
BỘ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HÓA HÀ NỘI
********
NGÔ THỊ THU HƯỜNG
QUẢN LÝ DI TÍCH QUỐC GIA ĐẶC BIỆT
Ở TỈNH BẮC GIANG (NAY LÀ TỈNH BẮC NINH)
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ
Ngành: Quản lý văn hóa
Mã số: 9229042
HÀ NỘI, 2025

Công trình được hoàn thành tại:
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HÓA HÀ NỘI
BỘ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Nguyễn Quốc Hùng
TS. Trần Đức Nguyên
Phản biện 1: PGS.TS. Bùi Hoài Sơn
Ủy ban Văn hóa, Giáo dục của Quốc hội
Phản biện 2: TS. Nguyễn Minh Khang
Cục Di sản Văn hóa - Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch
Phản biện 3: PGS.TS. Vũ Thị Phương Hậu
Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh
Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án tiến sỹ cấp …..
Tại Trường Đại học Văn hóa Hà Nội
Số 418, đường La Thành, Đống Đa, Hà Nội
Vào hồi: … giờ …, ngày … tháng … năm 2025
Có thể tìm hiểu luận án tại:
- Thư viện Quốc gia Việt Nam
- Thư viện trường Đại học Văn hóa Hà Nội

1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Tỉnh Bắc Giang (trước sáp nhập) là một trong những địa phương
có hệ thống di tích khá phong phú, với hơn 2000 di tích đã được kiểm
kê, trong đó 755 di tích được xếp hạng các cấp (tính đến tháng 6/2025).
Trong số các di tích này có ba di tích được Thủ tướng Chính phủ xếp
hạng quốc gia đặc biệt, gồm: Địa điểm Chiến thắng Xương Giang,
Những địa điểm Khởi nghĩa Yên Thế, và An toàn khu II Hiệp Hòa. Đây
là những di tích có giá trị tiêu biểu, gắn với các giai đoạn lịch sử trọng
đại của dân tộc, thể hiện tinh thần yêu nước, khát vọng độc lập, tự chủ
và sự đóng góp to lớn của nhân dân địa phương vào sự nghiệp cách
mạng. Các di tích này thể hiện rõ vai trò của Nhà nước và cộng đồng
trong công tác bảo tồn, tu bổ, phát huy giá trị di tích gắn với phát triển
KT-XH địa phương.
Việc lựa chọn ba di tích nói trên làm trường hợp nghiên cứu không
chỉ bởi đây là các DTQGĐB có giá trị tiêu biểu về lịch sử-văn hóa, mà
còn bởi tính đa dạng trong phương thức quản lý, sự tham gia khác biệt
của các chủ thể, cũng như khả năng đối chiếu, so sánh giữa các mô hình
quản lý hiện nay. Qua đó, đề tài hướng đến việc làm rõ mối quan hệ
giữa kỳ vọng xã hội, vai trò thực tế, xung đột vai trò và quá tải vai trò
của các chủ thể, đặc biệt là Nhà nước và cộng đồng trong hoạt động
quản lý di tích (QLDT).
Có thể thấy, kể từ khi di tích đầu tiên trong số ba di tích trên được
công nhận DTQGĐB vào năm 2012 cho đến nay, những di tích này nhận
được sự quan tâm của các tổ chức bộ máy Nhà nước và cộng đồng trên
nhiều phương diện hoạt động: Quy hoạch, lập dự án tu bổ, tôn tạo, đặc
biệt là hoạt động bảo tồn và phát huy giá trị di tích… Tuy nhiên, bên cạnh
những kết quả đạt được, công tác QLDT còn bộc lộ không ít bất cập:
Phân cấp quản lý thiếu rõ ràng; cơ chế phối hợp giữa các cấp, các ngành,

