
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
NGUYỄN HỮU HUÂN
NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ HỌC
CỦA VIRUS TEMBUSU LƯU HÀNH Ở VỊT NUÔI
TẠI VIỆT NAM
Ngành: Dịch tễ học thú y
Mã số: 9 64 01 08
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ
NHÀ XUẤT BẢN HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP - 2025

Công trình hoàn thành tại:
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
Người hướng dẫn: 1. PGS.TS. Huỳnh Thị Mỹ Lệ
2. TS. Đặng Hữu Anh
Phản biện 1: PGS.TS. Lê Thanh Hiền
Trường Đại học Nông lâm Thành phố Hồ Chí Minh
Phản biện 2: PGS.TS. Lại Thị Lan Hương
Học viện Nông nghiệp Việt Nam
Phản biện 3: TS. Phan Quang Minh
Cục Chăn nuôi và Thú y, Bộ Nông nghiệp và Môi trường
Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng đánh giá luận án cấp Học viện, họp tại:
Học viện Nông nghiệp Việt Nam
Vào hồi giờ phút, ngày tháng năm 2025
Có thể tìm hiểu luận án tại:
Thư viện Quốc gia Việt Nam
Trung tâm Thông tin - Thư viện Lương Định Của, Học viện Nông nghiệp
Việt Nam

1
PHẦN 1. MỞ ĐẦU
1.1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Từ tháng 6 đến tháng 11 năm 2010, một hiện tượng bệnh ở vịt đẻ được phát hiện ở
Trung Quốc với biểu hiện giảm đẻ đột ngột trong vòng 1-2 tuần. Những biểu hiện khác bao
gồm giảm ăn, uống, tiêu chảy phân xanh lá cây, chảy nước mũi, mất điều hòa vận động và
bại liệt. Tỷ lệ mắc cao (lên đến 90%) và tỷ lệ chết dao động từ 5% đến 30%. Cao & cs.
(2011) đã phân lập và nhận diện được virus có tên là Tembusu virus (TMUV). Ổ dịch năm
2010 tại Trung Quốc đã lan tràn từ phía Bắc đến phía Đông, tác động đến hơn 120 triệu vịt
đẻ và 15 triệu vịt thịt, gây thiệt hại hàng tỷ đô la cho ngành chăn nuôi vịt tại nước này (Lei
& cs., 2017). Tembusu virus, thuộc giống Flavivirus, họ Flaviviridae được phân lập lần đầu
tiên vào năm 1955 ở loài muỗi Culex tritaeniorhynchus tại Malaysia, là một ARN virus có
độ dài khoảng 11 kilobases với một khung đọc mở (ORF) duy nhất mã hóa cho 3 protein
cấu trúc cùng với 7 protein không cấu trúc (Zhang & cs., 2017). Virus không chỉ tác động
đến vịt đẻ mà còn có thể lây nhiễm cho vịt thịt, gà, ngỗng và chuột (Sun & cs., 2019). Ở
Việt Nam, Đặng Hữu Anh & cs. (2020) đã khẳng định sự có mặt của TMUV trong các mẫu
vịt bệnh thu thập tại Hà Nội vào năm 2019 bằng cách sử dụng phản ứng RT-PCR kết hợp với
kết quả giải trình tự và phân tích trình tự gen NS5B. Như vậy, điều này đã chứng minh bệnh
do TMUV gây ra ở vịt cũng là một bệnh mới và đáng được quan tâm đối với ngành chăn nuôi
vịt tại Việt Nam hiện nay. Từ năm 2020 đến nay, bệnh do virus Tembusu gây ra ở vịt vẫn
xuất hiện và lưu hành tại Việt Nam. Tỷ lệ chết ở vịt có thể lên tới 70-80% (Minh Anh, 2023).
Việc nêu ra nguyên nhân gây bệnh, áp dụng phương pháp chẩn đoán bệnh, dịch tễ
bệnh… chủ yếu dựa trên suy đoán và kinh nghiệm của các nhà chuyên môn, người làm hành
nghề thú y mà chưa có công trình nghiên cứu đầy đủ nào về Tembusu virus và bệnh do chúng
gây ra, vì vậy chúng tôi nghiên cứu về một số đặc điểm dịch tễ học của virus Tembusu lưu
hành ở vịt nuôi trong cả nước nhằm đưa ra một bức tranh tổng thể trong đó đặc biệt mô tả về
chủng virus, khả năng gây bệnh và các yếu tố dịch tễ học của virus gây bệnh.
1.2. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI
1.2.1. Mục tiêu tổng quát
Xác định một số đặc điểm dịch tễ học của virus Tembusu lưu hành ở vịt nuôi tại Việt
Nam nhằm xây dựng cơ sở khoa học cho việc thiết kế các biện pháp phòng chống bệnh.
