intTypePromotion=3

Tóm tắt Luận văn thạc sĩ Luật học: Pháp luật về phòng, chống tham nhũng - từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Chia sẻ: Hinh Duyệt | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:28

0
9
lượt xem
0
download

Tóm tắt Luận văn thạc sĩ Luật học: Pháp luật về phòng, chống tham nhũng - từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Nội dung của luận văn gồm 3 chương được trình bày như sau: Cơ sở khoa học về tham nhũng và pháp luật phòng, chống tham nhũng; Thực trạng pháp luật và tổ chức thực hiện pháp luật về phòng, chống tham nhũng ở tỉnh Gia Lai; Phương hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật về phòng, chống tham nhũng ở tỉnh Gia Lai.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Tóm tắt Luận văn thạc sĩ Luật học: Pháp luật về phòng, chống tham nhũng - từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

  1. BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ …………/………… ……/…… HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA BÙI MINH PHÚC PHÁP LUẬT VỀ PHÒNG, CHỐNG THAM NHŨNG - TỪ THỰC TIỄNTỈNH GIA LAI Chuyên ngành: Luật Hiến pháp và Luật Hành chính Mã số : 60 38 01 02 TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HIẾN PHÁP VÀ LUẬT HÀNH CHÍNH ĐẮK LẮK – NĂM 2017
  2. Công trình được hoàn thành tại: HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA Người hướng dẫn khoa học: TS. Bùi Thị Thanh Thúy Phản biện 1: PGS. TS. Lương Thanh Cường ............................................................................ Phản biện 2: TS. Trần Quốc Cường ............................................................................ Luận văn được bảo vệ tại Hội đồng chấm luận văn, Học viện Hành chính Quốc gia, Phân viện khu vực Tây Nguyên. Địa điểm: Phòng số 7 Nhà……………………………………………………………….... Số: 51 - Đường Phạm Văn Đồng - Thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk. Thời gian: vào hồi 15 giờ 30 phút ngày 28 tháng 5 năm 2017 Có thể tìm hiểu luận văn tại Thư viện Học viện Hành chính Quốc gia hoặc trên trang Web Khoa Sau đại học, Học viện Hành chính Quốc gia
  3. MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Tham nhũng cùng với lãng phí đã gây thiệt hại lớn về tài sản của Nhà nước, làm băng hoại đạo đức của một bộ phận cán bộ, đảng viên; xâm hại trực tiếp công lý và công bằng xã hội, làm xói mòn lòng tin của nhân dân, là nguy cơ đe dọa sự sống còn của chế độ ta. Nhận thức rõ mức độ nghiêm trọng và những hậu quả nguy hại của tham nhũng, Đảng ta đã có nhiều chủ trương, biện pháp đấu tranh nhằm ngăn ngừa, phát hiện và xử lý các hành vi tham nhũng. Về phía Nhà nước, để có cơ sở pháp lý trong việc đấu tranh PCTN ngày 29-11-2005, Quốc hội đã thông qua Luật PCTN; Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành 30 nghị định, quyết định, chỉ thị để cụ thể hóa Nghị quyết Trung ương 3 (Khóa X) và Luật PCTN, qua đó đã quy định chi tiết, hướng dẫn thực hiện hầu hết các quy định của Luật PCTN. “Các bộ, ngành, địa phương cũng đã ban hành 42.168 văn bản mới; sửa đổi, bổ sung trên 55.416 văn bản để thực hiện Luật PCTN và các văn bản hướng dẫn thi hành” [26]. Đến nay, nạn tham nhũng vẫn diễn ra hết sức phổ biến, ngày càng tinh vi ở nhiều cấp, nhiều ngành. Thậm chí, tham nhũng đã ăn sâu vào tư duy và tác phong làm việc hàng ngày của một số cán bộ, công chức, làm giảm hiệu quả hoạt động quản lý nhà nước, gây bất bình trong nhân dân. Văn kiện Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII nêu rõ: Tình trạng suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên chưa bị đẩy lùi, có mặt, có bộ phận còn diễn biến tinh vi, phức tạp hơn; tham nhũng, lãng phí, tiêu cực vẫn còn nghiêm trọng tập trung vào một số đảng viên có chức vụ trong bộ máy nhà nước [6; tr.22]. Đã đến lúc chúng ta phải nhận thức đầy đủ tính chất, mức 1
