intTypePromotion=1
ADSENSE

Tóm tắt Luận văn Thạc sĩ Tài chính Ngân hàng: Dự báo thu thuế giá trị gia tăng tại Tổng cục Thuế - Bộ Tài chính

Chia sẻ: Ocxaodua999 Ocxaodua999 | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:26

13
lượt xem
0
download
 
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Mục đích cơ bản của luận văn này là nghiên cứu cơ sở lý thuyết về thuế GTGT và dự báo thuế GTGT, xây dựng, ứng dụng các mô hình dự báo thuế GTGT phục vụ cho công tác phân tích, đánh giá, điều hành thu, chi NS và xây dựng dự toán thu NSNN hàng năm; phục vụ cho công tác đánh giá mức độ tuân thủ đối với thuế GTGT; phục vụ cho công tác hoạch định chính sách thuế GTGT. Xây dựng được các mô hình dự báo thu thuế GTGT tiên tiến, hiện đại phục vụ cho công tác dự báo thu ngân sách hàng năm, hàng quý, hàng tháng.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Tóm tắt Luận văn Thạc sĩ Tài chính Ngân hàng: Dự báo thu thuế giá trị gia tăng tại Tổng cục Thuế - Bộ Tài chính

  1. BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ -----/----- ---/--- HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA NGUYỄN THỊ THANH NHÀN DỰ BÁO THU THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG TẠI TỔNG CỤC THUẾ - BỘ TÀI CHÍNH LUẬN VĂN THẠC SĨ TÀI CHÍNH- NGÂN HÀNG NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC PGS.TS. PHẠM TIẾN ĐẠT HÀ NỘI - NĂM 2019
  2. Công trình được hoàn thành tại: HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Phạm Tiến Đạt Phản biện 1: TS. Phạm Thị Thanh Hương. Phản biện 2: TS. Nguyễn Xuân Thành Luận văn được bảo vệ tại Hội đồng chấm luận văn thạc sĩ, Học viện Hành chính Quốc gia. Địa điểm: Phòng 3B, Nhà G - Hội trường bảo vệ luận văn thạc sĩ, Học viện Hành chính Quốc gia. Số 77 đường Nguyễn Chí Thanh, quận Đống Đa, thành phố Hà Nội. Thời gian: vào hồi 16 giờ 30 phút ngày 20 tháng 12 năm 2019 Có thể tìm hiểu luận văn tại Thư viện Học viện Hành chính Quốc gia hoặc trên trang Web Khoa Sau đại học, Học viện Hành chính Quốc gia
  3. LỜI MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của luận văn Đối với ngân sách quốc gia, thuế GTGT là nguồn thu chủ yếu của Ngân sách nhà nước, tính đến cuối năm 2016, tổng số thu từ thuế GTGT chiếm tỷ trong xấp xỉ 20% trong tổng thu NSNN. Trong điều kiện kinh tế khó khăn hiện nay, cạnh tranh giữa các quốc gia trên thế giới bằng chính sách thuế diễn ra ngày càng gay gắt, thu ngân sách nhà nước còn nhiều khó khăn, yêu cầu phải sử dụng các công cụ hiện đại về phân tích, dự báo thu để hoạch định chính sách thuế GTGT cũng như dự báo số thu thuế giá trị gia tăng. Tại Việt Nam, hiện nay, việc nghiên cứu ứng dụng các mô hình dự báo thu ngân sách nói chung mới được nghiên cứu ở mức tổng quát vĩ mô chưa có một nghiên cứu chuyên sâu nào về các mô hình dự báo thu riêng đối với thuế GTGT. Những kết quả nghiên cứu cũng mới chỉ được áp dụng thử nghiệm để kiểm nghiệm kết quả thu đã thực hiện trong quá khứ, chưa được nghiên cứu, đánh giá toàn diện để triển khai ứng dụng rộng rãi trong công tác hoạch định chính sách cũng như dự báo, lập dự toán thu NSNN. Yêu cầu đặt ra hiện nay là cần có các công cụ, mô hình dự báo thu NSNN nói chung và thuế GTGT nói riêng để nâng cao chất lượng hoạch định chính sách cũng như công tác dự báo, lập dự toán thu ngân sách, đặc biệt trong bối cảnh phải thực hiện Luật NSNN năm 2015, từ năm 2017 Việt Nam sẽ bắt đầu triển khai lập kế hoạch tài chính trung hạn 3 năm và xây dựng kế hoạch tài chính 5 năm. Do đó, tôi đã nghiên cứu đề tài “Dự báo thu thuế giá trị gia tăng tại Tổng cục Thuế - Bộ Tài chính”. 2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn 1