chính quyền địa phương thiếu đồng bộ; cơ chế huy động nguồn lực xã hội
hóa (XHH) chưa thực sự hiệu quả, và đặc biệt là vai trò của cộng đồng
địa phương trong việc bảo vệ, phát huy giá trị di tích còn mờ nhạt; trong
khi đó, vai trò của Nhà nước-với tư cách là chủ thể định hướng, chỉ đạo,
quản lý và điều phối chính sách lại gặp phải không ít thách thức liên quan
đến sự quá tải chức năng, chồng chéo nhiệm vụ và xung đột giữa mục
tiêu bảo tồn với yêu cầu phát triển KT-XH tại địa phương.
Đặc biệt, trong quá trình triển khai luận án, một biến động lớn về
hành chính đã diễn ra: Theo quyết nghị của Quốc hội về việc sắp xếp lại
đơn vị hành chính cấp tỉnh, hai tỉnh Bắc Giang và Bắc Ninh chính thức
được sáp nhập, thống nhất tên gọi là tỉnh Bắc Ninh kể từ ngày 01/7/2025.
Sự kiện này không chỉ đánh dấu một bước chuyển lớn về quản lý hành
chính-lãnh thổ, mà còn đặt ra những yêu cầu mới trong công tác bảo tồn,
quản lý và phát huy giá trị di tích trên địa bàn mở rộng. Các di tích từng
thuộc địa giới hành chính tỉnh Bắc Giang (trước sáp nhập), bao gồm ba
DTQGĐB được lựa chọn làm trường hợp nghiên cứu nay được xác định
thuộc địa phận tỉnh Bắc Ninh (sau sáp nhập). Do đó, để bảo đảm tính cập
nhật, nhất quán và phù hợp với bối cảnh thực tiễn, luận án này có sử dụng
danh xưng địa giới hành chính tỉnh Bắc Ninh khi đề cập đến không gian
nghiên cứu và các địa danh, trong khi vẫn giữ nguyên các nội dung, mục
tiêu và phạm vi phân tích đã được xác lập từ đầu trong việc phân tích mô
hình QLDT tại ba địa điểm lịch sử trọng yếu nói trên. Việc điều chỉnh tên
gọi địa giới hành chính này không làm thay đổi đối tượng, mục tiêu và
nội dung nghiên cứu của luận án, mà trái lại, còn góp phần đặt vấn đề
nghiên cứu trong một bối cảnh quản lý hành chính mới, từ đó gợi mở các
tiếp cận thích ứng với yêu cầu đổi mới trong quản lý DTQGĐB ở địa
phương trên quy mô rộng hơn.
Xuất phát từ thực tiễn nêu trên, cần thiết có một công trình nghiên cứu
toàn diện, đánh giá đúng thực trạng quản lý DTQGĐB hiện nay thông qua
lăng kính lý thuyết vai trò, nhằm làm rõ những vấn đề cốt lõi trong việc

thực hiện các vai trò của Nhà nước và cộng đồng qua hoạt động bảo tồn,
phát huy giá trị di tích; đồng thời đề xuất giải pháp phù hợp, khả thi nhằm
nâng cao hiệu quả quản lý DTQGĐB nhìn từ vai trò của các chủ thể trong
bối cảnh hiện nay. Chính vì vậy, nghiên cứu sinh (NCS) lựa chọn thực hiện
đề tài “Quản lý di tích quốc gia đặc biệt ở tỉnh Bắc Giang (nay là tỉnh Bắc
Ninh)” làm nội dung nghiên cứu cho luận án của mình.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1. Mục đích nghiên cứu
Mục đích của đề tài nhằm phân tích, đánh giá vai trò của Nhà nước
và cộng đồng trong công tác quản lý DTQGĐB tại tỉnh Bắc Giang (trước
khi sáp nhập). Trên cơ sở đó, luận án vận dụng LTVT để làm rõ các yếu
tố ảnh hưởng đến hiệu quả quản lý, chỉ ra những bất cập và đề xuất giải
pháp nâng cao hiệu quả QLDT trong bối cảnh đổi mới thể chế, phân cấp
quản lý và chuyển đổi hành chính địa phương.
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nêu trên, luận án tập trung giải quyết những
nhiệm vụ cụ thể sau đây:
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận và các công trình tiếp cận lý thuyết
liên quan đến đề tài.
- Khảo sát, phân tích thực trạng hoạt động quản lý DTQGĐB ở Bắc
Giang, tập trung vào vai trò của Nhà nước và cộng đồng.
- Vận dụng LTVT để lý giải những vấn đề bất cập trong quản lý:
xung đột, quá tải vai trò hay khoảng cách giữa kỳ vọng và thực tế.
- Đề xuất các giải pháp khoa học, khả thi nhằm hoàn thiện mô hình
quản lý DTQGĐB trong bối cảnh thay đổi địa giới hành chính.
3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu: NCS lựa chọn đối tượng nghiên cứu
của luận án là hoạt động quản lý DTQGĐB ở tỉnh Bắc Giang (nay là
tỉnh Bắc Ninh) với trọng tâm là vai trò của Nhà nước và cộng đồng.