1.2.2. Mục tiêu cụ thể
- Xác định một số đặc điểm dịch tễ học mô tả của bệnh do virus Tembusu gây ra ở vịt
nuôi tại Việt Nam và một số yếu tố nguy cơ làm phát sinh dịch bệnh phục vụ cho việc thiết
kế biện pháp phòng chống bệnh;
- Xác định một số đặc điểm sinh học, sinh học phân tử và dịch tễ học phân tử của virus
Tembusu phân lập tại Việt Nam để đưa ra khuyến cáo về việc lựa chọn chế phẩm sinh học
phù hợp chủng trong phòng chống bệnh.
1.3. PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Vịt nuôi tại một số trang trại ở Việt Nam bao gồm các tỉnh miền Bắc (Phú Thọ, Lạng
Sơn, Thái Bình); miền Trung (Nghệ An, Quảng Nam) và miền Nam (Đắk Lắk, Bà Rịa-Vũng

2
Tàu, Hậu Giang). Xét nghiệm được thực hiện tại Bộ môn Vi sinh vật – Truyền nhiễm, Khoa
Thú y, Học viện Nông nghiệp Việt Nam. Thời gian nghiên cứu: Từ năm 2020 – 2024.
1.4. NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA ĐỀ TÀI
- Phát triển phương pháp RT-LAMP giúp giảm chi phí thực hiện chẩn đoán bệnh do
virus Tembusu gây ra trong thực tiễn.
- Xác định được một số đặc điểm dịch tễ học của virus Tembusu, từ đó cung cấp thông
tin làm cơ sở khoa học trong công tác phòng và trị bệnh do virus Tembusu gây ra.
- Giải trình tự gen của chủng virus Tembusu tại ổ dịch ở Việt Nam, từ đó cung cấp thông
tin khoa học về đặc điểm sinh học phân tử của virus Tembusu ở Việt Nam.
1.5. Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ Ý NGHĨA THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
1.5.1. Ý nghĩa khoa học của đề tài
- Phát triển và ứng dụng được phương pháp RT-LAMP để phát hiện virus Tembusu.
- Cung cấp thông tin khoa học chi tiết về dịch tễ học, vi sinh vật học, sinh học phân tử và dịch
tễ học phân tử của virus Tembusu làm tài liệu khoa học cho các nghiên cứu tiếp theo ở Việt Nam
1.5.2. Ý nghĩa thực tiễn của đề tài
+ Phương pháp RT-LAMP xác định virus Tembusu có thể thực hiện tại những phòng
xét nghiệm với những dụng cụ, thiết bị đơn giản hơn so với phương pháp RT-PCR.
+ Thông tin về đặc điểm sinh học và sinh học phân tử của virus Tembusu phân lập tại
Việt Nam sẽ giúp cho những nhà khoa học có căn cứ lựa chọn sản xuất hoặc nhập khẩu vắc
xin phù hợp, có hiệu quả cao trong phòng chống bệnh.
PHẦN 2. TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1. GIỚI THIỆU CHUNG VỀ VIRUS TEMBUSU VÀ BỆNH DO CHÚNG GÂY RA
Virus Tembusu (TMUV) là một Arbovirus mới nổi (hay còn gọi là arthropod-borne virus,
virus truyền qua động vật chân đốt), được phân lập lần đầu tiên vào năm 1955 ở loài muỗi Culex
tritaeniorhynchus thu được tại Kuala Lumpur – Malaysia; và sau đó ghi nhận ở một số nước Đông
Nam Á (ĐNA) trong những năm 70 (Pandey & cs., 1999; Platt & cs., 1975). Giống như virus
gây viêm não Nhật Bản (Japanese encephalitis – JEV) và virus gây sốt xuất huyết (Dengue –
DENV), hai virus lây bệnh truyền qua động vật chân đốt phổ biến nhất ở các nước ĐNA, TMUV
thuộc giống Flavivirus họ Flaviviridae nhưng lại là thành viên trong nhóm Ntaya virus (NTAV).
Virus không được quan tâm nghiên cứu cho đến vụ dịch do TMUV lần đầu tiên xảy ra năm 2010
ở vịt. Từ năm 2000, biến chủng mới tạo ra Sitiawan virus, Duck Tembusu virus (DTMUV) hoặc
Baiyangdian virus (BYD) được xác định là nguyên nhân gây dịch bệnh ở gia cầm (Homonnay &
cs., 2014; Su & cs., 2011; Kono & cs., 2000). Tuy vậy, các virus này không được xếp loài riêng
do phân tích cây phả hệ chúng có cùng nguồn gốc với chủng TMUV đã xác định năm 1955. Hiện
nay, Sitiawan virus, DTMUV và BYD được phân loại theo clade/monophyletic của TMUV và
chia thành các nhánh (sub-cluster) khác nhau.