  4. Ngoài nước: Hầu hết các nước phát triển trên thế giới như Mỹ, Hàn Quốc, Hà Lan, Singapore,... đều sử dụng phương pháp mô hình hóa để dự báo số thu trong đó có số thu thuế GTGT, phục vụ cho công tác lập kế hoạch chi tiêu NS của chính phủ; đánh giá mức độ tuân thủ của người nộp thuế và đặc biệt phục vụ cho công tác phân tích, hoạch định chính sách thu. Trong nước: Tại Việt Nam chủ yếu vẫn sử dụng phương pháp phân tích dự báo truyền thống, phân tích dự báo thu thông qua các mô hình mới chỉ ở mức nghiên cứu, thử nghiệm. Việc áp dụng các phương pháp phân tích dự báo truyền thống không đáp ứng được yêu cầu của công tác quản lý kinh tế tài chính của đất nước trong giai đoạn hội nhập và thực hiện tiến trình cải cách, đổi mới. 3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn - Mục đích: Nghiên cứu cơ sở lý thuyết về thuế GTGT và dự báo thuế GTGT, xây dựng, ứng dụng các mô hình dự báo thuế GTGT phục vụ cho công tác phân tích, đánh giá, điều hành thu, chi NS và xây dựng dự toán thu NSNN hàng năm; phục vụ cho công tác đánh giá mức độ tuân thủ đối với thuế GTGT; phục vụ cho công tác hoạch định chính sách thuế GTGT. Xây dựng được các mô hình dự báo thu thuế GTGT tiên tiến, hiện đại phục vụ cho công tác dự báo thu ngân sách hàng năm, hàng quý, hàng tháng. - Nhiệm vụ: Nhiệm vụ đặt ra đối với công tác nghiên cứu đề tài là phân tích, đánh giá toàn diện về cơ sở thu thuế GTGT của Việt Nam so với chuẩn quốc tế, nguyên lý quản lý, phát sinh nguồn thu của sắc thuế GTGT của Việt Nam, nghiên cứu các quy định của chính sách, pháp luật thuế GTGT hiện hành của Việt Nam, sử dụng các kỹ thuật, mô hình dự báo hiện đại để đưa ra những nhận định, 2
  5. đánh giá về công tác quản lý thu thuế GTGT hiện nay đảm bảo tính khoa học, tiên tiến. Từ đó đổi mới công tác dự báo thu thuế GTGT. 4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của luận văn - Đối tượng nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu của Đề tài là công tác dự báo thu thuế GTGT tại Tổng cục Thuế, số thuế GTGT được sử dụng trong đề tài là tổng số thuế GTGT của ngành Thuế (tức là cộng từng số thuế GTGT của từng Cục Thuế các tỉnh, thành phố để lên tổng thể số thuế GTGT của toàn ngành thuế). - Phạm vi nghiên cứu: Các số liệu, báo cáo được sử dụng để nghiên cứu trong đề tài giới hạn trong khoảng thời gian từ năm 2011- 2018 khi mà Việt Nam chuyển từ thuế doanh thu sang áp dụng thu thuế giá trị gia tăng theo Luật thuế GTGT. 5. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu của luận văn - Phương pháp luận: Trong những năm tới định hướng đổi mới phương pháp dự báo thu thuế GTGT ở Việt Nam nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác dự báo, xây dựng dự toán và hoạch định chính sách thuế GTGT. - Phương pháp nghiên cứu: Phương pháp luận chủ yếu được sử dụng là phương pháp duy vật biện chứng và phương pháp duy vật lịch sử được thực hiện xuyên suốt trong quá trình nghiên cứu lí luận và thực tiễn liên quan đến đề tài nghiên cứu. 6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn - Đối với công tác xây dựng dự toán thu thuế: Kết quả mô hình dự báo số thu NS được sử dụng làm căn cứ để thực hiện xây dựng dự toán, thảo luận và giao dự toán thu NS hàng năm cho các địa phương. 3
