ mà không có nhạc thì phân b iệ t th á i quá, nhân tìn h bất th ô n g ; có nhạc m à k h ô n g có lễ th ì th à n h ra lưu đãng, khinh nhờn. Như vậ y dùng lễ v à nhạc để chế ước điều hoà nhau, nhạc làm cho họp đồng, lễ làm cho phân biệt. Họp đồng thì tương thân nhau, phân biệt thì tương kính nhau” ‘\ Yếu tố thứ ba cần đề cập đến trong học thuyết Khổng Tử là quan điểm của ông về chính trị. Theo ông, “việc chính trị cốt ở đạo nhân, lấy nhân mà sừa đạo, lấy đạo mà sửa mình. Có sửa được mình cho ngay chính, thì những kẻ hiền tài mới theo mà giúp mình, có người hiền tài giúp mình thì việc trị rất chóng có công hiệu, khác nào như đốt đất thi cây cỏ mọc lên chóng vậy” ''^. Khổng Tử đã từng nói; “Nhân đạo chính vi đại” nghĩa là đạo người thì chính trị là lớn. Vì thế Khổng Tử muốn những người có Nho giáo, tr. 122, Nho giáo, tr. 125. 15
  13. Tô chức và kiêm soát quyên lực nhà nirớc tài, có đức, phải đem cái tài cái đức, cái hay, cái giỏi của mình ra trị nước yên dân. về chính trị, Nho giáo quan niệm: “sự trị loạn trong xã hội do ở người hành chính chứ không phải ở chính thể. Người hành chính mà có tài, có đức thì nước được trị, người hành chính không có tài, có đức thì nước phải loạn. Dầu chính thể có hay đến đâu mà người hành chính không ra gì thì cũng hoá ra dờ. Khổog Tử viết: “Văn vũ chi chính bố tại phương sách, kỳ nhân tồn, tắc kỳ chính cử, kỳ nhân vong, tắc kỳ chính tức” nghĩa là việc chính trị của vua Văn, vua Vũ bày ra ở trong sách. Nếu những người như vua Văn, vua Vũ còn thì chính trị ấy còn thi hành nếu những người ấy mất thì cái chính trị ấy hư hỏng” *’. Như vậy, việc chính trị hay dở cốt ở người hành chính. Từ đó, Nho giáo cho rằng, người cầm quyền hành chính lúc nào cũng phải kính cẩn, lo sửa mình cho ngay chính để dùng người hiền mà làm việc nước, việc dân. Vì quan điểm của Khổng Tử cho việc chính trị hay dờ là do người cầm quyền nên ông đề cao đạo đức của người cầm quyền: “Kỳ thân chính, bất lệnh nhi hành, kỳ thân bất chính, tuy lệnh bất tòng” nghĩa là mình ngay chính thì không sai khiến người ta cũng làm, mình không ngay chính thì tuy có sai khiến cũng không ai theo. Một đất nước thịnh trị theo ông là: “ Quân quân, thần thần, phụ phụ, tử tử” nghĩa là vua ra vua, tôi ra tôi, cha ra cha, con ra con. Giữ trật tự cho mình và danh phận cho chính tức là giữ cái căn bản cùa chính trị. Trong chính trị ngoài việc đề cao đạo đức của người cầm 17 Nho giáo, tr. 126. 16
  14. ChironỊỊ I. Tô chức và kiêm soát ( Ị i i y ê n lực Ironỵ nhà nước phong kiên... q u y ề n và quan đ iể m c h ín h danh đ ịn h phận, K h ổ n g g iá o c ò n có tư tưởng “Tôn quân quyền”. Theo tư tưởng này, “phàm người ta đã quầ n tụ v ớ i nha u th à n h x ã h ộ i th ì tất phái có q u y ề n tố i cao để g iữ kỷ cirơng cho cả đoàn thể. Cái quyền ấy gọi là Quân q u y ề n tức là q u y ề n chủ tể cả m ộ t n ư ớ c . Q uân quyền phải để m ộ t n g ư ờ i g iữ cho rõ cái mối thống nhất. Người giữ quân quyền gọi là Đế hay Vưcmg, ta thường gọi là Vua. Vua phải lo việc trị nước, tức là lo sự sinh hoạt, sự dạy dỗ và sự mở mang cho dân”‘^ v ề vai trò của vua và quan lại Irong việc trị nước, tác giả Trần Trọng Kim đã viết: “Trong một nước có vua thì phải