
1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Cuộc cách mạng toàn cầu về Công nghệ Thông tin và Truyền thông (CNTT - TT) đã và đang
diễn ra ngày càng mạnh mẽ và tác động sâu rộng đến cuộc sống của chúng ta. Ứng dụng Công nghệ
Thông tin và Truyền thông (Information Communication Technology - ICT) trong cung cấp các
dịch vụ của Chính phủ được gọi là Chính phủ điện tử (E-government).
Chính phủ điện tử (CPĐT) ngày càng được công nhận như một yếu tố hỗ trợ chính cho
việc chuyển đổi cách thức quản trị công ở các nước bởi một số ưu điểm: Nâng cao hiệu quả, tiết
giảm chi phí; Tiết kiệm thời gian; Tăng tính bạch, giảm tham nhũng; Tăng cường sự tham gia
và cải thiện lòng tin của người dân, doanh nghiệp đối với Chính phủ.
Xác định được tầm quan trọng của việc ứng dụng CPĐT trong hoạt động quản lý Nhà
nước, Chính phủ Việt Nam đã nỗ lực chỉ đạo, điều hành và tập trung đầu tư nguồn lực nhằm
thúc đẩy việc ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý nhà nước hướng tới việc xây dựng
một nền hành chính công tiên tiến, hiện đại, hiệu quả và minh bạch phục vụ người dân và
doanh nghiệp tốt hơn. Những nỗ lực của Chính phủ Việt Nam trong thời gian qua đã góp phần
đáng kể trong việc cải thiện Chỉ số phát triển Chính phủ điện tử (E-Government Development
Index - EGDI). Năm 2020, Chỉ số phát triển CPĐT của Việt Nam tăng 13 bậc so với năm 2014
và xếp thứ 86/193 nước tham gia đánh giá, còn chỉ số tham gia hoạt động CPĐT xếp thứ 70,
tăng 2 bậc so với năm 2018 (UN, 2020). Tuy vậy, Việt Nam vẫn là nước có chỉ số phát triển
CPĐT ở mức trung bình khá trong khu vực Đông Nam Á khi đứng sau các nước Singapore,
Malaysia, Thailand, Brunei và Philippines. Bên cạnh những thành tích đạt được thì công tác
ứng dụng, triển khai CPĐT trong việc cung cấp dịch vụ công cũng còn một số hạn chế như:
các dịch vụ công trực tuyến (DVCTT) mức 3 - 4 mới chỉ được sử dụng ở các tỉnh, thành phố
lớn nơi điều kiện về CNTT - TT tốt hơn; người dân và doanh nghiệp vẫn giữ thói quen giao
dịch trực tiếp khi thực hiện các dịch vụ hành chính công; số lượng giao dịch của DVCTT vẫn
còn thấp hơn so với kỳ vọng...
Mặc dù chủ đề nghiên cứu về CPĐT và các yếu tố tác động đến hành vi sử dụng CPĐT
đã được các nhà khoa học trên thế giới nghiên cứu và công bố khá nhiều nhưng đây vẫn là một
lĩnh vực nghiên cứu chưa được nhiều chú ý ở Việt Nam. Thực tế trong thời gian qua, với đòi
hỏi thực tiễn và ngữ cảnh Việt Nam các chủ đề nghiên cứu mới chỉ tập trung vào những nội
dung như: mô hình, lợi ích của CPĐT, tác động của CPĐT đến hiệu quả quản trị nhà nước hoặc
các nghiên cứu đề cập tới vấn đề kỹ thuật trong triển khai CPĐT mà chưa có nhiều nghiên cứu
đi sâu, tìm hiểu những nhân tố ảnh hưởng đến hành vi sử dụng CPĐT của người dùng. Theo
báo cáo của Bộ Thông tin và Truyền thông, tỷ lệ DVCTT mức độ 4 tại Việt Nam tăng khoảng 3
lần, từ 10,76% (năm 2019) lên 30,1% (năm 2020). Trong đó, DVCTT của một số lĩnh vực có
hiệu quả cao như các dịch vụ thuế (99,8%), hải quan (99,7%), kho bạc (80%) hầu hết các dịch
vụ này đều được thực hiện bởi doanh nghiệp và đây là những công việc thường nhật do vậy có
nhân sự, bộ phận chuyên trách của doanh nghiệp đảm nhiệm. Trong khi đó, thủ tục đăng ký kinh
doanh trực tuyến năm 2020, mới đạt khoảng 75% tổng hồ sơ (tác động của dịch bệnh COVID-
19 cùng giai đoạn giãn cách xã hội đã làm gia tăng lượng hồ sơ trực tuyến so với năm 2018 và
2019 là 55,9% và 64,5%), việc thực hiện các thủ tục ĐKKD không nằm trong hoạt động thường
xuyên của doanh nghiệp, thủ tục thực hiện gồm nhiều công đoạn, hồ sơ giấy tờ phức tạp; đối
tượng sử dụng bao gồm cả người dân và doanh nghiệp. Dịch vụ đăng ký kinh doanh vẫn được
2