  4. độ, những tác hại và biến quyết tâm chính trị thành những biện pháp cụ thể để ngăn chặn và đẩy lùi tệ tham nhũng. Cùng chung tình trạng như cả nước, trong những năm gần đây, tình trạng tham nhũng ở Gia Lai có những biểu hiện phức tạp, việc tổ chức thực hiện pháp luật về tham nhũng còn nhiều bất cập, chưa kiên quyết, triệt để. Vì thế, nghiên cứu đề tài "Pháp luật về phòng, chống tham nhũng - Từ thực tiễn tỉnh Gia Lai" mang tính cấp thiết. 2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài Đề tài nghiên cứu liên quan đến pháp luật về PCTN hiện nay được đông đảo mọi người quan tâm vì nó mang tính thời sự và thực tiễn. Ở Việt Nam đã nhiều học giả, nhà chính trị quan tâm đến vấn đề nhạy cảm này, đã có nhiều bài viết trên các phương tiện thông tin đại chúng và các công trình nghiên cứu về tham nhũng và PCTN. Tuy nhiên đến nay, riêng đề tài “Pháp luật về phòng, chống tham nhũng - Từ thực tiễn tỉnh Gia Lai” chưa có một công trình nghiên cứu về vấn đề này. 3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 3.1. Mục đích nghiên cứu Trên cơ sở nhận thức lý luận pháp luật về PCTN, đánh giá thực trạng pháp luật và thực hiện pháp luật về PCTN trên địa bàn tỉnh Gia Lai, luận văn đề xuất phương hướng và một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về PCTN trên địa bàn tỉnh Gia Lai nói riêng và cả nước nói chung. 3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu Để đạt mục tiêu nghiên cứu trên đây, luận văn đặt ra các nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể sau: - Làm rõ những vấn đề lý luận về tham nhũng và pháp luật PCTN. 2
  5. - Phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật và tổ chức thực hiện pháp luật về PCTN ở tỉnh Gia Lai; - Đề xuất phương hướng cùng một số giải pháp thiết thực, hiệu quả, khả thi nhằm hoàn thiện pháp luật về PCTN và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về PCTN ở tỉnh Gia Lai nói riêng và cả nước nói chung. 4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 4.1. Đối tượng nghiên cứu: Pháp luật về PCTN và việc tổ chức thực hiện pháp luật về PCTN ở tỉnh Gia Lai. 4.2. Phạm vi nghiên cứu Đề tài chỉ giới hạn phạm vi nghiên cứu như sau: - Phạm vi nội dung: Pháp luật về phòng, chống tham nhũng được nghiên cứu ở 02 góc độ: Quy định pháp luật và tổ chức thực hiện pháp luật về PCTN. - Phạm vi không gian: Trên địa bàn tỉnh Gia Lai. - Phạm vi thời gian: Thời gian nghiên cứu từ năm 2016 đến nay. 5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn 5.1. Phương pháp luận Việc nghiên cứu đề tài được tiến hành dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa duy vật lịch sử, chủ nghĩa duy vật biện chứng của Chủ nghĩa Mác – Lênin. Đồng thời, dựa trên quan điểm, chủ trương, phương hướng, nhiệm vụ của Đảng về PCTN. 5.2. Phương pháp nghiên cứu Để thực hiện đề tài này, tác giả sử dụng các phương pháp cụ thể như: phương pháp thống kê; phương pháp khảo cứu tài liệu; phương pháp so sánh - đối chiếu; phương pháp phân tích - tổng hợp để làm sáng tỏ vấn đề nghiên cứu, tổng kết thực tiễn ban hành các quy định về PCTN và tổ chức thực hiện pháp luật về PCTN ở tỉnh Gia Lai trong thời gian qua. 3
  6. 6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn 6.1. Về phương diện lý luận Trên cơ sở những vấn đề lý luận chung về tham nhũng và PCTN, đề tài góp phần làm rõ các quy định pháp luật về tham nhũng và PCTN. Đánh giá các quy định pháp luật và việc tổ chức thực hiện pháp luật về PCTN ở tỉnh Gia Lai, bên cạnh mặt ưu điểm còn có những hạn chế cần khắc phục và nguyên nhân. Đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về PCTN và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về PCTN trong thời gian tới trên địa bàn tỉnh Gia Lai. 6.2. Về phương diện thực tiễn Đề tài có thể được Tỉnh ủy, UBND tỉnh và các cơ quan, tổ chức, đơn vị trên địa bàn tỉnh Gia Lai nói riêng, nhà quản lý, hoạch định chính sách nói chung tham khảo để vận dụng vào công tác đấu tranh PCTN; Trường Chính trị tỉnh và các trường Cao đẳng, Trung học chuyên nghiệp ở Gia Lai tham khảo để phục vụ cho công tác giảng dạy môn (bài) pháp luật về PCTN trong các chương trình đào tạo hoặc bồi dưỡng. 