có quan. Quan là những người có tài, có đức ở trong dân lựa chọn ra để giúp vua làm mọi việc ích lợi chung cả nước. Một nước trị hay loạn là do ở vua và quan giỏi hay dở. Bời thế, về đường chính trị, Nho giáo lấy cái nghĩa quân thần làm trọng, ở trong nhà thì con cái phải hiếu thảo với cha mẹ, ở trong nước thì thần dân phải trung với quân” ’''*. Trung quân theo nghĩa hẹp là trung với vua, nhưng theo nghĩa rộng là trung với nước bởi hoàng đế tượng trưng cho quốc gia, vì vậy trung quân đồng nghĩa với yêu nước. ỉ)ể tuân theo mệnh Trời, phần lớn các vị vua của Việt Nam đều phái dựa vào dân và lấy dân làm gốc. Các vị vua và quan lại triều đình đều phải luân theo các quy tắc cư xử trong cuộc sống gọi là “tam cương, ngũ thường”. Tam cương 1
  15. V » > Tô chức và kiêm soát quyên lực nhà nước tư chất của người quân tử trong xã hội: nhân, lễ, nghĩa, trí, tín. Tam cương đối hỏi là thần dân trước hết phải trung thành với nhà vua, àm con phải hiếu thảo với cha mẹ, vợ chồng phải chung thuỷ với nhau vì thế có câu “quân xử thần tử, thần bất tử, bất trung, phụ xử tử vong, tử bất vong, bất hiếu” nghĩa là vua bảo tôi chết mù tôi không chết là bất trung, cha bảo con chết m à con không chết là bất hiếu. Năm đức tính của người quân từ m à mọi người trong xã hội nhất là đội ngũ quan lại phải có; “nhân” nghĩa là nhân từ; “nghĩa” nghĩa là chính trực, công bằng; “lễ” nghĩa là đúng phép tắc, quy ước mà xã hội quy định; “trí” nghĩa là có học, có tri thức; ‘l í n ” nghĩa là được bạn bè, người thân tin cậy. Trong “£)ạ/ Việt sử kỷ toàn thư” do sừ thần Ngô Sĩ Liên biên soạn khi bình luận về tam cương, ngũ thưòng và đạo tu, tề, trị, bình của các triều đại phong kiến, ông đã viết: “Thần nghe: “Ngu tlién là sách sử của nhà Ngu, từ khi Khổng Tử sửa sách Thượng thư clể làm điển mô thì đạo tu, tề, trị , bình^° của đế vưcmg ngày càng rỗ. Xuân Thu là sách sử của nước Lỗ, từ khi Khổng Tử làm kinh Xuân Thu để định khen chê thì quyền điển, lễ, mệnh, thảo^' của thiên tử càng tôn. Cho nên các đế vương thánh minh trị thiên hạ, có chí ở trách nhiệm làm vua, làm thầy, không thể không nghiên cứu học vấn của đế vương, mà có chí nghiên cứu học vấn của đế vương thì không thể không biết rõ sự lý đời xưa, đời nay. Xem như thế thì các sách sử làm ra cốt để làm rùa bói, làm gương soi cho vua các đời là bởi ý ấ y ... Thần nghe sách Chu Dịch nói rằng: “Cỏ trời đất rồi sau mới Tu, tề, trị, bình; tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ. Điển, lễ, mệnh, thào: Điển chương, lễ chế, mệnh lệnh, đánh dẹp. 18
  16. c/iurm g 1. Tổ chức và kiểm soát quyền lực tronỵ nhà nước phong kiến... có m uôn vật, có muôn vật rồi sau mói có vợ chồng, có vợ chồng rồi sau mới có cha con, có cha con rồi sau mới có vua tôi. Đạo cương thườiig bởi đấy mà đặt vậy. Sách Đại học nói rằng: “Lòng có chính thì sau mình mới sừa được, mình có sửa thì sau mới tề được, nhà có tề thì sau nước mới trị được, nước có trị thi sau thiên hạ mới bình được'’. Đạo trị bình bởi thế mà thi hành được. Xem thế thì đạo trời đất không thể ngoài cương thường mà dựng quy tắc, thì đạo của để vưcmg há có thể ngoài cương thường mà làm chính trị được sao”^^. Bình luận về nhà Đinh, sừ thần N rô Sĩ Liên viết: “Đinh Tiên Hoàng nhân khi nhà Ngô loạn lạc, mất nước, dẹp được 12 sứ quân, trời cho, người theo, nhất thống bờ cỗi, dùng bọn Đinh Điền,. Nguyễn Bặc, Lưu Cơ, Trinh Tú làm người phù tá, sáng chế triều nghi, định lập quân đội. vua chính thống của nước ta bắt đầu từ đấy. Kể về mặt dẹp giặc, phá địch thì công to lắm; nhưng tôn miếu chưa dựng, nhà học chưa xây, đặt vạc nuôi hổ để làm đồ dùng hình ngục; biếu tê, dâng voi, chi vất vả về cống dâng; lễ, nhạc, hình, chính không sửa sang; giữ cửa canh đêm không cẩn thận; rốt cục chính mình bị giết, nước bị nguy, vạ lây đến con, đó là Idiông có muu phòng giữ từ khi việc còn bé nhó, ngăn ngừa từ khi việc mới chớm ra. Thiếu Để tuổi còn thơ ấu, nối giữ cơ nghiệp khó khăn, nước nhà nhiều nạn, xã tắc lâm nguy, lại thêm giặc Chiêm quấy nhiỗu phía Nam, quân rống xâm lăng phía Bắc, quyền thần nắm việc nước, người trong nước lìa lòng, nhà Đinh mât ngôi vua là vì không có sách lược để giữ nước, trị dân vậy. Nhà Đinh dấy lên, tuy “ Đại Việt sứ kỷ ioàn thư - Theo bản khắc năm chính hoà thứ 18 (1697), tập I, Nxb. Khoa học xã hội ĩ 998, tr. 118 (sau đây gọi tắt là Dại Việt sừ ký toàn thừ). 19
  17. •ỵ V \ Tô chức và kiêm soát quyên lực nhà nưởc do số trời, nhưng đến lúc suy là do tam cương không chính. Tiên Hoàng bỏ con đích, lập con nhỏ mà ân tình cha con trái lìa; lập năm hoàng hậu ngang nhau mà tình nghĩa vợ chồng rối loạn, yêu dùng Đỗ Thích để thành hoạ cướp ngôi, giết vua, mà đạo vua tôi không còn. Thế thì họ Đinh dấy lên là do ở Tiên Hoàng, mất đi cũng là do Tiên Hoàng không phải là do mệnh trời không giúp mà là do mun của người không ra gì”^^. Trong một đoạn văn súc tích trên đây, nhà sử học xuất sắc Ngô Sĩ Liên đã đánh giá rất xác đáng công trạng và những hạn chế của ông vua chính thống đầu tiên của nước ta. Triều đại nhà Đinh sụp đổ theo Ngô Sĩ Liên là do tam cương không chính, v ề quan hệ vua tôi (quân thần) thì do Đinh Tiên Hoàng quá tin dùng Đồ Thích để thành hoạ cưóp ngôi, giết vua, về quan hệ cha con (phụ tử) thì do bỏ con đích, lập con thứ mà đạo hiếu để không còn, về quan hệ vợ chồng (phu phụ) thì do lập năm hoàng hậu mà tình nghĩa vợ chồng rối loạn. v ề triều Tiền Lê, sừ gia N g ô Sĩ Liên bình lu ậ n : “Lê Đại Hành c ầ m q u y ề n (tư ớ n g q u â n ) 10 đạo, g iữ ch ứ c n h iế p c h ín h , vu a bé n ư ớ c n g u y , n h â n th ờ i c h ịu m ệ n h , g iế t v u a C h iê m T h à n h để rửa cái nhục sứ th ầ n b ị b ắ t, p h á quân T riệ u T ố n g , là m n h ụ t cái m ư u x â m lăng... Cày ruộng tịch điền ở Long Đọi, mời người xử sĩ ở Tưcmg Sơn, k é n d ù n g h iề n tà i, d ự n g m ờ trư ò n g h ọ c có m ư u lư ợ c to lớ n của bậc đế v ư o n g . N h ư n g là m lắ m v iệ c th ổ m ộ c , lấ y v à n g n g ọ c tra n g sức cung lầu, gây nhiều việc can qua, coi nhân dân không bằng cỏ rác, Đại Việt sử ký toàn thư, tập I, tr. 122. 20