cung cấp cả hình thức trực tiếp và trực tuyến, doanh nghiệp/người dùng hoàn toàn có quyền lựa
chọn hình thức đăng ký phù hợp với điều kiện, nhu cầu của doanh nghiệp/cá nhân tại địa phương
(trừ TP Hà Nội chỉ áp dụng hình thức ĐKKDTT từ cuối năm 2017, còn lại 62 tỉnh/thành phố
vẫn áp dụng ĐKKD trực tiếp tại phòng đăng ký kinh doanh hoặc bộ phận một cửa của Sở Kế
hoạch và Đầu tư các tỉnh/thành phố và ĐKKD trực tuyến). Bởi vậy, nghiên cứu nhân tố ảnh hưởng
đến việc sử dụng Chính phủ điện tử tại Việt Nam với dịch vụ công trực tuyến cụ thể như dịch vụ
đăng ký kinh doanh là hết sức cần thiết và phù hợp với xu hướng phát triển của CPĐT nhất là
trong lĩnh vực cung cấp dịch vụ công cho doanh nghiệp và người dân. Kết quả nghiên cứu chỉ ra
những yếu tố cản trở việc sử dụng CPĐT trong dịch vụ đăng ký kinh doanh trực tuyến, giúp các
nhà quản lý cải thiện chất lượng dịch vụ để phục vụ người dân và doanh nghiệp một cách tốt nhất
nhằm xây dựng Chính phủ kiến tạo, liêm chính và phục vụ; đồng thời phát triển CPĐT bắt kịp xu
hướng thế giới khi cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 đang diễn ra trên toàn cầu và tiến tới xây
dựng Chính phủ số, xã hội số tại Việt Nam trong giai đoạn tới.
Với những lý do trên, tác giả lựa chọn nghiên cứu đề tài: "Nhân tố ảnh hưởng đến việc
sử dụng Chính phủ điện tử tại Việt Nam trong lĩnh vực đăng ký kinh doanh trực tuyến" nhằm
tìm ra các nhân tố ảnh hưởng đến việc sử dụng CPĐT trong lĩnh vực đăng ký kinh doanh trực
tuyến, từ đó đưa ra các đề xuất, khuyến nghị nhằm phát triển Chính phủ điện tử tại Việt Nam và
đẩy mạnh ứng dụng Chính phủ điện tử trong cung cấp dịch vụ hành chính công, đặc biệt là lĩnh
vực đăng ký kinh doanh trực tuyến.
2. Mục tiêu nghiên cứu
Luận án nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến việc sử dụng Chính phủ điện tử trong
lĩnh vực đăng ký kinh doanh trực tuyến tại Việt Nam. Trên cơ sở đó đưa ra một số đề xuất,
kiến nghị nhằm phát triển Chính phủ điện tử tại Việt Nam và đẩy mạnh ứng dụng Chính phủ
điện tử trong cung cấp dịch vụ hành chính công nói chung và lĩnh vực đăng ký kinh doanh
trực tuyến nói riêng.
Mục tiêu cụ thể:
Hệ thống hóa cơ sở lý luận về nhân tố ảnh hưởng đến việc sử dụng Chính phủ điện tử và việc
sử dụng CPĐT trong lĩnh vực đăng ký kinh doanh trực tuyến (ĐKKDTT); Xây dựng mô hình đánh
giá nhân tố ảnh hưởng đến việc sử dụng CPĐT trong lĩnh vực ĐKKDTT; Đánh giá thực trạng ứng
dụng CNTT-TT trong việc xây dựng CPĐT và triển khai dịch vụ ĐKKDTT tại Việt Nam; Phân tích
nhân tố ảnh hưởng đến việc sử dụng CPĐT trong lĩnh vực ĐKKDTT tại Việt Nam; Đưa ra một số
đề xuất, kiến nghị nhằm nâng cao tỷ lệ sử dụng dịch vụ đăng ký kinh doanh trực tuyến tại Việt Nam.
Câu hỏi nghiên cứu:
- Lý thuyết nào phù hợp để nghiên cứu Nhân tố ảnh hưởng đến việc sử dụng Chính phủ
điện tử trong lĩnh vực dịch vụ đăng ký kinh doanh trực tuyến tại Việt Nam?
- Thực trạng đăng ký kinh doanh trực tuyến tại Việt Nam hiện nay như thế nào?
- Những nhân tố nào ảnh hưởng đến việc chấp nhận sử dụng CPĐT (ý định và hành vi sử
dụng) của người dùng (doanh nghiệp và người dân) trong việc ĐKKDTT tại Việt Nam?
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Nghiên cứu nhân tố ảnh hưởng đến việc sử dụng Chính phủ điện
tử trong lĩnh vực đăng ký kinh doanh trực tuyến tại Việt Nam. Trong nghiên cứu này, việc sử
dụng CPĐT được hiểu là ý định và hành vi sử dụng CPĐT của người dùng (bao gồm người dân
và doanh nghiệp tại Việt Nam).

3
Phạm vi nghiên cứu:
- Phạm vi về nội dung:
Luận án nghiên cứu dịch vụ đăng ký kinh doanh trực tuyến gồm 53 thủ tục liên quan đến
các lĩnh vực: đăng ký thành lập doanh nghiệp, đăng ký hoạt động chi nhánh, văn phòng đại diện,
địa điểm kinh doanh và các nghĩa vụ đăng ký, thông báo khác theo quy định.
- Phạm vi về không gian: luận án tiến hành điều tra và khảo sát 766 người dùng thực hiện
thủ tục đăng ký doanh nghiệp bao gồm cả trực tiếp và trực tuyến tại 05 thành phố trực thuộc
Trung ương tại Việt Nam: Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng, TP Hồ Chí Minh và Cần Thơ (đây là
những Thành phố có điều kiện kinh tế - xã hội phát triển, điều kiện tiếp cận với CNTT - TT, trình
độ dân trí cao hơn so với mặt bằng chung của cả nước, tỷ lệ đăng ký doanh nghiệp thuộc nhóm
cao nhất cả nước; những khó khăn trong việc triển khai dịch vụ ĐKKDTT tại đây cũng sẽ là
khó khăn chung của các tỉnh/thành phố khác).
- Phạm vi về thời gian: các dữ liệu sơ cấp (phiếu điều tra khảo sát) được thu thập và xử
lý trong thời gian từ tháng 01/2021 đến tháng 04/2021. Các dữ liệu thứ cấp về thực trạng CPĐT
được thu thập, đánh giá trong giai đoạn từ năm 2008 đến 2022 (đây là giai đoạn xây dựng và
phát triển CPĐT) và việc sử dụng dịch vụ đăng ký kinh doanh trực tuyến tại Việt Nam từ năm
2017 đến 2022 (giai đoạn phát triển mạnh mẽ của dịch vụ công trực tuyến và 63/63 tỉnh/thành
phố đã triển khai áp dụng hình thức ĐKKDTT).
4. Phương pháp nghiên cứu
4.1 Quy trình và hoạt động nghiên cứu
Toàn bộ quy trình nghiên cứu được mô hình hoá bằng hình vẽ dưới đây:
Nguồn: Tác giả
Hoạt động nghiên cứu
4.1.1 Nghiên cứu định tính
Luận án đã tiến hành tham vấn ý kiến, phỏng vấn sâu 2 nhóm đối tượng: (1) người dùng/doanh
nghiệp trực tiếp thực hiện dịch vụ ĐKKDTT: 05 người và (2) nhóm chuyên gia, cán bộ gồm: 01 chuyên
gia (thuộc Cục Quản lý đăng ký kinh doanh của Bộ Kế hoạch và Đầu tư), 05 cán bộ trực tiếp thực hiện
việc thụ lý và xử lý hồ sơ đăng ký kinh doanh tại bộ phận 1 cửa thuộc Sở Kế hoạch và Đầu tư của 5
4
thành phố trực thuộc Trung ương để tìm hiểu sâu các nhân tố ảnh hưởng đến việc sử dụng dịch vụ
ĐKKDTT cũng như phát triển, điều chỉnh thang đo các biến số.
4.1.2 Nghiên cứu định lượng
+ Nghiên cứu định lượng sơ bộ: nhằm đánh giá độ tin cậy của thang đo đưa vào nghiên
cứu, loại bỏ các biến quan sát không phù hợp và hiệu chỉnh thang đo cũng như hoàn thiện phiếu
khảo sát. Tác giả điều tra 110 người dùng (doanh nghiệp và người dân), theo phương pháp chọn
mẫu ngẫu nhiên tuy nhiên, sau khi làm sạch chỉ có 100 mẫu được đưa vào xử lý, phân tích (mẫu
nghiên cứu này không trùng với mẫu nghiên cứu chính thức).
+ Nghiên cứu định lượng chính thức:
- Đối tượng: người dùng (doanh nghiệp và người dân) sử dụng dịch vụ ĐKKD tại 05
thành phố trực thuộc TW đã có giao dịch ĐKKD thành công (cả trực tuyến và trực tiếp).
- Số lượng mẫu:
Mẫu nghiên cứu nếu xác định theo công thức của Neuman (2002):
n =
ଵା(ୣ)
మ
Số lượng doanh nghiệp đăng ký mới cả năm 2020 là: 134.941 doanh nghiệp vậy cần 399 mẫu.
Còn theo Hair Jr và cộng sự (2014), mẫu nghiên cứu phải gấp từ 5-10 lần số biến quan
sát sử dụng trong nghiên cứu. Số biến quan sát trong nghiên cứu được sử dụng là 65 biến vậy
cần nghiên cứu ít nhất 650 mẫu. Để thỏa mãn cả hai yêu cầu trên, số mẫu sử dụng cho nghiên
cứu định lượng chính thức phải từ 650 mẫu trở lên mới phù hợp. Tác giả phát ra 850 phiếu phân
bổ như sau: Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh: 200 phiếu/đơn vị, Hải Phòng, Đà Nẵng, Cần
Thơ: 150 phiếu/đơn vị (Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh là hai thành phố lớn, tập trung nhiều
doanh nghiệp, có lượng giao dịch nhiều nên số lượng phiếu phát ra cao hơn 3 thành phố còn lại).