7. Kết cấu của luận văn Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương: Chương 1. Cơ sở khoa học về tham nhũng và pháp luật phòng, chống tham nhũng Chương 2. Thực trạng pháp luật và tổ chức thực hiện pháp luật về phòng, chống tham nhũng ở tỉnh Gia Lai. Chương 3. Phương hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật về phòng, chống tham nhũng ở tỉnh Gia Lai. 4
  7. Chƣơng 1 CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ THAM NHŨNG VÀ PHÁP LUẬT PHÒNG, CHỐNG THAM NHŨNG 1.1. Những vấn đề chung về tham nhũng và phòng, chống tham nhũng 1.1.1. Những vấn đề chung về tham nhũng 1.1.1.1. Khái niệm và đặc trưng của tham nhũng Ở nước ta hiện nay thuật ngữ tham nhũng được sử dụng phổ biến trong đời sống hàng ngày, nhưng vẫn chưa có sự thống nhất về quan niệm. Theo Đại Từ điển Tiếng việt giải thích, "Tham nhũng là hành động lợi dụng quyền hành để tham ô và hạch sách, nhũng nhiễu dân" [46; tr.1523]. Theo quan niệm này tham nhũng gồm hai hành vi phối hợp với nhau: nhũng nhiễu của người có quyền hành và thu lợi bất chính từ lạm dụng quyền hành đó. Theo quy định của pháp luật, Khoản 2, Điều 1 của Luật Phòng, chống tham nhũng được Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XI, kì họp thứ 8 thông qua ngày 29 tháng 11 năm 2005 quy định: "Tham nhũng là hành vi của người có chức vụ, quyền hạn đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn đó vì mục đích vụ lợi" [36; Điều 1]. Người có chức vụ, quyền hạn chỉ giới hạn ở những người trong khu vực nhà nước (các cơ quan, tổ chức, đơn vị trong hệ thống chính trị có sử dụng ngân sách, vốn, tài sản của Nhà nước). Theo quy định của pháp luật Việt Nam, tham nhũng có những đặc trưng cơ bản như sau: Thứ nhất, chủ thể tham nhũng là người có chức vụ, quyền hạn. Thứ hai, chủ thể tham nhũng lợi dụng chức vụ, quyền hạn được giao. Thứ ba, mục đích của hành vi tham nhũng là vụ lợi. 5
  8. 1.1.1.2. Các hành vi tham nhũng theo quy định của pháp luật Luật PCTN năm 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2007, 2012) đã liệt kê 12 hành vi tham nhũng. Trong 12 hành vi tham nhũng nêu trên, Bộ luật hình sự năm 1999 quy định 07 tội phạm tham nhũng, bao gồm: Tội tham ô tài sản; Tội nhận hối lộ; Tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản; Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành nhiệm vụ, công vụ; Tội lạm quyền trong khi thi hành nhiệm vụ, công vụ vì vụ lợi; Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn gây ảnh hưởng với người khác để trục lợi; Tội giả mạo trong công tác vì vụ lợi. Ngoài ra, Bộ luật Hình sự năm 1999 còn quy định 07 tội phạm khác về chức vụ. 1.1.1.3. Tác hại của tham nhũng Tham nhũng có thể gây ra rất nhiều hậu quả nghiêm trọng trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Có thể khái quát những tác hại chủ yếu của tham nhũng ở những điểm chính sau: Thứ nhất, tác hại về chính trị. Thứ hai, tác hại về kinh tế. Thứ ba, tác hại về xã hội. 1.1.2. Khái niệm phòng, chống tham nhũng PCTN là tổng thể các biện pháp mà một nhà nước áp dụng để phòng ngừa (phòng), phát hiện, ngăn chặn và xử lý (chống) tham nhũng. Những biện pháp đó có thể là lập pháp (ban hành các văn bản pháp luật để điều chỉnh những hành vi tham nhũng), hành pháp (thực hiện các quy định pháp luật về PCTN), tư pháp (xử lý những hành vi tham nhũng theo luật định), hoặc những biện pháp giáo dục, tuyên truyền để nâng cao nhận thức, ý thức trách nhiệm của những chủ thể có liên quan về vấn đề này. 6