  6. - Đối với công tác hoạch định chính sách: Sử dụng mô hình dự báo thuế GTGT phục vụ cho công tác hoạch định chính sách thuế GTGT đáp ứng yêu cầu điều tiết vĩ mô nền kinh tế và phát triển KTXH trong giai đoạn hội nhập và phát triển. - Đối với công tác quản lý: Kết quả của mô hình dự báo thu được sử dụng trong đánh giá mức độ tuân thủ của người nộp thuế và chất lượng công tác quản lý thu đối với thuế GTGT. 7. Kết cầu của luận văn Ngoài Phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, Luận văn được kết cấu gồm 3 chương như sau: - Chương 1: Cơ sở lý thuyết về thuế GTGT và dự báo thuế GTGT. - Chương 2: Thực trạng công tác dự báo thu thuế GTGT tại Tổng cục Thuế. - Chương 3: Định hướng nâng cao chất lượng công tác dự báo thu thuế GTGT trong thời gian tới. CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG VÀ DỰ BÁO THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG 1.1. Cơ sở lý luận chung về thuế giá trị gia tăng 1.1.1. Khái niệm: Thuế giá trị gia tăng (VAT) là một loại thuế gián thu đánh trên giá trị tăng thêm của hàng hóa, dịch vụ phát sinh trong quá trình từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng. 1.1.2. Vai trò của thuế giá trị gia tăng 1.1.2.1. Đối với thu ngân sách nhà nước: Thuế GTGT là nguồn thu quan trọng giúp đảm bảo cân đối ngân sách trung ương, góp phần đáp ứng các nhiệm vụ chi của Chính phủ. 1.1.2.2. Đối với việc điều tiết vĩ mô nền kinh tế: 4
  7. - Thuế giá trị gia tăng đã góp phần ổn định giá cả, mở rộng lưu thông hàng hoá, đẩy mạnh xuất khẩu. - Thuế GTGT khuyến khích đầu tư, thúc đẩy phát triển SXKD. - Thuế GTGT góp phần minh bạch hóa trong các giao dịch kinh tế, thúc đẩy cạnh tranh lành mạnh, thúc đẩy nền kinh tế triển lành mạnh. 1.1.3. Nguyên tắc đánh thuế của thuế giá trị gia tăng: - Chỉ đánh thuế trên phần giá trị tăng thêm của hàng hóa, dịch vụ. - Sản phẩm, hàng hoá dù qua nhiều khâu hay ít khâu từ sản xuất đến tiêu dùng, đều chịu thuế như nhau. - Không chịu ảnh hưởng bởi kết qủa SXKD của đối tượng nộp thuế. - Do người tiêu dùng chịu nhưng không phải do người tiêu dùng trực tiếp nộp mà là do người bán sản phẩm (hoặc dịch vụ) nộp thay vào NSNN 1.2. Cơ sở lý thuyết chung về dự báo thu thuế GTGT. 1.2.1. Khái niệm dự báo thu thuế GTGT Dự báo thu thuế GTGT là sự tiên đoán có căn cứ khoa học, mang tính chất xác suất về mức độ, nội dung, các mối quan hệ, trạng thái, xu hướng phát triển của số thu thuế GTGT trong 1 khoảng thời gian nhất định ở tương lai. 1.2.2. Vai trò của dự báo thu thuế GTGT - Đưa ra kết quả dự báo số thu thuế GTGT trong tương lai. - Cung cấp các cơ sở, điều kiện cần thiết cho quá trình hoạch định chính sách - Là công cụ quan trọng để đánh giá đúng chất lượng công tác quản lý thu thuế GTGT 5