Thời gian khảo sát diễn ra từ tháng 01/2021 - 04/2021.Tất cả các phiếu hợp lệ sau khi được làm
sạch sẽ sử dụng phần mềm SPSS22 để xử lý và phân tích.
4.2 Phương pháp thu thập số liệu
4.2.1 Số liệu thứ cấp
Dữ liệu thứ cấp dùng để đánh giá thực trạng CPĐT (từ năm 2008 đến năm 2022) và dịch
vụ đăng ký kinh doanh trực tuyến (từ năm 2017 đến năm 2022) tại Việt Nam được thu thập từ
nhiều nguồn khác nhau:
+ Báo cáo đánh giá chỉ số sẵn sàng cho phát triển và ứng dụng CNTT (ITC Index, Bộ
Thông tin và Truyền thông; thực hiện hàng năm, báo cáo mới nhất năm 2020).
+ Sách trắng Công nghệ Thông tin và Truyền thông Việt Nam (Bộ Thông tin và Truyền
thông; thực hiện hàng năm, báo cáo mới nhất 2021).
+ Báo cáo khảo sát Chính phủ điện tử (Liên hợp quốc, thực hiện định kỳ 2 năm/lần, báo
cáo mới nhất 2022)
+ Số liệu thống kê doanh nghiệp đăng ký kinh doanh thuộc Cục Quản lý đăng ký doanh
nghiệp (Bộ Kế hoạch và Đầu tư) và một số tài liệu, thông tin, số liệu được tác giả thu thập và
tổng hợp qua nhiều kênh khác.
4.2.2 Số liệu sơ cấp
Số liệu sơ cấp được thu thập từ phương pháp phỏng vấn sâu và khảo sát bằng bảng hỏi
như sau:

5
* Phương pháp phỏng vấn sâu: tiến hành tham vấn ý kiến, phỏng vấn sâu 11 người (cả
người dùng/doanh nghiệp trực tiếp thực hiện dịch vụ ĐKKDTT và chuyên gia/cán bộ) nhằm
tìm hiểu sâu các nhân tố ảnh hưởng đến việc sử dụng dịch vụ ĐKKDTT cũng như phát triển,
điều chỉnh thang đo các biến số.
* Phương pháp khảo sát bằng bảng hỏi: điều tra thống kê 850 phiếu khảo sát người dùng dịch
vụ ĐKKD tại 5 thành phố trực thuộc TW đã có giao dịch ĐKKD thành công (cả phương thức trực
tuyến và trực tiếp), sau khi thu thập và làm sạch thì có 766 phiếu đủ điều kiện đưa vào xử lý, phân tích.
4.2.3 Phương pháp phân tích số liệu
Số liệu thu thập được được xử lý bằng phần mềm SPSS 22 tập trung vào: Phân tích độ
tin cậy các thang đo bằng hệ số Cronbach’s Alpha nhằm kiểm tra hệ số tương quan biến tổng,
kiểm tra hệ số Cronbach’s Alpha; Phân tích nhân tố khám phá (EFA) nhằm kiểm tra trọng số EFA,
nhân tố và phương sai trích; Phân tích nhân tố khẳng định (CFA) nhằm kiểm tra độ thích hợp của
mô hình, trọng số CFA; Phân tích mô hình cấu trúc tuyến tính (SEM) nhằm kiểm tra độ thích hợp
của mô hình, kiểm định giả thuyết nghiên cứu; Kiểm định giá trị trung bình bằng phương pháp
One-way Anova đối với các biến định tính: giới tính, tuổi tác, loại hình doanh nghiệp, vị trí công
tác, quy mô doanh nghiệp, vị trí đặt trụ sở doanh nghiệp.... đến Ý định và Hành vi sử dụng dịch
vụ ĐKKDTT của người dùng.
5. Kết cấu của luận án
Ngoài“phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, luận án được cấu trúc làm
5 chương như sau:
Chương 1: Tổng quan nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến việc sử dụng Chính phủ
điện tử.”
Chương 2:“Cơ sở lý luận về các nhân tố ảnh hưởng đến việc sử dụng Chính phủ điện tử.
Chương 3: Thực trạng Chính phủ điện tử và việc sử dụng Chính phủ điện tử trong lĩnh
vực dịch vụ đăng ký kinh doanh trực tuyến.
Chương 4: Phân tích nhân tố ảnh hưởng đến việc sử dụng CPĐT tại Việt Nam trong lĩnh
vực dịch vụ đăng ký kinh doanh trực tuyến.
Chương 5: Một số đề xuất, khuyến nghị nhằm tăng cường tỷ lệ sử dụng dịch vụ đăng ký
kinh doanh trực tuyến tại Việt Nam.
6. Những đóng góp mới của luận án
Những đóng góp về lý luận
Thứ nhất, luận án đã hệ thống hóa cơ sở lý luận về CPĐT và“xây dựng khung lý thuyết
về nhân tố ảnh hưởng đến việc sử dụng Chính phủ điện tử của người dân và của của doanh
nghiệp nói chung và trong lĩnh vực đăng ký kinh doanh nói riêng.