  9. 1.2. Pháp luật về phòng, chống tham nhũng và tổ chức thực hiện pháp luật về phòng, chống tham nhũng 1.2.1. Pháp luật về phòng, chống tham nhũng 1.2.1.1. Khái niệm Pháp luật về phòng, chống tham nhũng là hệ thống các quy phạm pháp luật do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành để điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực phòng, chống tham nhũng. 1.2.1.2. Nội dung điều chỉnh Thứ nhất, pháp luật về phòng ngừa tham nhũng. Phòng ngừa tham nhũng là một trong những nội dung lớn của pháp luật về PCTN. Kinh nghiệm chống tham nhũng của các nước trên thế giới cho thấy, công tác phòng ngừa đóng vai trò rất quan trọng. Pháp luật Việt Nam hiện hành quy định khá đầy đủ các biện pháp phòng ngừa đang được nhiều nước trên thế giới áp dụng hiện nay. Phần lớn các quy định của pháp luật về chống tham nhũng nằm trong các biện pháp phòng ngừa tham nhũng, bao gồm 6 biện pháp sau: Một là, công khai minh bạch trong hoạt động của các cơ quan, tổ chức, đơn vị. Ba là, quy tắc ứng xử, quy tắc đạo đức nghề nghiệp, việc chuyển đổi vị trí công tác của cán bộ, công chức, viên chức. Bốn là, minh bạch tài sản, thu nhập của CBCCVC. Năm là, chế độ trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị khi để xảy ra tham nhũng. Sáu là, cải cách hành chính, đổi mới công nghệ quản lý và phương thức thanh toán. Thứ hai, pháp luật về phát hiện tham nhũng. Phát hiện tham nhũng là việc tìm ra vụ việc tham nhũng và có biện pháp kịp thời để hạn chế thiệt hại xảy ra, đồng thời xác định mức độ trách 7
  10. nhiệm của người có hành vi vi phạm, có hình thức xử lý thích đáng và nghiêm minh. Pháp luật về PCTN quy định: việc phát hiện tham nhũng thông qua ba hoạt động chủ yếu sau: Một là, thông qua công tác kiểm tra của cơ quan, tổ chức, đơn vị. Hai là, thông qua hoạt động thanh tra, kiểm toán, điều tra, kiểm sát, xét xử, giám sát. Ba là, thông qua tố cáo và giải quyết tố cáo về hành vi tham nhũng. Thứ ba,pháp luật về xử lý tham nhũng và các hành vi vi phạm pháp luật khác, gồm hai hình thức xử lý sau: Một là, xử lý kỷ luật và xử lý hình sự. Hai là, quy định về xử lý tài sản tham nhũng. 1.2.2. Tổ chức thực hiện pháp luật về phòng, chống tham nhũng 1.2.2.1. Khái niệm Tổ chức thực hiện pháp luật về PCTN là chức năng của cơ quan hành pháp trong quá trình hướng dẫn, chuẩn bị các nguồn lực (con người, tổ chức bộ máy, cơ sở vật chất để thực hiện từng văn bản pháp luật) bảo đảm sẵn sàng, phù hợp ngay từ khi tổ chức học tập, quán triệt, vận dụng để mọi hành vi ứng xử của các chủ thể đều phù hợp với các quy định của pháp luật có liên quan đến PCTN. 1.2.2.2. Nội dung tổ chức thực hiện pháp luật về phòng, chống tham nhũng Thứ nhất, tổ chức bộ máy phòng, chống tham nhũng. Chiến lược phòng chống tham nhũng đến năm 2020 đã nêu rõ “Phòng, chống tham nhũng là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị dưới sự lãnh đạo của Đảng, phát huy sức mạnh tổng hợp của các ngành, các cấp, nhấn mạnh trách nhiệm người đứng đầu các cơ quan, tổ chức, đơn vị, đề cao vai trò của xã hội, các tổ chức đoàn thể và quần chúng nhân dân” [17]. Theo quy định hiện hành của pháp luật Việt Nam, chức năng phòng, 8
  11. chống tham nhũng được trao cho các cơ quan có chức năng bảo vệ pháp luật bao gồm các cơ quan thanh tra, kiểm toán, điều tra, kiểm sát, toà án. Ngoài các cơ quan nói trên, không thể không nhắc đến một cơ quan có thể coi là cơ quan chuyên trách về phòng chống tham nhũng, đó là Ban chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng. Thứ hai,triển khai thực hiện pháp luật về phòng, chống tham nhũng, bao gồm các biện pháp sau: Một là, tuyên truyền, giáo dục pháp luật về PCTN. Hai là, thực hiện các biện pháp phòng ngừa tham nhũng. Ba là, thực hiện các biện pháp phát hiện tham nhũng. Bốn là, thực hiện các biện pháp xử lý tham nhũng. Thứ ba, thanh tra, giám sát trách nhiệm thực hiện pháp luật về PCTN. 1.3. Pháp luật về phòng, chống tham nhũng của một số quốc gia trên thế giới và giá trị tham khảo đối với Việt Nam 1.3.1. Pháp luật về phòng, chống tham nhũng của một số quốc