  8. - Phải trung thực khách quan, không áp đặt. - Phải thừa nhận và tôn trọng mối quan hệ và tác động qua lại của các biến số tác động đến nguồn thu thuế GTGT. - Phải thể hiện được tính kế thừa lịch sử các thông tin trong quá khứ. - Phải tôn trọng đặc thù của các đối tượng, biến số được phân tích, dự báo có liên quan đến thu thuế GTGT. 1.2.3. Nguyên tắc trong dự báo thu thuế GTGT - Phải trung thực khách quan, không áp đặt, việc phân tích, đánh giá thuế GTGT phải được tiến hành một cách toàn diện, kèm theo những đánh giá xác đáng, phân định được những nhân tố ảnh hưởng khách quan, chủ quan, chính yêu và thứ yếu. - Phải thừa nhận và tôn trọng mối quan hệ và tác động qua lại của các biến số tác động đến nguồn thu ngân sách. - Phải thể hiện được tính kế thừa lịch sử các thông tin trong quá khứ. Hiểu rõ sự phát triển, vận động của thuế GTGT trong quá khứ sẽ là cơ sở để tìm ra được những nội dung mang tính quy luật, đó là cơ sở cho việc phân tích, đánh giá để xây dựng mô hình dự báo thích hợp. - Phải tôn trọng đặc thù của các đối tượng, biến số được phân tích, dự báo có liên quan đến thu thuế GTGT vì mỗi biến số phản ánh, chứa đựng một nội dung khác nhau và có đặc thù riêng của nó. 1.2.4. Các phương pháp dự báo thu thuế GTGT 1.2.4.1. Nhóm các phương pháp mô hình hóa a) Nhóm phương pháp mô hình vĩ mô: (1) Mô hình hồi quy: (2) Các mô hình dự báo thu thuế GTGT gắn kết với kinh tế vĩ mô: 6
  9. (3) Mô hình tính toán trên giá trị gia tăng của nền kinh tế: (4) Mô hình dự báo ngắn hạn theo tháng: b) Mô hình mô phỏng vi mô: c) Mô hình cân bằng tổng thể: 1.2.4.2. Nhóm phương pháp chuyên gia: 1.2.4.3. Nhóm các phương pháp kết hợp: 1.2.5. Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng công tác dự báo thu thuế GTGT - Về Quy trình dự báo: Để dự báo thu thuế GTGT đòi hỏi phải có sự tham gia của các thành phần khác nhau, trong đó cán bộ làm công tác dự báo thu thuế GTGT phải có sự độc lập trong quá trình dự báo, không chịu sự áp đặt, sức ép của các yếu tố bên ngoài. Bên cạnh đó, để đảm bảo chất lượng cho công tác dự báo cũng phải xây dựng quy trình theo nguyên tắc bố trí đủ thời lượng cho công tác thu thập, xử lý thông tin, dữ liệu đầu vào và thời lượng cho công tác phân tích, đánh giá thu. - Về phương pháp, để dự báo thu thuế GTGT hiệu quả cần áp dụng các phương pháp phù hợp với đặc điểm, điều kiện thực tế của mỗi nước về cơ sở dữ liệu, trình độ nguồn nhân lực làm công tác dự báo; - Cơ sở dữ liệu đầu vào: (1) các dữ liệu thống kê lịch sử; (2) dữ liệu dự báo về kinh tế vĩ mô trong tương lai; - Trình độ nguồn nhân lực là yếu tố quyết định đến chất lượng của công tác dự báo thu thuế GTGT; - Các nhân tố khác: (1) sự phát triển ổn định của nền kinh tế; (2) sự ổn định của cơ chế chính sách; (3) sự ổn định của quy trình quản lý. 7
  10. 1.3. Kinh nghiệm của một số quốc gia trên thế giới về phân tích, dự báo thu thuế GTGT và bài học cho Việt Nam. 1.3.1. Dự báo thu thuế GTGT trên thế giới 1.3.1.1. Tổng quan về dự báo thu thuế GTGT trên thế giới 1.3.1.2. Dự báo thu thuế GTGT tại một số quốc gia - Các nước OECD: sử dụng mô hình hồi quy thuế GTGT với các biến số kinh tế vĩ mô, mô hình I-O. - Đức: sử dụng mô hình dự báo thuế GTGT theo phương pháp tổng hợp từ tài khoản quốc gia. - Hà Lan: mô hình BIMBAM. 1.3.2. i h c cho iệt Nam - Từng bước nghiên cứu, xây dựng, phát triển các mô hình đơn giản, phù hợp với đặc điểm của Việt Nam (Tổng cục Thuế). - Ứng dụng các mô hình trong dự báo thu, hoạch định chính sách, đánh giá hiệu quả quản lý thu thuế GTGT * Kết luận chƣơng 1 CHƢƠNG 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC DỰ BÁO THU THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG TẠI TỔNG CỤC THUẾ 2.1. Hệ thống chính sách thuế GTGT của Việt Nam hiện nay Áp dụng từ 1/1/1999 thay thế cho thuế doanh thu, Luật Thuế GTGT đã dần được hoàn thiện qua một số lần sửa đổi, bổ sung vào các năm 2003, 2008, 2013, 2014, 2016 đến nay theo hướng ngày càng minh bạch, đơn giản và công bằng 2.1.1. ề đối tượng chịu thuế: 2.1.2. Căn cứ để tính thuế GTGT gồm có giá tính thuế v thuế suất: 8