Thứ hai,“đưa ra mô hình nghiên cứu phù hợp (dựa trên mô hình TAM và TPB và một số
yếu tố khác) về nhân tố ảnh hưởng đến việc sử dụng Chính phủ điện tử trong lĩnh vực đăng ký
kinh doanh tại Việt Nam.”
Thứ ba, kết quả nghiên cứu định lượng đã khám phá nhân tố mới là tác động của dịch
bệnh đến việc sử dụng Chính phủ điện tử trong lĩnh vực đăng ký kinh doanh tại Việt Nam và
thông qua quá trình kiểm định mô hình phương trình cấu trúc đã cho thấy Tác động của dịch
bệnh là một“yếu tố ảnh hưởng đến Hành vi sử dụng CPĐT của người dùng tại Việt Nam.”
6
Những đóng góp về thực tiễn
Thứ nhất, phân tích, đánh giá thực trạng ứng dụng CPĐT tại Việt Nam nói chung, tại Bộ
KH và ĐT cùng 05 Thành phố trực thuộc Trung ương nói riêng thông qua số liệu sơ cấp.
Thứ hai, phân tích, đánh giá thực trạng sử dụng dịch vụ ĐKKDTT tại Việt Nam, tại Bộ
KH và ĐT cùng 05 Thành phố trực thuộc Trung ương thông qua số liệu sơ cấp, điều tra, khảo
sát và phỏng vấn sâu.
Thứ ba, đóng góp một số đề xuất, kiến nghị cho các cơ quan quản lý nhà nước cấp Trung
ương và địa phương trong việc phát triển Chính phủ điện tử và cải thiện tỷ lệ sử dụng dịch vụ
ĐKKDTT nói riêng và dịch vụ công trực tuyến của người dùng nói chung tại Việt Nam.
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
1.1. Các công trình nghiên cứu liên quan đến Chính phủ điện tử
CPĐT là công cụ để dễ dàng quản lý các chức năng và hoạt động của chính phủ, thúc
đẩy sự tham gia của người dùng, cung cấp các dịch vụ công cơ bản hiệu quả và thuận tiện
cho cả bên cung cấp lẫn bên sử dụng dịch vụ; giúp tăng tính minh bạch, giảm tham nhũng
trong quá trình cung cấp dịch vụ công. Hầu hết các quốc gia đều được hưởng lợi khi ứng
dụng CPĐT thông qua việc tiết giảm thời gian; chi phí tài chính cho các cơ quan chính phủ,
doanh nghiệp và người dân; cải thiện sự phối hợp giữa các cơ quan chính phủ; tăng độ chính
xác, minh bạch, dễ tiếp cận và trao quyền cho người dân. Ngày nay, CPĐT đóng vai trò quan
trọng trong việc phục vụ xã hội và doanh nghiệp bằng cách cung cấp các loại dịch vụ và giao
dịch khác nhau mọi lúc, mọi nơi thông qua việc sử dụng các thiết bị điện tử có khả năng kết
nối Internet.
1.2. Các công trình nghiên cứu liên quan đến việc sử dụng dịch vụ của Chính phủ
điện tử
Các nghiên cứu về CPĐT đều xoay quanh việc chấp nhận và sử dụng CPĐT, tập trung
vào những lĩnh vực như: Ảnh hưởng của thực tiễn quản lý đến việc chấp nhận và sử dụng CPĐT;
Ảnh hưởng của các đặc điểm tổ chức và cá nhân với việc chấp nhận và sử dụng CPĐT; Ảnh
hưởng của văn hóa chính phủ với việc áp dụng và sử dụng CPĐT và Ảnh hưởng của CNTT với
việc chấp nhận và sử dụng CPĐT.
1.3. Các công trình nghiên cứu về đăng ký kinh doanh trực tuyến
Với việc sử dụng dịch vụ CPĐT, doanh nghiệp có thể thực hiện thủ tục liên quan tới việc
đăng ký, thay đổi thông tin mà không bị giới hạn bởi không gian, thời gian và khoảng cách
địa lý. Hệ thống này cũng cho phép các cơ quan quản lý truy cập vào cơ sở dữ liệu theo
thời gian thực, điều này rất quan trọng đối với việc quản lý, điều hành, hoạch định chính
sách và ra quyết định. ĐKKDTT đã và đang là một xu thế tất yếu trong quá trình cung cấp
dịch vụ công được hầu hết các quốc gia trên thế giới ứng dụng do có đầy đủ những lợi ích
mà dịch vụ công thực hiện thông qua CPĐT mang lại, bên cạnh đó việc ĐKKDTT giúp
doanh nghiệp rút ngắn thời gian, tiết kiệm chi phí và nhân lực trong quá trình khởi sự
doanh nghiệp.

7
1.4. Các công trình nghiên cứu nhân tố ảnh hưởng đến việc sử dụng dịch vụ công
trực tuyến
Có 3 xu hướng chính trong nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến việc sử dụng CPĐT và
các dịch vụ công cung cấp bởi CPĐT: (1) sử dụng các khung lý thuyết và mô hình về chấp nhận
sử dụng CPĐT (dựa trên khung lý thuyết và mô hình nghiên cứu có sẵn như TAM, TPB, DOI hoặc
kết hợp nhiều mô hình để đánh giá); (2) đánh giá các nhân tố mang tính cá nhân từ phía người dùng
(Lòng tin, Nhận thức về tính rủi ro, Giá trị cá nhân, Các giá trị liên quan đến Chất lượng dịch vụ);
(3) đánh giá các nhân tố từ phía Chính phủ (các quy định từ phía Chính phủ).