gia trên thế giới 1.3.1.1. Pháp luật của Đan Mạch về phòng, chống tham nhũng 1.3.1.2. Pháp luật của Trung Quốc về phòng, chống tham nhũng 1.3.3.3. Pháp luật của Singapore về phòng, chống tham nhũng 1.3.2. Giá trị tham khảo đối với Việt Nam Một là, làm cho công chức không dám tham nhũng. Hai là, làm cho công chức không thể tham nhũng. Pháp luật Singapore quy định: mỗi năm công chức, viên chức, quan chức phải khai báo một lần với nhà nước về tài sản của bản thân hoặc của vợ (chồng). Ở Trung quốc, nếu công chức không giải thích được nguồn gốc tài sản của mình thì bị coi là tham ô. 9
  12. Ba là, làm cho công chức không cần tham nhũng. Singapore có chế độ trả lương chênh lệch khá cao giữa quan chức cấp cao với cấp thấp và với công chức, giữa công chức với nhân viên, công nhân. Với mức lương cao, quan chức đủ sống và chu cấp cho gia đình mà không cần tham nhũng. Bốn là, làm cho công chức không muốn tham nhũng. Ở Singapore muốn tham nhũng một thứ gì, dù rất nhỏ, cũng rất phiền hà, phức tạp. Năm là, thông qua chính sách truyền thông, Nhà nước làm cho các nhà chính trị và quan chức cao cấp hình thành nên nhận thức về đạo đức rằng, mọi người sẽ không bao giờ tha thứ cho tội tham nhũng, người có tội sẽ bị trừng trị nghiêm khắc, trừng trị cả những ai bao che dung túng người tham nhũng bất kể người đó là ai. Sáu là, đề cao quyết tâm chính trị của người đứng đầu chính trị thông qua sự ủng hộ thành lập cơ quan chuyên trách chống tham nhũng có đủ sức mạnh. Bảy là, xem xét, xác minh giải quyết cả những đơn thư tố cáo nặc danh; Tám là, thu hút các nhân viên xuất sắc vào công việc chống tham nhũng. Chín là, tăng cường phối hợp hoạt động giữa Ban chỉ đạo phòng, chống tham nhũng của Trung ương với các cơ quan chống tham nhũng của địa phương. Mười là, đề cao trách nhiệm của người đứng đầu các cơ quan, tổ chức, đơn vị trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng. Mười một là, kịp thời khen thưởng đối với các tổ chức, cá nhân có thành tích trong công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng; kiên quyết xem xét, xử lý theo quy định của pháp luật đối với các hành vi vi phạm các quy định về phòng, chống tham nhũng. 10
  13. Chƣơng 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ TỔ CHỨC THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ PHÒNG, CHỐNG THAM NHŨNG Ở TỈNH GIA LAI 2.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội tỉnh Gia Lai 2.1.1. Điều kiện tự nhiên tỉnh Gia Lai 2.1.2. Điều kiện kinh tế xã hội tỉnh Gia Lai 2.2. Thực trạng pháp luật về phòng, chống tham nhũng ở tỉnh Gia Lai 2.2.1. Pháp luật về phòng ngừa tham nhũng Ủy ban nhân dân đã ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật để cụ thể hóa và thực hiện các văn bản của Trung ương về PCTN, cụ thể như sau: Thứ nhất, ban hành các quy định có liên quan đến lĩnh vực đầu tư, mua sắm công. Thứ hai, ban hành các quy định trong lĩnh vực tài chính và ngân sách nhà nước. Thứ ba, ban hành các quy định trong lĩnh vực công tác cán bộ. Thứ tư, ban hành các quy định về cải cách hành chính góp phần phòng ngừa tham nhũng. Thứ năm, về chuyển đổi vị trí công tác của cán bộ, công chức, viên chức. Thứ sáu, ban hành các quy định về chế độ, định mức, tiêu chuẩn. Thứ bảy, ban hành quy định xử lý trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị khi để xử ra tham nhũng. Thứ tám, ban hành các quy định về quy tắc ứng xử, đạo đức công vụ. 2.2.2. Pháp luật về phát hiện và xử lý tham nhũng Ở địa phương không ban hành các quy định về phát hiện, xử lý tham nhũng mà chỉ tổ chức thực hiện các quy định của pháp luật về phát hiện và xử lý tham nhũng. 11