TMUV là nguyên nhân gây viêm não và triệu chứng thần kinh ở đàn gia cầm, khiến cho
tỷ lệ mắc lên đến 90%, gây tổn thương cơ quan sinh sản của con mái khiến tỷ lệ đẻ giảm (Su

3
& cs., 2011). Từ năm 2010, TMUV gây một số ổ dịch, và có hiện tượng tái bùng phát ở Trung
Quốc và SEA, cho thấy sự mới nổi và lưu hành virus ở ngoài những vùng đã có bệnh trước
đây. Với thiệt hại kinh tế do bệnh gây ra cho ngành chăn nuôi gia cầm, TMUV được xếp vào
nhóm bệnh truyền nhiễm mới nổi (emerging infectiuous disease).
Cho đến nay, hiểu biết về đặc tính sinh học (ecology và biology) của TMUV vẫn còn
chưa đầy đủ, dẫn đến chưa giải thích được vì sao dịch xảy ra lẻ tẻ (sporadic); điều này khác
hẳn với một số virus gây bệnh ở người truyền lây qua động vật chân đốt như bệnh Sốt vàng
(Yellow Fever - YFV), bệnh Sốt tây sông Nile (West Nile – WNV) và Chikungunya (CHIKV).
Vào cuối thập niên trước, đã có nhiều nghiên cứu được thực hiện cả invitro và cả xây dựng
mô hình ở động vật thí nghiệm nhằm cung cấp thêm hiểu biết về đặc tính sinh học của TMUV.
2.2. NHỮNG NGHIÊN CỨU TRONG NƯỚC VỀ VIRUS TEMBUSU VÀ BỆNH DO
CHÚNG GÂY RA
Năm 2020, lần đầu tiên Đặng Hữu Anh & cs. đã khẳng định sự có mặt của TMUV
trong các mẫu vịt thu thập tại Hà Nội năm 2019 bằng cách sử dụng phản ứng RT-PCR kết
hợp với kết quả giải trình tự và phân tích trình tự gen NS5B. Các tác giả đã chứng minh
được bệnh do TMUV gây ra ở vịt với những triệu chứng và bệnh tích đặc trưng như một số
tài liệu đã mô tả trước đây, bao gồm: vịt bị mất điều hòa vận động, đi đứng xiêu vẹo. Vịt
thịt có hiện tượng chết với số lượng lớn trong vài ngày. Vịt đẻ giảm mạnh đột ngột. Khi mổ
khám vịt thấy có biểu hiện gan sưng, lách sưng, buồng trứng xuất huyết. Do ổ dịch ở vịt có
thể ghép nhiều nguyên nhân nên ngoài những đặc điểm trên, một số vịt còn có hiện tượng
tiêu chảy phân màu xanh lá cây, gan hoại tử có phủ fibrin và túi mật sưng. Dựa vào trình tự
một phần gen NS5B (350 nucleotide), cây phát sinh chủng loại đã được xây dựng với 3
chủng của Việt Nam và 137 trình tự tương ứng công bố trên GenBank. Kết quả xây dựng
cây phát sinh chủng loại trong nghiên cứu này giống với công bố trước đây (Guanliu Yu &
cs.., 2018) khi cũng chỉ ra có 5 nhóm di truyền của Tembusu virus với giá trị bootstrap
>90%. Đặc điểm phân nhóm cho thấy các chủng Tembusu virus của Trung Quốc tạo thành
2 nhánh lớn riêng biệt (Chinese strains I, II) và tách biệt với chủng virus phát hiện được ở
Thái Lan và Malaysia. Cũng dựa vào đặc điểm trên, 3 chủng virus Tembusu trong nghiên
cứu này được xếp vào nhóm Thailand strains và gần gũi (về trình tự gen NS5B) với chủng
virus phát hiện ở Thái Lan năm 2013 (KR061333). Với kết quả phân tích trình tự gen, nghiên
cứu này cũng cho thấy phản ứng RT-PCR đã được tối ưu và đạt độ tin cậy cao trong chẩn
đoán bệnh do virus Tembusu gây ra. Trong số những mẫu dương tính với phản ứng RT-
PCR, có cả mẫu của đàn vịt thịt bị bệnh ở giai đoạn 2 tháng tuổi, chứng tỏ Tembusu virus
cũng có khả năng gây nhiễm cho vịt thịt ở Việt Nam.
Kể từ khi có công bố về sự lưu hành TMUV tại Việt Nam, một số nhà khoa học đã
triển khai theo từng hướng nghiên cứu của mình. Nhằm hướng tới mục tiêu lựa chọn được
chủng TMUV đại diện để sản xuất vắc xin phòng bệnh, Nguyễn Thanh Ba & cs. (2022) từ
19 mẫu dương tính TMUV lấy từ 4 tỉnh, thành phía Bắc gồm Hải Dương, Hưng Yên, Bắc
Giang và Hà Nội đã phân lập và xác định một số đặc tính sinh học của TMUV phân lâp
được. Virus nhân lên trên phôi vịt 10 ngày tuổi, gây xuất huyết và chết phôi. Kết quả gây