1.5. Khoảng trống nghiên cứu
- Thứ nhất, nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến việc chấp nhận sử dụng CPĐT và
các DVCTT đã được nghiên cứu từ đầu những năm 2000. Tuy nhiên, các kết luận về nhân tố
ảnh hưởng đến việc chấp nhận sử dụng CPĐT và các DVCTT vẫn có sự khác biệt và chưa thống
nhất giữa các nghiên cứu tại các quốc gia trên thế giới.
- Thứ hai, nghiên cứu về nhân tố ảnh hưởng đến việc chấp nhận sử dụng CPĐT và
DVCTT được các nhà nghiên cứu dựa trên nhiều cách tiếp cận với các mô hình lý thuyết khác
nhau. Nghiên cứu này góp phần hệ thống hóa cơ sở lý luận về nhân tố ảnh hưởng đến việc sử
dụng CPĐT và các dịch vụ công được cung cấp bởi CPĐT, lựa chọn lý thuyết phù hợp làm cơ
sở cho nghiên cứu về nhân tố ảnh hưởng đến việc sử dụng CPĐT của người dùng tại Việt Nam
đặc biệt là trong lĩnh vực đăng ký kinh doanh.
- Thứ ba, các nghiên cứu trước đây được thực hiện chủ yếu ở các nước có nền kinh tế
phát triển, hệ thống CNTT - TT tiến bộ và hệ thống các văn bản, quy định pháp luật liên quan
đến doanh nghiệp khá ổn định. Trong khi các nghiên cứu về nhân tố ảnh hưởng đến việc sử
dụng CPĐT đặc biệt là trong lĩnh vực đăng ký kinh doanh ở các nước có nền kinh tế chuyển đổi
và đang phát triển như Việt Nam vẫn còn mới mẻ và chưa được nhiều quan tâm. Nghiên cứu
này góp phần tìm ra những nhân tố ảnh hưởng đến việc sử dụng Chính phủ điện tử trong lĩnh
vực đăng ký kinh doanh tại Việt Nam.
- Các nghiên cứu về nhân tố ảnh hưởng đến việc sử dụng CPĐT trong cung cấp dịch vụ
công cho người dùng đặc biệt là lĩnh vực ĐKKD tại Việt Nam vẫn còn hạn chế và số lượng
nghiên cứu sử dụng phương pháp định lượng chưa có nhiều. Phạm vi nghiên cứu chỉ giới hạn
trên một tỉnh/ thành phố hoặc chỉ nghiên cứu trên một vài khía cạnh của việc sử dụng Chính
phủ điện tử trong cung cấp dịch vụ công.
CHƯƠNG 2
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ SỬ DỤNG CHÍNH PHỦ ĐIỆN TỬ
TRONG LĨNH VỰC ĐĂNG KÝ KINH DOANH
2.1. Chính phủ điện tử
2.1.1. Định nghĩa
Trong phạm vi nghiên cứu này, “Chính phủ điện tử là việc ứng dụng CNTT - TT để các
cơ quan chính quyền đổi mới cách làm việc, phương thức giao tiếp với người dân và tổ chức,
nhằm nâng cao chất lượng phục vụ trong cung cấp các dịch vụ công; cải thiện mối quan hệ
giữa các cơ quan chính quyền với người dân và doanh nghiệp; tạo điều kiện cho người dân và
8
doanh nghiệp tiếp cận thông tin một cách đầy đủ, thụ hưởng các dịch vụ công một cách công
bằng, hiệu quả, qua đó tăng cường tính minh bạch hiệu quả và hiệu suất quản lý nhà nước”.
2.1.2. Đặc điểm của Chính phủ điện tử
Ứng dụng CNTT - TT trong quản lý nhà nước kết hợp với thay đổi cách thức tổ chức
nhằm cải thiện chất lượng dịch vụ công, tăng cường hỗ trợ chính sách công giúp việc tiếp cận
dịch vụ, chính sách của người dân và doanh nghiệp trở nên dễ dàng và thuận tiện hơn.
Có 4 loại hình giao dịch cơ bản: Giữa Chính phủ và người dân (Government to Citizens
- G2C); Giữa Chính phủ và doanh nghiệp (Government to Businesses - G2B); Giữa các cơ quan
chính phủ các cấp (Government to Governments - G2G) và Giữa các cơ quan chính phủ với các
cán bộ, công chức, viên chức (Government to Employees - G2E).
Ưu điểm: (1) Nâng cao hiệu quả, tiết kiệm và giảm chi phí; (2) Tiết kiệm thời gian; (3)
Tăng tính bạch và giảm tham nhũng; (4) Tăng cường sự tham gia và cải thiện lòng tin của người
dân với Chính phủ.