  11. - Giá tính thuế; - Thuế suất: 0%; 5%; 10% đối với phương pháp khấu trừ, 1%. 2%. 5% đối với phương pháp tính trực tiếp. 2.1.3. ề phương pháp tính thuế GTGT - Phương pháp khấu trừ; - Phương pháp tính trực tiếp trên doanh thu. 2.2. Phân tích, dự báo thu thuế GTGT hiện nay tại Tổng cục Thuế 2.2.1. ị trí, vai trò của thuế GTGT trong tổng thu NSNN Thuế GTGT là khoản thu chiếm tỷ trọng lớn nhất và có xu hướng tăng dần trong tổng thu NSNN, tỷ trọng thuế GTGT trong tổng thu NSNN tăng từ 22,9% giai đoạn 2006-2010 lên 25,6% giai đoạn 2011-2015 và bình quân 24,2% trong giai đoạn 2016-2018. Quy mô số thu thuế GTGT nội địa giai đoạn 2011-2015 gấp 2,3 lần so với giai đoạn 2006-2010, giai đoạn 2016-2018 bình quân gấp 1,44 lần so với giai đoạn 2011-2015, với mức tăng trưởng thu bình quân 13%/năm. Tốc độ tăng thu thuế GTGT luôn tăng cao hơn so với tốc độ tăng của tổng thu NS tạo điều kiện thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu thu NS theo chiều hướng tích cực, cơ cấu thu NS ngày càng vững chắc. Tỷ trọng thu nội địa tính đến hết năm 2018 chiếm khoảng 75,9% tổng thu NSNN (năm 2015 là 75%, năm 2011 là 61,5%). Tỷ lệ huy động NSNN giai đoạn 2011-2015 bình quân khoảng 23,4% GDP, giai đoạn 2016-2018 bình quân đạt 25,4%). 2.2.2. Quy trình phân tích, dự báo thu thuế GTGT (1) Thu thập thông tin, phân tích, đánh giá, tình hình thu thuế GTGT: Thực hiện liên tục hàng tháng, quý, năm để phục vụ công tác quản lý, điều hành thu, làm cơ sở cho dự báo thu thuế GTGT 9
  12. (2) Định hướng dự báo thu thuế GTGT: Căn cứ chỉ tiêu kế hoạch phát triển kinh tế hàng quý, năm, kế hoạch ban hành các cơ chế, chính sách thu mới để định hướng dự báo thu (3) Thực hiện dự báo thu thuế GTGT: Sử dụng thông tin, dữ liệu có liên quan, triển khai tính toán, dự báo thu thuế GTGT bằng các công cụ, phương pháp tại các cấp của cơ quan thuế (4) Thảo luận, thẩm định, tổng hợp kết quả dự báo thu thuế GTGT để phục vụ xây dựng dự toán thu trình các cấp có thẩm quyền: Thảo luận, rà soát số liệu dự báo, tổng hợp kết quả phục vụ Bộ làm việc với các UBND, tổng hợp kết quả trình Chính phủ, Quốc hội thông qua. 2.2.3. Phương pháp phân tích, dự báo thu thuế GTGT 2.2.3.1. Phương pháp chỉ số dự báo tổng hợp: a) Phương pháp sử dụng chỉ số tỷ trọng thu thuế: b) Phương pháp sử dụng chỉ số tăng trưởng thu thuế: c) Phương pháp sử dụng chỉ số tỷ lệ điều tiết thuế trên GDP 2.2.3.2. Phương pháp dự báo vi mô: 2.3. Đánh giá công tác dự báo thu thuế GTGT tại Tổng cục Thuế hiện nay 2.3.1. Kết quả đạt được - Công tác dự báo thu thuế GTGT được thực hiện theo đúng quy định của Luật Ngân sách nhà nước và các văn bản hướng dẫn, chỉ đạo của Bộ Tài chính, có sự chỉ đạo thống nhất từ trung ương tới địa phương với quy trình dự báo thu khá chặt chẽ. Việc xác định, tính toán, dự báo nguồn thu thuế GTGT được thống nhất theo cùng chủ trương về chính sách, pháp luật thuế GTGT và phù hợp với sự phát triển kinh tế - xã hội tại từng địa bàn quản lý. 10