  14. 2.3. Thực trạng tổ chức thực hiện pháp luật về phòng, chống tham nhũng ở tỉnh Gia Lai 2.3.1. Tổ chức bộ máy phòng, chống tham nhũng của tỉnh Gia Lai Hiện nay, toàn tỉnh có 47 cơ quan, tổ chức, đơn vị đang thực hiện chức năng PCTN, với tổng số 99 người. Trong đó, cơ quan, tổ chức, đơn vị chuyên trách có: 01/08 người; cơ quan, tổ chức, đơn vị không chuyên chuyên trách có: 46/91 người; cơ quan, tổ chức, đơn vị cấp tỉnh có 12/18 người, cơ quan, tổ chức, đơn vị cấp huyện có 35/81 người [55]. 2.3.2. Triển khai thực hiện pháp luật về phòng, chống tham nhũng 2.3.2.1. Triển khai thực hiện pháp luật về phòng ngừa tham nhũng Thứ nhất, tuyên truyền phổ biến giáo dục pháp luật về phòng, chống tham nhũng. Các cơ quan, tổ chức trong toàn tỉnh đã tổ chức được 4.199 lớp tập huấn, tuyên truyền, phổ biến, quán triệt về PCTN, với 451.261 lượt người tham gia; đã xuất bản 119.116 đầu sách, tài liệu về PCTN [56]. Thứ hai, công khai minh bạch trong hoạt động của các cơ quan, tổ chức, đơn vị. Bao gồm các hình thức công khai sau: Một là, công khai, minh bạch trong tuyển dụng, bố trí, quy hoạch, đào tạo, bổ nhiệm, khen thưởng, kỷ luật cán bộ. Hai là, công khai, minh bạch trong quản lý nhà nước về các lĩnh vực đất đai; tài nguyên khoáng sản, địa chất; môi trường; công khai, minh bạch trong thực hiện các dự án đầu tư, hoạt động đấu thầu sử dụng ngân sách nhà nước. Ba là, thực hiện trách nhiệm giải trình trong thực thi nhiệm vụ, công vụ. Trong thời gian qua, không có đơn vị nào phải giải trình trong thực thi nhiệm vụ, công vụ. Điều này cho thấy, trách nhiệm giải trình của các cơ quan, tổ chức, đơn vị chưa được chú trọng, quan tâm thực hiện. 12
  15. Thứ ba, xây dựng và thực hiện các chế độ, định mức, tiêu chuẩn. Đã tiến hành kiểm tra 2.114 cơ quan, tổ chức, đơn vị trong việc thực hiện các quy định về chế độ, định mức, tiêu chuẩn. Qua kiểm tra có 14 cơ quan, tổ chức, đơn vị vi phạm về chế độ, định mức, tiêu chuẩn (chiếm tỉ lệ 0,66%). Tổng giá trị các vi phạm về chế độ, định mức, tiêu chuẩn đươc thu hồi 464.383.000 đồng trên tổng số 619.628.000 đồng (chiếm tỉ lệ 74,9%) [56]. Thứ tư, thực hiện quy tắc ứng xử, quy tắc đạo đức nghề nghiệp, việc chuyển đổi vị trí công tác của cán bộ, công chức, viên chức. Bao gồm các nội dung sau: Một là, về quy tắc ứng xử, quy tắc đạo đức nghề nghiệp. Tính đến tháng 6 năm 2016 có 900 cơ quan, tổ chức, đơn vị xây dựng quy tắc ứng xử, quy tắc đạo đức nghề nghiệp; đã tổ chức kiểm tra 357 cơ quan, tổ chức, đơn vị trong việc thực hiện quy tắc ứng xử, quy tắc đạo đức nghề nghiệp, có 10 cơ quan, tổ chức, đơn vị vi phạm [56]. Hai là, chuyển đổi vị trí việc làm của cán bộ, công chức, viên chức. Các cơ quan, đơn vị, địa phương triển khai và tổ chức thực hiện việc chuyển đổi vị trí công tác đối với CBCCVC. Kết quả đã thực hiện chuyển đổi được 1.588 người [56]. Thứ năm, thực hiện minh bạch tài sản, thu nhập của CBCCVC. Đến nay, có 100% cơ quan, tổ chức, đơn vị thực hiện việc kê khai tài sản theo quy định. Tổng số người phải kê khai tài sản, thu nhập trên toàn tỉnh là 10.345 người; trong đó, đã kê khai là 10.320 người, 25 người không kê khai do nghỉ việc, nghỉ sinh, ốm đau lâu dài. Số người được xác minh việc kê khai tài sản là 01 người [56]. Thứ sáu, thực hiện chế độ trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị khi để xảy ra tham nhũng. 13
  16. Tính đến tháng 6 năm 2016, toàn tỉnh có 19 trường hợp người đứng đầu bị xử lý trách nhiệm, 02 trường hợp đang chỉ đạo xử lý [56]. Thứ bảy, thực hiện cải cách hành chính, đổi mới công nghệ quản lý và phương thức thanh toán. Một là, cải cách hành chính, đổi mới công nghệ quản lý. Hiện có 195 cơ quan, tổ chức, đơn vị đã áp dụng ISO trong quản lý hành chính. 