2.2 Dịch vụ đăng ký kinh doanh trực tuyến
Là việc đại diện doanh nghiệp thực hiện đăng ký thông tin về doanh nghiệp thông qua
Cổng dịch vụ công Quốc gia, Cổng dịch vụ công của tỉnh/thành phố hoặc các website khác của
Bộ Kế hoạch và Đầu tư. Doanh nghiệp, cá nhân có quyền lựa chọn sử dụng chữ ký số hoặc Tài
khoản ĐKKD để đăng ký qua mạng. Có 226 thủ tục Đăng ký kinh doanh thuộc 13 lĩnh vực
trong đó có 53 thủ tục DVCTT mức độ 3, 4.
2.3 Một số mô hình, lý thuyết nghiên cứu về sử dụng Chính phủ điện tử
2.3.1 Mô hình chấp nhận công nghệ (Technology Acceptance Model - TAM)
Lý thuyết chấp nhận công nghệ (TAM), được Fred Davis (1985) đề xuất, nhằm giải thích
một số yếu tố ảnh hưởng đến sự chấp nhận ý định sử dụng và chấp nhận sử dụng công nghệ của
người dùng. Ý định sử dụng công nghệ của người dùng chịu ảnh hưởng của thái độ sử dụng và
nhận thức về tính hữu dụng của công nghệ đó.
TAM được đánh giá là mô hình đáng tin cậy trong việc đánh giá ý định sử dụng và chấp
nhận sử dụng công nghệ (có thể giải thích từ 40 - 60% ý định và hành vi sử dụng thực tế). Tuy
nhiên, mô hình không xem xét các ảnh hưởng về mặt xã hội đối với việc chấp nhận công nghệ.
2.3.2 Thuyết hành vi dự định (Theory of Planned Behavior - TPB)
Thuyết“hành vi dự định TPB do tác giả Ajzen (1991) phát triển dựa trên việc mở rộng
Thuyết hành động hợp lý (TRA) là một lý thuyết về tâm lý học xã hội, giải thích hành vi của
con người được sử dụng để dự đoán ý định sử dụng và hành vi cụ thể trong nhiều lĩnh vực. TPB
chỉ ra rằng“hành vi thực tế có thể được giải thích bằng ý định hành vi, trong đó ý định hành vi
cũng bị ảnh hưởng bởi thái độ, chuẩn chủ quan và nhận thức kiểm soát hành vi.
2.3.3 Các nhân tố tác động đến việc sử dụng CPĐT
Nhận thức tính hữu dụng; Nhận thức tính dễ sử dụng; Thái độ; Chuẩn chủ quan; Tác
động từ xã hội; Tác động từ truyền thông; Nhận thức hành vi; Điều kiện thuận lời từ phía
người dùng; Điều kiện thuận lợi từ phía chính quyền; Lòng tin đối với CPĐT, Lòng tin đối
với Internet, cuối cùng là Tác động của dịch bệnh (yếu tố mới được ghi nhận trong giai đoạn
diễn ra dịch bệnh COVID-19).

9
2.3.4 Mô hình nghiên cứu về nhân tố ảnh hưởng đến sử dụng CPĐT
Hình 2.1: Mô hình nghiên cứu đề xuất
(Nguồn: Đề xuất tác giả)
CHƯƠNG 3
THỰC TRẠNG CHÍNH PHỦ ĐIỆN TỬ VÀ SỬ DỤNG CHÍNH PHỦ ĐIỆN TỬ
TRONG LĨNH VỰC ĐĂNG KÝ KINH DOANH TRỰC TUYẾN
3.1. Thực trạng Chính phủ điện tử tại Việt Nam
3.1.1. Thực trạng chung Chính phủ điện tử tại Việt Nam
Chỉ số phát triển Chính phủ điện tử (EGDI) của Việt Nam đã có sự phát triển đáng kể
trong khu vực cũng như trên thế giới, dù là nước có thu nhập trung bình ở mức thấp tuy nhiên
Việt Nam lại được xếp vào những nước có chỉ số phát triển CPĐT ở mức cao trên thế giới. Chỉ
số EGDI được đánh giá qua các tiêu chí: (1) Cơ sở hạ tầng viễn thông; (2) Hạ tầng nhân lực và
(3) Dịch vụ công trực tuyến.
3.1.2. Thực trạng ứng dụng CNTT - TT trong phát triển CPĐT tại Bộ Kế hoạch và
Đầu tư và 05 Thành phố trực thuộc Trung ương
a.
Thực trạng ứng dụng CNTT - TT trong phát triển CPĐT tại Bộ Kế hoạch và Đầu tư
Bộ KH và ĐT là đơn vị Quản lý về đăng ký doanh nghiệp, đăng ký doanh nghiệp qua mạng
điện tử và sau đăng ký doanh nghiệp trên phạm vi cả nước”, theo Báo cáo đánh giá chỉ số sẵn
sàng cho phát triển và ứng dụng CNTT - TT Việt Nam năm 2020 (ICT - Index, (2020b)), chỉ số
xếp hạng chung của Bộ KH và ĐT đạt 0,4372, xếp thứ 13/17 Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan
thuộc Chính phủ có dịch vụ công, tụt 1 bậc so với thứ hạng năm 2019 và 5 bậc so với năm 2018.