  13. - Công tác dự toán thu thuế GTGT được trao đổi, thảo luận chi tiết giữa các cấp chuyên môn trước khi trình Bộ Tài chính làm việc với UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương về dự báo thu chi NSNN trên địa bàn, đảm bảo tính công khai, minh bạch, tạo động lực thúc đẩy các địa phương tăng cường công tác quản lý, khai thác tăng thu ngân sách. - Số dự báo thu thuế GTGT được xây dựng có cơ sở, căn cứ, đảm bảo tính vững chắc cho ngân sách nhà nước, số thực hiện thu của cả nước hàng năm khá sát với số dự báo, góp phần tạo nguồn lực tài chính để Chính phủ thực hiện các chính sách cân đối vĩ mô, đảm bảo quốc phòng, an ninh, tăng chi cho đầu tư phát triển, giảm tỷ lệ bội chi ngân sách, đảm bảo an sinh xã hội. - Nhiều Cục Thuế đã chú trọng từng bước nâng cao chất lượng công tác đánh giá phân tích, tổ chức thu thập các thông tin có liên quan đến người nộp thuế, chỉ đạo các bộ phận chức năng trong nội bộ cơ quan thuế tăng cường phối hợp với bộ phận dự báo số thu và phối hợp chặt chẽ với các cơ quan ban ngành có liên quan tại địa phương trong công tác dự báo thu trên địa bàn. Vì vậy, những năm gần đây, công tác dự báo thu tại nhiều địa phương đã có những chuyển biến tích cực, có căn cứ rõ ràng, có tính tích cực và khả thi, số dự báo thu thuế GTGT ngày càng sát thực tế. - Bước đầu tiếp cận với các mô hình dự báo thu hiện đại, xây dựng thử nghiệm được một số mô hình dự báo tại cơ quan Tổng cục Thuế. 2.3.2. Một số hạn chế: - Kết quả dự báo thu thuế GTGT của nhiều địa phương vẫn còn chưa sát so số thuế thực tế thu được. Những năm gần đây, hệ thống dữ liệu thông tin phục vụ cho công tác dự báo thu ngày càng được bổ sung trong các phần mềm quản lý, tạo điều kiện thuận lợi 11
  14. cho việc thu thập, phân tích thông tin người nộp thuế, nên kết quả dự báo thu thuế GTGT tổng thể cả nước sát thực tế hơn, sai số trung bình chỉ còn khoảng 4%-6%. Tuy nhiên, số dự báo thu chi tiết cho từng địa phương còn chưa đồng đều, sai lệch khá lớn do những năm gần đây có những biến động lớn về giá cả thị trường, cũng như chính sách thuế GTGT đối với mặt hàng nông, lâm, thủy hải sản,... dẫn đến một số địa phương có số thực hiện thu thuế GTGT chênh lệch khá cao so với dự báo. - Tốn nhiều thời gian, nhân lực và chi phí cho công tác dự báo thu thuế GTGT: Theo quy trình dự báo thu theo Luật NSNN hiện nay, thời gian xây dựng dự toán kéo dài từ tháng 5 đến khoảng tháng 9 (gần 5 tháng), cả 3 cấp ngành thuế đều phải thực hiện thu thập rất nhiều thông tin liên quan đến thuế GTGT đối với cùng một đối tượng nộp thuế..., công việc trùng lắp, làm thủ công với 1 khối lượng thông tin thu thập rất lớn. Sau đó, cả 3 cấp ngành thuế sẽ phải tiến hành tính toán chi tiết đối với từng doanh nghiệp trọng điểm, chi tiết cho từng sản phẩm, dịch vụ hàng hoá có số nộp ngân sách lớn, vì thế đã tốn rất nhiều thời gian, công sức và kinh phí nhưng vẫn không bao quát được hết các nguồn thu do chưa rút ra được quy luật vận động, chưa xây dựng được tiêu chí có cơ sở khoa học để chọn mẫu cần tính toán chi tiết, những mẫu đối tượng nộp thuế được chọn ra để tính toán cụ thể hầu như chỉ theo tiêu chí số thuế GTGT nộp trong năm lớn. - Phương pháp dự báo thu thuế GTGT chưa đảm bảo tính khoa học, chậm đổi mới, chưa ứng dụng các mô hình dự báo thu hiện đại trong việc dự báo thu thuế GTGT. Phương pháp truyền thống này giả định rằng quy luật đã phát hiện trong quá khứ (kết quả thống kê trong vòng 3 -5 năm gần nhất) và hiện tại được duy trì trong tương lai, từ đó căn cứ vào các chính sách thuế GTGT hiện hành và sẽ ban 12
