
Tội sản xuất, buôn bán hàng giả theo Luật Hình
sự Việt Nam (trên cơ sở số liệu của địa bàn
Thành phố Hồ Chí Minh)
Trương Văn Út
Khoa Luật
Luận văn ThS Chuyên ngành: Luật hình sự và tố tụng hình sự
Mã số 60 38 01 04
Người hướng dẫn: TS. Chu Thị Trang Vân
Năm bảo vệ: 2013
Abstract. Một số vấn đề lý luận chung về tội sản xuất, buôn bán hàng giả. Nghiên cứu quy
định về Tội sản xuất, buôn bán hàng giả trong Bộ luật hình sự hiện hành và thực tiễn điều
tra, truy tố, xét xử Tội sản xuất, buôn bán hàng giả trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh
thời gian qua. Một số giải pháp góp phần áp dụng có hiệu quả các quy định pháp luật về tội
sản xuất, buôn bán hàng giả.
Keywords. Pháp luật Việt Nam; Luật hình sự; Tội buôn bán hàng giả; Tội sản xuất hàng
giả.
Content.
1. Tính cấp thiết của đề tài
Từ Đại hội Đảng toàn quốc lần VI, Đảng và Nhà nước ta chủ trương chuyển đổi cơ chế
quản lý kinh tế, từ cơ chế quan liêu bao cấp sang cơ chế thị trường. Bằng các quy định pháp luật,
Nhà nước ta đã thừa nhận và bảo vệ sự tồn tại của nhiều thành phần kinh tế. Cùng với chủ trương
mở cửa của Nhà nước, nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN ở nước ta đã có những bước
phát triển mạnh mẽ. Đặc biệt, từ khi Luật Doanh nghiệp được ban hành, hàng chục nghìn doanh
nghiệp thuộc nhiều thành phần kinh tế trong cả nước, với đủ mọi loại hình sản xuất, kinh doanh,
dịch vụ... đã ra đời, thu hút được nguồn lực to lớn cả trong và ngoài nước vào công cuộc xây dựng
kinh tế, phát triển đất nước.

Một trong những đặc điểm của nền kinh tế thị trường là đa dạng hóa các thành phần kinh
tế, xuất nhập khẩu hàng hóa được mở rộng tự do hơn… Chính vì lẽ đó, thị trường hàng hóa nước
ta ngày nay, bên cạnh sự đa dạng của hàng hóa sản xuất trong nước, còn hiện diện hầu hết sản
phẩm nổi tiếng trên thế giới. Điều đó cho chúng ta thấy rằng, nền kinh tế nước ta đang trong giai
đoạn phát triển, đời sống người dân ngày càng được nâng cao, sản phẩm do xã hội tạo ra phong
phú hơn trước. Đây là thành quả mà Đảng và Nhà nước ta đã đạt được sau hơn 20 năm thực hiện
công cuộc đổi mới. Tuy nhiên, bên cạnh những thành quả đó, một vấn đề nhức nhối của xã hội mà
chúng ta cần quan tâm là tình hình tội phạm ngày một gia tăng và có chiều hướng phức tạp, với
nhiều thủ đoạn phạm tội tinh vi hơn, đặc biệt là tội phạm kinh tế.
Tội sản xuất, buôn bán hàng giả là một trong những tội phạm kinh tế đã gây nên những tác
hại hết sức to lớn trên nhiều mặt kinh tế, xã hội của đất nước. Trước hết nó gây nên những thiệt hại
về kinh tế cho Nhà nước, cho các đơn vị sản xuất, kinh doanh và cho cả người tiêu dùng. Tội phạm
này còn tác động xấu đến môi trường cạnh tranh và phát triển lành mạnh của nền kinh tế, làm giảm
sút lòng tin của người tiêu dùng đối với các cơ sở sản xuất kinh doanh. Và điều đó làm cho các nhà
đầu tư trong nước thiếu an tâm khi đầu tư, phát triển sản xuất, kinh doanh. Hiện nay, hàng giả tại
Việt Nam xuất hiện hầu như trong mọi lĩnh vực và bao gồm nhiều chủng loại hàng hóa. Hàng giả
xuất hiện trong những mặt hàng hóa cao cấp, đắt tiền như vàng bạc, đá quý; trong hàng xa xỉ phẩm
như nước hoa, mỹ phẩm, rượu ngoại hay trong cả các mặt hàng chuyên dùng như thuốc tân dược,
thuốc trừ sâu, phân bón... Hàng giả có mặt từ mặt hàng ngoại nhập như điện tử, các mặt hàng công
nghiệp... đến mặt hàng sản xuất trong nước như giày dép, vật liệu xây dựng.
