
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
NGUYỄN THỊ HÀ
ĐẶC ĐIỂM GEN ĐỘC LỰC, BỆNH CẢNH LÂM SÀNG VÀ
KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ NHIỄM TRÙNG HUYẾT
DO STAPHYLOCOCCUS AUREUS Ở TRẺ EM
Chuyên ngành : Nhi khoa
Mã số : 9720106
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ Y HỌC
HÀ NỘI - 2025

CÔNG TRÌNH ĐƯỢC HOÀN THÀNH TẠI:
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
Người hướng dẫn khoa học:
1. PGS.TS. Tạ Anh Tuấn
2. PGS.TS. Phạm Hồng Nhung
Phản biện 1: GS.TS Nguyễn Ngọc Sáng
Phản biện 2: PGS.TS Hoàng Thị Thu Hà
Luận án sẽ bảo vệ tại Hội đồng chấm luận án cấp Trường, tại Trường Đại
học Y Hà Nội.
Vào hồi 14 .giờ, ngày 29 .tháng 9 năm 2025
Có thể tìm hiểu luận án tại:
- Thư viện Quốc gia
- Thư viện Đại học Y Hà Nội

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ
LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN
1. Nguyen Thi Ha, Ta Anh Tuan, Hoang Thi Bich Ngoc, Tran Dang Xoay,
Vu Ngọc Hieu, Pham Hong Nhung, “High Prevalence of Panton-
Valentine Leukocidin Among Staphylococcus aureus Causing Acute
Hematogenous Bone and Joint Infections From a Tertiary Children's
Hospital in Vietnam”. The Pediatric infectious disease jourmal 43(8)
715-719. DOI: 10.109 7/INF.0000 000000004305
2. Nguyễn Thị Hà, Tạ Anh Tuấn, Phạm Hồng Nhung “Đặc điểm lâm sàng,
vi sinh của nhiễm khuẩn huyết do Staphylococcus aureus ở trẻ em tại
Bệnh viện Nhi Trung ương”. Tạp chí Nghiên cứu Y học. 2024. 178 (5).

1
GIỚI THIỆU LUẬN ÁN
1. Tính thời sự của đề tài
Nhiễm trùng huyết là một tình trạng cấp cứu nội khoa, đặc trưng bởi phản
ứng viêm hệ thống quá mức của cơ thể với tác nhân nhiễm trùng.
Staphylococcus aureus là một trong những vi khuẩn gây nhiễm trùng huyết phổ
biến và có ý nghĩa lâm sàng quan trọng ở trẻ em. Loài vi khuẩn này sở hữu
nhiều yếu tố độc lực khác nhau, bao gồm các protein bám dính trên màng tế
bào, các gen mã hoá siêu kháng nguyên, cũng như các độc tố ruột, góp phần hỗ
trợ quá trình xâm nhập, lan rộng và gây tổn thương nặng cho cơ thể vật chủ, từ
đó làm tăng nguy cơ tử vong. Trong số các yếu tố độc lực đã được nhận diện,
Panton - Valentine Leukocidin (PVL) là một ngoại độc tố được nghiên cứu
nhiều nhất trên thế giới, đặc biệt liên quan đến các chủng S. aureus có nguồn
gốc cộng đồng. Theo báo cáo tại Vương quốc Anh, tỷ lệ S. aureus mang gen
pvl dao động từ 2% đến 5%, tuy tương đối thấp nhưng có xu hướng gia tăng
theo thời gian. Một số nghiên cứu khác cũng cho thấy rằng S. aureus mang gen
pvl thường liên quan đến các biểu hiện lâm sàng phức tạp như nhiễm trùng đa
ổ, huyết khối tĩnh mạch sâu, viêm phổi hoại tử. Ngoài ra các trường hợp nhiễm
trùng huyết do chủng mang gen pvl thường có xu hướng tiến triển nặng và tiên
lượng điều trị thường kém.
Các hướng dẫn hiện hành đều khuyến cáo sử dụng vancomycin như là lựa
chọn hàng đầu trong điều trị, đặc biệt trong bối cảnh tỷ lệ S. aureus kháng
methicillin (MRSA) gây bệnh ngày càng gia tăng. Ngoài ra, một số nghiên cứu
đã gợi ý việc phối hợp vancomycin với các kháng sinh có khả năng ức chế quá
trình tổng hợp độc tố của vi khuẩn, chẳng hạn như clindamycin hoặc
rifampicin, đặc biệt trong các trường hợp nhiễm S. aureus mang gen độc tố.
Tuy nhiên, trên thực tế lâm sàng, nhiều trường hợp nhiễm trùng huyết vẫn thất
bại điều trị mặc dù rất hiếm chủng MRSA đề kháng với vancomycin. Một
trong các nguyên nhân là hiện tượng dai dẳng kháng sinh, một cơ chế đề kháng
không di truyền, giúp vi khuẩn tạm thời thoát khỏi tác dụng của vancomycin
mà không biểu hiện kháng thuốc trên kháng sinh đồ.
Tại Việt Nam, mặc dù đã có một số nghiên cứu đề cập đến nhiễm trùng
huyết do S. aureus ở nhiều khía cạnh khác nhau, tuy nhiên vẫn còn thiếu các
công trình tập trung phân tích sự hiện diện của các gen độc lực và mối liên
quan của nó với đặc điểm lâm sàng cũng như kết quả điều trị. Nhằm đóng góp
vào việc nâng cao chất lượng chẩn đoán và điều trị nhiễm trùng huyết S.
aureus trong thực hành lâm sàng nhi khoa, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề
tài: “Đặc điểm gen độc lực, bệnh cảnh lâm sàng và kết quả điều trị nhiễm
trùng huyết do Staphylococus aureus ở trẻ em” với hai mục tiêu chính:
1. Xác định tỷ lệ một số gen độc lực của Staphylococcus aureus và mối
liên quan với đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng ở trẻ em mắc nhiễm trùng huyết.