  15. hành trong kỳ dự báo, suy diễn, dự báo cho tương lai. Với cách thức tính toán như trên, phương pháp này không tính được đầy đủ, chính xác những thay đổi thu do ảnh hưởng của các yếu tố trong và ngoài nước tác động đến sự thay đổi tốc độ tăng trưởng, cấu trúc nền kinh tế trong tương lai, vì vậy, kết quả dự báo trung hạn và dài hạn chưa cao. Thậm chí ngay cả trong dự báo ngắn hạn, có năm, có địa phương số thực hiện thu thuế GTGT vẫn còn chênh lệch lớn với dự báo. Các phương pháp dự báo này chỉ phù hợp khi chính sách thuế GTGT ổn định, với một nền kinh tế trong trạng thái tĩnh, không thể áp dụng cho một nền kinh tế phong phú, đa dạng, đang phát triển và biến động không ngừng như nước ta trong giai đoạn hiện nay. Việc triển khai ứng dụng các mô hình dự báo thu mới dừng lại ở mức nghiên cứu và xây dựng thử nghiệm. Việc ứng dụng mô hình dự báo trong công tác quản lý thu thuế còn rất hạn chế do mức độ sai số cao, dữ liệu đầu vào chưa đảm bảo. - Công tác dự báo thu thuế GTGT tại Tổng cục Thuế chưa đáp ứng được yêu cầu quản lý thuế theo xu hướng cải cách hiện đại. Việc thực hiện cơ chế người nộp thuế tự tính - tự khai - tự nộp thuế và cơ quan thu quản lý thuế theo phương pháp rủi ro đặt ra yêu cầu đối với công tác dự báo thu thuế GTGT phải phân tích, đánh giá được chính xác chất lượng công tác quản lý thuế trên tất cả các mặt, các khâu quản lý thuế như chất lượng công tác đăng ký, kê khai, nộp thuế, hoàn thuế; chất lượng công tác thanh tra, kiểm tra; chất lượng công tác quản lý nợ và cưỡng chế thu nợ thuế; chất lượng công tác tuyên truyền, hỗ trợ đối tượng nộp thuế... Tuy nhiên, đến nay, Tổng cục Thuế vẫn chưa có phương pháp phân tích khoa học để đánh giá chất lượng quản lý thuế của từng địa bàn quản lý. Đây là điểm hạn chế mà công tác phân tích, dự báo thu truyền thống không thể thực hiện 13
  16. được. Trong thời gian tới, khi nền kinh tế chịu tác động bởi nhiều yếu tố bên ngoài do hội nhập quốc tế ngày càng sâu, với hệ thống chính sách thay đổi thì việc nâng cao chất lượng và hiệu quả quản lý thu thuế nói chung và quản lý thu thuế GTGT là vấn đề quan tâm hàng đầu của ngành thuế để đảm bảo nguồn thu thuế được bền vững cho ngân sách quốc gia. Để nâng cao chất lượng và hiệu quả quản lý thu thuế GTGT, cần có phương pháp phân tích định lượng để đánh giá chất lượng từng chức năng quản lý thu thuế một cách chính xác. - Công tác dự báo thu thuế GTGT chưa đáp ứng được yêu cầu trong hoạch định chính sách. Hiện tại, việc xây dựng các giải pháp, chính sách thuế nói chung và chính sách thuế GTGT nói riêng chủ yếu được thực hiện trên cơ sở các đánh giá, ước lượng có tính xu hướng, chưa định lượng được rõ ràng những tác động của các yếu tố đến số thu thuế GTGT và ngược lại, tác động của việc thay đổi chính sách thuế GTGT sẽ ban hành trong tương lai đến tăng trưởng của nền kinh tế và các sự biến đổi của chỉ tiêu kinh tế vĩ mô. Trong những năm qua, một số nội dung của chính sách thuế GTGT đã ban hành nhưng không dự đoán được phạm vi ảnh hưởng và hiệu quả do chính sách