Trong điều kiện nền kinh tế nước ta đang từng bước hội nhập vào thị trường kinh tế thế
giới, là thành viên của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) thì tội phạm sản xuất, buôn bán
hàng giả còn tác hại xấu đến môi trường đầu tư nước ngoài vào nước ta, làm giảm uy tín tiêu
dùng hàng hóa thật trong lòng người tiêu dùng, gây thiệt hại cho các doanh nghiệp sản xuất
hàng thật.
Thành phố Hồ Chí Minh là trung tâm kinh tế, văn hóa, xã hội của cả nước. Sau hơn 20 năm
đổi mới, Thành phố Hồ Chí Minh đạt được những thành tựu to lớn, toàn diện, tạo sự chuyển biến
căn bản trong đời sống xã hội, góp phần quan trọng vào thành tựu chung của vùng và cả nước.
Kinh tế tăng trưởng khá cao, bình quân hơn 11% một năm, bằng 1,2 lần tốc độ tăng trưởng chung
của vùng kinh tế trọng điểm phía nam và hơn 1,5 lần tốc độ tăng trưởng chung của cả nước. Cơ
cấu kinh tế chuyển dịch đúng hướng, tỉ trọng khu vực dịch vụ chiếm 54,3% GDP, công nghiệp-xây

dựng chiếm 44,5% GDP, nông nghiệp chiếm 1,2% GDP, tăng dần tỉ trọng các ngành có giá trị gia
tăng và hàm lượng khoa học-công nghệ cao; mô hình kinh tế tiếp tục được mở rộng, ngày càng
đóng góp tích cực vào quá trình hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN và hội
nhập kinh tế quốc tế của cả nước. Tuy chỉ chiếm 0,6% về diện tích tự nhiên, nhưng Thành phố Hồ
Chí Minh chiếm 8,56% tổng vốn đầu tư toàn xã hội, 58,33% khách du lịch quốc tế, 43,72% doanh
thu du lịch, 27,9% kim ngạch xuất khẩu, 26% kim ngạch nhập khẩu, 22,4% giá trị gia tăng ngành
công nghiệp, mức thu nhập bình quân của người dân năm 2011 bằng 2,4 lần so với bình quân đầu
người của cả nước [41].
Thành phố Hồ Chí Minh được cho là đầu tàu kinh tế của cả nước, nơi tập trung nhiều
doanh nghiệp, nhiều trung tâm thương mại, chợ đầu mối, nhiều khu công nghiệp, khu chế xuất, xí
nghiệp sản xuất... Đây cũng là một trong những địa bàn rất nhạy cảm và năng động với hoạt động
sản xuất kinh doanh luôn diễn ra sôi động nhất trong cả nước. Sự phát triển của nền kinh tế hàng
hóa nhiều thành phần cùng với chính sách mở cửa thu hút vốn đầu tư nước ngoài trong những năm
qua đã tạo cho Thành phố Hồ Chí Minh những bước phát triển mới. Các ngành hàng truyền thống
cùng với những sản phẩm mới đã tạo nên một thị trường hàng hóa hết sức phong phú với các loại
hàng hóa đa dạng, không những đáp ứng được nhu cầu sản xuất tiêu dùng của nhân dân Thành phố
mà còn góp phần cung cấp hàng hóa cho thị trường trong cả nước, cũng như tạo nên những mặt
hàng có giá trị xuất khẩu cao.