100% các thông tin chỉ đạo, điều hành của lãnh đạo tỉnh được đưa lên Trang thông tin điện tử của tỉnh. Đến nay, có 24 đơn vị sử dụng phần mềm trong công tác quản lý văn bản và điều hành tác nghiệp (17 huyện, thị xã, thành phố và 07 đơn vị cấp tỉnh); có 06 đơn vị cấp huyện đã triển khai mô hình một cửa điện tử; 18 cơ quan nhà nước sử dụng phần mềm chuyên dụng, phục vụ công tác chuyên môn; cấp trên 4.000 hộp thư công vụ cho CBCCVC trên địa bàn tỉnh [55]. Về chỉ số cải cách hành chính năm 2015 của tỉnh Gia Lai do Bộ Nội vụ đánh giá theo Quyết định số 2558/QĐ-BNV ngày 01/08/2015 về việc phê duyệt và công bố Chỉ số CCHC năm 2015 của các bộ, cơ quan ngang bộ, UBND các tỉnh, thành phố thuộc Trung ương, kết quả chấm điểm xác định chỉ số CCHC năm 2015 của UBND tỉnh Gia Lai là 88,08/100 điểm (xếp thứ 13/63 tỉnh, thành phố thuộc Trung ương) [56]. Hai là, thực hiện đổi mới phương thức thanh toán, trả lương qua tài khoản. Tổng số cán bộ công chức, viên chức phải chi trả lương bằng nguồn ngân sách Nhà nước của tỉnh: 33.265 người, trong đó: Công chức: 4.981 người; Viên chức: 28.284 người [55]. 2.3.2.2. Triển khai thực hiện pháp luật về phát hiện tham nhũng Một là, thông qua hoạt động kiểm tra của cơ quan, tổ chức, đơn vị. Công tác tự kiểm tra hành chính trong các cơ quan, tổ chức đơn vị có phát hiện sai phạm trong quản lý tài chính nhưng chưa phát hiện vụ việc tham nhũng nào. 14
  17. Hai là, thông qua hoạt động thanh tra hành chính. Đã triển khai 161 cuộc thanh tra tại 320 đơn vị; đã kết thúc 142 cuộc thanh tra, có 160 đơn vị sai phạm. Số vụ tham nhũng phát hiện qua công tác thanh tra là 15 vụ, với 26 người vi phạm[55]. Ba là, thông qua công tác kiểm toán chưa phát hiện vụ việc tham nhũng nào. Bốn là, thông qua tố cáo và giải quyết tố cáo về hành vi tham nhũng phát hiện 18 vụ với 29 người có hành vi tham nhũng, số tiền sai phạm thu hồi nộp vào Ngân sách Nhà nước là 627.196.084 đồng [55]. Năm là, thông qua hoạt động điều tra tội phạm Các cơ quan điều tra đã phát hiện 33 vụ tham nhũng, với 51 bị can có hành vi tham nhũng bị khởi tố [55]. 2.3.2.3. Triển khai thực hiện hoạt động xử lý tham nhũng Một là, xử lý kỷ luật. Các cơ quan có thẩm quyền đã tiến hành xử lý hành chính 30 vụ. Số cán bộ, công chức, viên chức bị xử lý kỷ luật hành chính: 42 người. Hai là, xử lý hình sự. Công tác điều tra, truy tố, xét xử các vụ án tham nhũng trong 10 năm qua được các cơ quan chức năng quan tâm thực hiện. Nhiều vụ án tham nhũng nghiêm trọng, phức tạp đã được phát hiện, điều tra truy tố, xét xử nghiêm minh theo đúng quy định của pháp luật. Ba là, xử lý tài sản tham nhũng. Trong 10 năm qua, thiệt hại tài sản bị tham nhũng, gây thiệt hại do tham nhũng đã phát hiện được là 6.969 triệu đồng và 13.313 m2 đất. Số tiền đã thu hồi cho nhà nước là 6.823 triệu đồng (đạt 97,9%) và 13.313 m2 đất (đạt 100%), cao hơn so với tỉ lệ thu hồi tàn sản tham nhũng của cả nước (0,8%) [55]. 15
  18. 2.3.3. Giám sát, thanh tra, kiểm tra trách nhiệm thực hiện pháp luật về phòng, chống tham nhũng Qua giám sát, HĐND đã có nhiều kiến nghị đối với các ngành, các cơ quan, đơn vị kịp thời khắc phục những hạn chế, bất cập trong công tác PCTN để tăng cường hiệu lực, hiệu quả của công tác này. Bên cạnh đó, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh và các tổ chức thành viên đã tích cực tuyên truyền, phổ biến pháp luật về PCTN; hướng dẫn, giải thích cho công dân khi nhận được đơn thư khiếu nại, tố cáo; tạo điều kiện để công dân thực hiện quyền khiếu nại, tố cáo đúng qui định của pháp luật. Các cơ quan Báo, Đài của tỉnh thường xuyên phối hợp với Ban Nội chính Tỉnh ủy tuyên truyền và đưa tin, viết bài về hoạt động PCTN trên địa bàn tỉnh đến các tầng lớp nhân dân thông qua các chuyên mục phát định kỳ trên các phương tiện thông tin đại chúng. Tình hình thực hiện quy định của pháp luật về khen thưởng, bảo vệ người tố cáo hành vi tham nhũng trên địa bàn chưa được quan tâm và triển khai thực hiện. Chưa có trường hợp tố cáo nào được khen thưởng theo quy định của pháp luật. 2.4. Đánh giá chung 2.4.1. Những kết quả đạt được - Về hoạt động ban hành văn bản quy phạm pháp luật: Chính quyền các cấp của tỉnh đã ban hành 158 văn bản về PCTN. Trong đó số văn bản quy phạm pháp luật về PCTN thuộc thẩm quyền ban hành hoặc trình cơ quan có thẩm quyền ban hành là 85 văn bản, số văn bản về quản lý kinh tế xã hội thuộc lĩnh vực quản lý, phụ trách có tác dụng PCTN là 73 văn bản [56]. - Về hoạt động tổ chức thực hiện pháp luật: Công tác PCTN của tỉnh đã đạt được những kết quả rõ nét hơn. Việc chỉ đạo, phối hợp, theo dõi, đôn đốc công tác PCTN được thực hiện thường xuyên, cụ thể hơn. Các giải pháp về phòng ngừa tham nhũng được các cơ quan, tổ chức, đơn vị thực 16