2
2. Nhận xét kết quả điều trị nhiễm trùng huyết do Staphylococcus
aureus ở trẻ em và một số yếu tố liên quan.
2. Những đóng góp mới của luận án
- Tỷ lệ Staphylococcus aureus mang gen pvl, eta, sec, fnbB lần lượt là 82,1%;
10,3%; 3,4% và 15,2%. Không ghi nhận sự hiện diện của S. aureus mang
gen etb, sea và fnbA.
- Biểu hiện lâm sàng của nhiễm trùng huyết do S. aureus rất đa dạng, trong
đó vị trí ổ nhiễm khuẩn hay gặp nhất là xương khớp chiếm 60%, thứ hai là
phổi 44,1%.
- Tất các các chủng Staphylococcus aureus gây nhiễm trùng huyết đều nhạy
cảm với vancomycin với MIC 1 (100%), không có mối liên quan về mức
độ nhạy cảm kháng sinh với yếu tố độc lực của vi khuẩn gây bệnh.
- Tỷ lệ dai dẳng kháng sinh trung bình sau 5h và sau 24h tiếp xúc với
vancomycin của S. aureus lần lượt là 78,8% và 64,3%. Tỷ lệ này cao hơn
có ý nghĩa ở nhóm S. aureus mang gen pvl (p<0,05).
- Tỷ lệ tử vong của trẻ nhiễm trùng huyết do Staphylococcus aureus là 9%.
- Yếu tố nguy không phụ thuộc liên quan đến tử vong ở bệnh nhi nhiễm
trùng huyết S. aureus bao gồm: có tổn thương tim và S. aureus mang gen
eta.
3. Bố cục của luận án
Luận án gồm 107 trang, trong đó phần đặt vấn đề 2 trang, tổng quan tài
liệu 35 trang, đối tượng và phương pháp nghiên cứu 12 trang, kết quả nghiên
cứu 28 trang, bàn luận 29 trang, kết luận 2 trang và kiến nghị 1 trang. Luận án
có 40 bảng, 25 hình và biểu đồ; 164 tài liệu tham khảo.
Nghiên cứu sinh có 2 bài báo đã đăng trên các tạp chí chuyên ngành có uy
tín, trong đó có 1 bài báo Tiếng Việt, 1 bài báo Tiếng Anh.
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Khái niệm nhiễm trùng huyết do Staphylococcus aureus
1.1.1. Định nghĩa nhiễm trùng huyết
Nhiễm trùng huyết là một tình trạng cấp cứu nội khoa, đặc trưng bởi
phản ứng viêm toàn thân quá mức của cơ thể nhằm đáp ứng lại tác nhân nhiễm
trùng. Năm 2005, Hội nghị Quốc tế về Nhiễm trùng huyết Nhi khoa (IPSCC
2005) đã đưa ra các định nghĩa:
Hội chứng đáp ứng viêm toàn thân (SIRS) được xác định khi có ít nhất
hai trong bốn tiêu chí sau, trong đó bắt buộc phải có một tiêu chí liên quan đến
thân nhiệt hoặc số lượng bạch cầu máu ngoại vi bất thường:
- Sốt > 38,5˚C hoặc hạ thân nhiệt < 36˚C (đo bằng nhiệt độ trung tâm);
- Nhịp tim nhanh vượt quá 2 độ lệch chuẩn (SD) so với giá trị trung bình
theo tuổi;
- Tần số thở tăng vượt quá 2SD theo tuổi hoặc có chỉ định thông khí nhân
tạo do tình trạng bệnh cấp tính (không do bệnh lý thần kinh cơ hoặc sử
dụng thuốc an thần/gây mê);