Mặc dù tình hình kinh tế cả nước nói chung và Thành phố Hồ Chí Minh nói riêng trong
thời gian gần đây gặp nhiều khó khăn, thách thức do bị ảnh hưởng bởi sự suy thoái kinh tế thế giới,
nhưng Thành phố Hồ Chí Minh vẫn là địa phương tạo ra sản phẩm xã hội nhiều nhất nước, cụ thể
tổng sản phẩm nội địa (GDP) trong năm 2012 trên địa bàn thành phố ước đạt 595.375,6 tỷ đồng,
tăng 9,2% so với năm 2011[23].
Tuy nhiên, lợi dụng những “kẽ hở” trong công tác quản lý kinh tế, xã hội và với mục đích
thu lợi bất chính, các đối tượng phạm tội cũng đã tổ chức sản xuất và đưa vào lưu thông khá nhiều
hàng giả, với đủ các chủng loại cả về nhãn hiệu và chất lượng, từ hàng tiêu dùng bình thường đến
các loại đồ dùng thiết yếu, kể cả thuốc chữa bệnh, phân bón...
Trong những năm qua, các cơ quan chức năng của Thành phố Hồ Chí Minh đã phát hiện,
xử lý nhiều vụ sản xuất, buôn bán hàng giả và thu được những kết quả nhất định, góp phần ngăn
chặn tội phạm sản xuất, buôn bán hàng giả, bảo vệ hoạt động sản xuất, kinh doanh cũng như lợi
ích của Nhà nước, của nhân dân. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đã đạt được, công tác đấu

tranh phòng chống tội phạm sản xuất, buôn bán hàng giả cũng còn những mặt hạn chế, chưa đáp
ứng được yêu cầu đòi hỏi của thực tiễn. Chính vì vậy, việc nghiên cứu, làm rõ những quy định của
Luật Hình sự Việt Nam và đối chiếu với thực trạng điều tra, truy tố, xét xử đối với loại tội phạm
này trên một địa bàn trọng yếu như Thành phố Hồ Chí Minh, qua đó tìm ra những giải pháp nhằm
nâng cao hiệu quả hoạt động đấu tranh phòng chống tội phạm sản xuất, buôn bán hàng giả là một
vấn đề cấp thiết để góp phần bảo vệ lợi ích của Nhà nước, lợi ích của các cơ sở sản xuất kinh
doanh và lợi ích của nhân dân, tạo môi trường lành mạnh để thúc đẩy nền kinh tế phát triển nhằm
thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước trên địa bàn Thành phố Hồ
Chí Minh nói riêng và Việt Nam nói chung.
Xuất phát từ yêu cầu, đòi hỏi nêu trên, tác giả mạnh dạn chọn đề tài: "Tội sản xuất, buôn
bán hàng giả theo Luật Hình sự Việt Nam (trên cơ sở số liệu của địa bàn thành phố Hồ Chí
Minh)" làm Luận văn thạc sỹ Luật học. Đề tài sẽ góp phần làm rõ Tội sản xuất, buôn bán hàng giả
theo quy định của BLHS Việt Nam; thực trạng điều tra, truy tố, xét xử đối với loại tội phạm này
trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh; trên cơ sở đó đề xuất những giải pháp hoàn thiện pháp luật,
góp phần nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh phòng chống tội sản xuất, buôn bán hàng giả trên
địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh nói riêng và cả nước nói chung.
2. Tình hình nghiên cứu
Đây là một đề tài không mới trong hệ thống khoa học pháp lý hình sự nhưng lại luôn là đề tài
có tính thời sự nên nhận được sự quan tâm của nhiều nhà khoa học, nghiên cứu. Đã có một số Công
trình nghiên cứu khoa học tiếp cận đề tài dưới các góc độ khác nhau liên quan đến tình hình tội phạm
sản xuất, buôn bán hàng giả trong phạm vi và đối tượng đấu tranh cụ thể, nhất định. Các công trình
đó tập trung nghiên cứu sâu dưới góc độ chuyên ngành tội phạm học, đề cập đến những vấn đề cụ
thể như: thực trạng công tác tổ chức đấu tranh phòng chống tội phạm sản xuất, buôn bán hàng giả
của lực lượng Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự quản lý kinh tế và chức vụ hay tập trung phân tích
nguyên nhân, điều kiện phạm tội, thực trạng, diễn biến của tình hình tội phạm này trong một giai
đoạn nhất định… Có thể kể đến một số công trình như: Bình luận khoa học Bộ luật Hình sự 1999
(Phần các tội phạm) của TS. Phùng Thế Vắc, TS. Trần Văn Luyện, LS. ThS. Phạm Thanh Bình, TS.