  19. hiện đầy đủ hơn như triển khai đồng bộ việc kê khai minh bạch tài sản của cán bộ, công chức, viên chức gắn với việc đẩy mạnh công tác tự kiểm tra hoạt động PCTN và nâng cao trách nhiệm người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị. Hầu hết các cấp ủy, thủ trưởng các cơ quan, tổ chức, đơn vị đã chủ động hơn trong kiểm tra, thanh tra phát hiện, xử lý kịp thời các hành vi tham nhũng; các ngành tư pháp đã tích cực điều tra, truy tố và đưa ra xét xử nghiêm các vụ án tham nhũng nghiêm trọng, phức tạp. Trong 10 năm qua, công tác PCTN được tỉnh xác định là nhiệm vụ trọng tâm và lâu dài, đòi hỏi phải có chiến lược với những giải pháp thiết thực, hiệu quả và phải thực hiện theo từng giai đoạn, từng bước thì mới đảm bảo thực hiện được mục tiêu ngăn chặn và đẩy lùi tham nhũng. Cơ quan Thanh tra và các cơ quan có thẩm quyền đã giải quyết kịp thời các đơn thư tố cáo về hành vi tham nhũng; tăng cường công tác thanh, kiểm tra việc thực hiện các quy định của pháp luật về PCTN và các lĩnh vực dễ xảy ra hành vi tham nhũng. Từng bước nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác điều tra, truy tố, xét xử các vụ án tham nhũng. 2.4.2. Những vấn đề còn hạn chế và nguyên nhân 2.4.2.1. Những vấn đề còn hạn chế Bên cạnh những kết quả đạt được, pháp luật và tổ chức thực hiện pháp luật về PCTN trên địa bàn tỉnh Gia Lai còn một số tồn tại, hạn chế cần khắc phục: Thứ nhất, hạn chế về xây dựng và ban hành văn bản về phòng, chống tham nhũng, bao gồm: Một là, công tác xây dựng, thể chế hóa các quy định pháp luật về PCTN chưa đáp ứng được yêu cầu. Hai là, một số giải pháp về PCTN được qui định trong Luật PCTN và các văn bản của Trung ương chậm được thể chế hóa và hướng dẫn thi hành. 17
  20. Thứ hai, hạn chế trong tổ chức thực hiện pháp luật về phòng, chống tham nhũng, bao gồm: Một là, một số quy định của pháp luật về PCTN chưa được địa phương hướng dẫn, theo dõi, kiểm tra, đôn đốc thường xuyên nên kết quả chưa đạt yêu cầu. Hai là, một số biện pháp phòng ngừa tham nhũng mang tính hình thức, hiệu quả thấp. Ba là, cải cách hành chính, nhất là cải cách thủ tục hành chính hiệu quả chưa cao, tình trạng nhũng nhiễu của cán bộ, công chức ở một số cơ quan quản lý vẫn còn xảy ra; tình trạng “tham nhũng vặt” biểu hiện qua nạn hối lộ trong lĩnh vực hành chính, nạn lót tay, chạy chọt để được giao dịch với các cơ quan công quyền vẫn còn diễn ra. Bốn là, hiệu quả hoạt động của các cơ quan PCTN của tỉnh chưa tương xứng với vị thế, vai trò, chức năng, nhiệm vụ về PCTN. Năm là, việc tự kiểm tra, phát hiện tham nhũng trong nhiều cơ quan, tổ chức, đơn vị còn rất hạn chế, chưa phát hiện vụ việc nào. Sáu là, công tác giám sát về PCTN của Hội đồng nhân dân tỉnh chưa thường xuyên, có lúc, có nơi còn hình thức; số lượng các cuộc giám sát chuyên đề còn ít, tác dụng, hiệu quả chưa cao. Cơ chế giám sát thiếu cụ thể nên vai trò giám sát của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội đối với công tác phòng chống tham nhũng chưa được phát huy. Chưa huy động được cả hệ thống chính trị và của toàn xã hội, nhất là sự tham gia của người dân vào công tác PCTN. 2.4.2.2. Nguyên nhân của những mặt còn hạn chế Pháp luật và tổ chức thực hiện pháp luật về PCTN ở tỉnh Gia Lai tồn tại một số hạn chế, thiếu sót xuất phát từ một số nguyên nhân chủ yếu sau: Thứ nhất, hành vi tham nhũng ngày càng tinh vi, phức tạp. 18

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

Đồng bộ tài khoản