  18. ^ ^ X Chỉtoitg 1. Tô chức và kiêm soát quyên lực tronỊỊ nhà nước phong kiên... dẫu muốn không suy, có thể dược không'.-’ Trung Tông vâng di chiếu cùa Đại Hành, vào nối ngôi vua, tha tội tranh cưóp ngôi vua cho em cùng mẹ nhưng chính lệnh quá nhu nhược. Ngoạ Triều không đáng ngôi vua, giết anh, ngược dân, dùng hình bằng lừa đốt, dao cưa, làm ngục ở ngọn cây, chuồng nước, mê đắm nữ sắc, thương tổn sinh linh, dẫu muốn không mất, có thể được không? Là bởi ỉ)ại Hành dấy lên tuy do lòng dân chúng, kịp đến khi mất cũng do tam cương không chính. Đại Hành phế con Đinh Hoàng, giáng làm Vệ Vương thế là không có nghĩa vua tôi, sinh được chín con trai mà không sớm lập thái tử, thế là khôní> có ân cha con. Lập đến năm Hoàng hậu mà lại gian dâm với bề trên là Đinh Hậu, thế là không có đạo vợ chồng; chi biết có lòng dục mà không tình nghĩa, chi biết có mình mà không biết có con, thích giết chết mà không thích làm sống, thích hình phạt mà không thích ân đức, mình chết thì nước cũng bị diệt theo là do chứa chất điều bất nhân vậy”^'^. v ề các ông vua triều Lý, cũng theo các chuẩn mực của Nho giáo, sừ thần Ngô Sĩ Liên đã bình luận khen chê khá rành mạch: “Lý Thái Tổ ứng mệnh trời, thuận lòng người, thừa thời mở vận; có đại độ khoan nhân, có quy mô xa rộng, dời đô định vạc, kính trời yêu dân, tô ruộng có lệnh tha, phú dịch có mức độ. Bắc Nam thông hiốu, thiên hạ bình yên. Song, thánh học chẳng nghe, nho phong chưa thịnh, tăng ni chiếm nửa dân gian, chùa chiền dựng đầy thiên lạ, không phải là đạo sáng nghiệp, truyền dòng vậy. Thái Tông trí dũng gồm hai, đánh đâu, được đấy; có đức hiếu hữu, học tập lễ Đụi Việt sứ kỷ toàn thư, tập I, tr. 123. 2L
  19. Tổ chức và kiểm soát quyền lực nhà nước nhạc, dẹp giặc, bình man, cày tịch điền^^ khuyến việc nông, thân oan có chuông, hình chế có luật, là một bậc vua giỏi giữ nền nếp vậy. Song, say thơ, kệ đạo Phật ờ chùa Tiên Du, mê điệu hát Tây Thiên (của nước Chiêm Thành) không phải là đạo nuôi dân trị nước. Thánh Tông thương dân, trọng nông, vỗ người xa, yêu người gần, đặt khoa bác học, trọng lệnh dưỡng liêm, đặt quan Bí các, làm đường Minh Luân, sửa sang việc văn, chuẩn bị việc võ trong nước đều yên tĩnh, là bậc vua hiền nối đức vậy. Song, nhọc sức dân để xây tháp Báo Thiên, phí của dân để dựng cung Dâm Đàm, đó là chỗ kém. Nhân Tông tính trời nhân hiếu, có tiếng đức tốt, trọng kén danh thần, đặt khoa thi tiến sĩ, có quan hầu Kinh diên , xuống chiếu mở đưòng nói, cầu người hiền, nghe lời can, nhẹ thuế khoá, ít phu dịch, cho nên thân được hưởng thái bình, dân trở nên giàu thịnh, đáng gọi là bậc vua giỏi nổi đời thái bình vậy. Song, Lãm Sơn mờ tiệc để mẫu hậu dạo chơi, Quy Điền đúc chuông chơ bọn tăng ni lừa phỉnh, đó là chỗ kém. Thần Tông sửa sang chính sự, nhậm dụng hiền năng, đặt khoa Hoành từ^^, định lệnh binh nông, kể về chính trị thế là siêng năng. Song, quá thích điềm lành, sung thượng đạo Phật, thắng giặc cũng quy công cho Phật, dâng hươu cũng lạm tước quan. Sao mà ngu thế? Anh Tông đặt ra trường giảng võ để nghiêm võ bị, làm miếu Khổng Tử để chấn văn phong, cày ruộng tịch điền, lập đàn Nam Giao, kể mặt chính trị cũng hiểu Hàng năm vào đầu mùa xuân, nhà vua làm lễ cày tịch điền, vua tự mình cày ruộng vài đường để khuyến khích nông dân cày cấy. Một chức quan đặc biệt chuyên giảng sách cho vua nghe. Một hình thức thi chọn người tài. Xem thêm: ‘T i/ điển quan chức Việt Nam". của Đỗ Văn Ninh, Nxb. Thanh niên 2006, tr.384. 22

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

AMBIENT
Đồng bộ tài khoản