Nguyễn Đức Mai, ThS. Nguyễn Sĩ Đại, ThS. Nguyễn Mai Bộ, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội,
2001, Khóa luận tốt nghiệp đại học “Tổ chức hoạt động đấu tranh phòng chống tội phạm sản xuất,
buôn bán hàng giả của Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự quản lý kinh tế và chức vụ Công
an TP. Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả” của tác giả Võ Thị Thu Lan - TP.
Hồ Chí Minh -2007, Chuyên đề “Phòng ngừa, đấu tranh chống tội phạm sản xuất, buôn bán hàng

giả” của tác giả Nguyễn Đình Chiến - Cục Cảnh sát kinh tế - 2003, Luận văn Thạc sỹ Luật học "Tội
sản xuất, buôn bán hàng giả theo pháp luật hình sự Việt Nam" của tác giả Mai Thị Lan - 2008.
Các công trình nêu trên đã đóng góp vào hệ thống khoa học pháp lý hình sự những giá trị lý
luận và thực tiễn nhất định. Tuy nhiên, các công trình đó chưa đi sâu nghiên cứu, phân tích "Tội
sản xuất, buôn bán hàng giả" dưới góc độ pháp lý hình sự, nên chưa đưa ra những kiến nghị giải
pháp hoàn thiện pháp luật để nâng cao hiệu quả của hoạt động điều tra, truy tố, xét xử đối với loại
tội phạm này.
Quá trình nghiên cứu đề tài này, Tác giả cũng đã tiếp thu, kế thừa những điểm phù hợp từ
các công trình nghiên cứu trước đó để làm sáng tỏ khía cạnh hình sự của đề tài.
3. Mục đích, phạm vi nghiên cứu của đề tài
Mục đích của việc nghiên cứu đề tài này là nghiên cứu khái quát lịch sử pháp luật hình sự
Việt Nam về Tội sản xuất, buôn bán hàng giả qua các thời kỳ; nghiên cứu phân tích làm rõ Tội sản
xuất, buôn bán hàng giả theo quy định tại BLHS hiện hành; nghiên cứu, đánh giá thực trạng hoạt
động điều tra, truy tố và xét xử đối với loại tội phạm này trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh
trong giai đoạn 2008-2012, để từ đó đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao
hiệu quả trong hoạt động đấu tranh phòng chống tội phạm sản xuất, buôn bán hàng giả trên địa bàn
Thành phố Hồ Chí Minh nói riêng, trên phạm vi cả nước nói chung.
Để thực hiện mục đích trên, luận văn có một số giới hạn về phạm vi nghiên cứu như sau:
- Về đối tượng và địa bàn nghiên cứu: Luận văn tập trung nghiên cứu về Tội sản xuất, buôn
bán hàng giả theo các Điều 156, 157, 158 BLHS năm 1999, được sửa đổi bổ sung năm 2009, quy
định tại Chương XVI: Các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế; Đề tài nghiên cứu thực tiễn điều
tra, truy tố, xét xử đối với tội phạm này trong những năm gần đây trên địa bàn Thành phố Hồ Chí
Minh.
- Về số liệu thống kê: Đề tài được nghiên cứu, khảo sát dựa trên số liệu về thụ lý điều tra,
truy tố, xét xử về tội sản xuất, buôn bán hàng giả trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh trong
khoảng thời gian 5 năm (từ 2008 đến 2012) của Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh
và Toà án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
4. Phương pháp nghiên cứu