FMJ89RS7Klo5eh
Nhận thức tính hữu dụng
(Perceived usefulness – PU)
Nhận thức tính dễ sử dụng
(Perceived Easy of use – PEU)
Lòng tin đối với Internet
(Trust in Internet – TI)
Lòng tin đối với CPĐT
(Trust in Egov – TE)
Tác động từ truyền thông
(Media impacts – MI)
Tác động từ xã hội
(Social Impacts
–
SI)
Đi
ề
u ki
ệ
n thu
ậ
n l
ợ
i t
ừ
phía
CQuy
ề
n
Perceptions of Government- efficiency
(PGE)
Điều kiện thuận lợi từ phía NDùng
(Perceptions of self- efficiency – PSE)
Tác động của dịch bệnh
(IEP)
10
b.
Thực trạng ứng dụng CNTT - TT trong phát triển CPĐT tại các Thành phố trực thuộc
Trung ương
3/5 Thành phố trực thuộc Trung ương được đánh giá trong nghiên cứu là những thành
phố đứng đầu cả nước về chỉ số sẵn sàng ứng dụng CNTT - TT (ICT Index) trong nhiều năm
liên tục, đây cũng là điều kiện thuận lợi và là tiền đề quan trọng trong việc triển khai Chính phủ
điện tử tại các địa phương này.
3.2. Thực trạng sử dụng Chính phủ điện tử trong lĩnh vực dịch vụ đăng ký kinh
doanh trực tuyến
3.2.1. Đặc điểm, tình hình chung của các phòng đăng ký kinh doanh
Gồm 3 nội dung: Đặc điểm về Nguồn nhân lực, Cơ sở vật chất và Cổng dịch vụ công.
3.2.2. Thực trạng sử dụng Chính phủ điện tử trong lĩnh vực dịch vụ đăng ký kinh
doanh trực tuyến
Số lượng hồ sơ giao dịch ĐKKDTT của toàn quốc nói chung và các“thành phố trực thuộc
Trung ương nói riêng tăng dần qua mỗi năm. Tỷ lệ hồ sơ ĐKKD năm 2021 của cả nước giảm rõ rệt
(bằng 51,2% năm 2020), nguyên nhân là do ảnh hưởng tiêu cực của đại dịch COVID-19 đã tác động
mạnh đến doanh nghiệp. Tuy nhiên, cũng do yếu tố đặc thù bởi tác động của dịch COVID-19 dẫn
đến việc giãn cách/cách ly xã hội, người dân và doanh nghiệp chỉ có thể thực hiện thủ tục ĐKKD
bằng hình thức trực tuyến nên tỷ lệ hồ sơ ĐKKDTT của cả nước tăng từ từ 64,5% lên 79,7% (năm
2020), 82,4% (năm 2021) và 88,7% (năm 2022).
Bảng 3.1: Tổng số lượng hồ sơ giao dịch Đăng ký kinh doanh qua các năm
Địa phương 2017 2018 2019 2020 2021 2022
6 tháng
2023
Cả nước
- Tổng hồ sơ 1.055.815
850.353
902.814
951.883
652.637
603.188
382.340
+ Nộp trực tiếp 648.659
374.890
320.753
285.804
114.643
68.130
37.052
+ Nộp trực tuyến
407.156
475.463
582.061
666.079
537.994
535.058
345.288
Cần Thơ
- Tổng hồ sơ 11.479
10.358
10.127
11.196
7.133
6.980
3.870
+ Nộp trực tiếp 8.475
5.818
5.544
6.153
2.853
2.068
1.150
+ Nộp trực tuyến
3.004
4.540
4.583
5.043
4.280
4.912
2.720
Hà Nội
- Tổng hồ sơ 286.639
167.921
177.994
179.586
138.451
120.113
76.744
+ Nộp trực tiếp 148.797
2.843
2.965
2.732
3.102
1.106
1.435
+ Nộp trực tuyến
137.842
165.078
175.029
176.854
135.349
119.007
75.309
Hải Phòng
- Tổng hồ sơ 18.017
17.853
18.205
18.660
15.986
12.081
7.804
+ Nộp trực tiếp 9.444
6.085
4.806
2.441
702
62
243
+ Nộp trực tuyến
8.573
11.768
13.399
16.219
15.284
12.019
7.561
TP Hồ
Chí Minh
- Tổng hồ sơ 328.863
295.220
324.666
335.777
212.317
215.412
140.673
+ Nộp trực tiếp 152.872
129.613
91.582
84.826
16.352
4.274
3.602
+ Nộp trực tuyến
175.991
165.607
233.084
250.951
195.965
211.138
137.071
Đà Nẵng
- Tổng hồ sơ 33.107
28.715
29.291
25.013
20.000
17.700
10.546
+ Nộp trực tiếp 22.557
17.523
15.285
6.790
5.606
4.584
2.936
+ Nộp trực tuyến
10.550
11.192
14.006
18.223
14.394
13.116
7.610
(Nguồn: Cục Đăng ký kinh doanh - 2023)