đem lại, nên vòng đời của chính sách ngắn, luôn phải điều chỉnh, sửa đổi, bổ sung; một số giải pháp đưa ra chưa chủ động, thường bị động nên hiệu quả quản lý chưa cao. - Nguồn nhân lực làm công tác dự báo thu ngân sách còn hạn chế: Tại nhiều Cục Thuế tỉnh, thành phố, số lượng cán bộ phòng Tổng hợp - Nghiệp vụ - Dự toán chỉ khoảng 9 người nhưng phải kiêm nhiệm nhiều chức năng như: tổng hợp, nghiệp vụ, dự toán, pháp chế, đất đai, hướng dẫn chính sách nghiệp vụ, phân tích, đánh giá và xây dựng dự toán thu (một số Cục Thuế chưa có phòng quản lý đất và phòng pháp chế thì phòng TH-NV-DT phải đảm nhận thêm 14
  17. các nhiệm vụ này), trong đó bộ phận làm công tác phân tích, đánh giá và xây dựng dự toán phổ biến ở các Cục Thuế có khoảng 1-2 cán bộ (Chi cục Thuế khoảng 01 cán bộ). Năng lực và trình độ về công nghệ thông tin, đặc biệt là việc khai thác, kết xuất dữ liệu trên hệ thống quản lý thuế của một số cán bộ làm công tác phân tích, dự báo còn yếu, chưa được đào tạo chuyên sâu, chuyên nghiệp. 2.3.3. Nguyên nhân: 2.3.3.1. Nguyên nhân khách quan: (1) Kinh tế là tiền đề quyết định đến việc thực hiện dự báo thu thuế GTGT. Do nền kinh tế đang trong quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường, cấu trúc nền kinh tế thay đổi nhanh. Đặc biệt, trong những năm gần đây, tình hình kinh tế thế giới và trong nước những năm qua có biến động lớn, khó lường, các dự báo kinh tế vĩ mô chưa sát với tình hình thực tế còn chịu tác động bởi ý chỉ chủ quan, chưa có sự phối hợp chặt chẽ giữa các bộ, ngành liên quan trong việc đưa ra các dự báo về các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô làm cơ sở cho việc dự báo về khả năng thu ngân sách. Trong đó một số năm không đạt được đúng như dự báo. Bên cạnh đó, Chính phủ thực hiện chủ trương tái cấu trúc nền kinh tế, cơ cấu ngành trong GDP thay đổi nhanh. Số thu thuế GTGT và tổng sản phẩm trong nước (GDP) có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế nhanh đã tác động làm sai lệch các dự báo thu thu thuế, dẫn đến là số thực hiện thu thuế GTGT chưa sát với dự báo. Bên cạnh đó, giá cả và kim ngạch xuất nhập khẩu một số hàng hoá phụ thuộc vào giá thị trường quốc tế... cũng có những tác động lớn đến kết quả dự báo thu thuế GTGT. (2) Chính sách thuế GTGT thường xuyên sửa đổi, bổ sung để phù hợp với nền kinh tế đang trong quá trình chuyển đổi; đồng thời ngăn chặn tình trạng lợi dụng để chiếm đoạt tiền hoàn thuế GTGT 15
  18. của ngân sách nhà nước. Thêm vào đó, một số chính sách thuế GTGT được ban hành trong ngắn hạn ngăn chặn suy giảm, duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế, kích cầu đầu tư, tiêu dùng; tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh, hỗ trợ thị trường và đảm bảo an sinh xã hội; đồng thời việc lồng ghép các mục tiêu KTXH vào chính sách thuế GTGT, tạo ra nhiều khó khăn cho công tác quản lý thu thuế; đồng thời cũng làm cho công tác dự báo thu thuế GTGT gặp nhiều khó khăn hơn. Do đó, rất khó tách bạch được phần nào tăng/giảm thu là do tác động của sự thay đổi chính sách và phần nào là do tác động của các biến động về kinh tế gây ra. Ngoài ra, việc thay đổi chính sách thuế GTGT còn tác động gián tiếp đến tăng trưởng kinh tế và quay trở lại, tác động đến số thu thuế,... từ đó dẫn đến việc dự báo thu thiếu chính xác. (3) Sự bất cập của hệ thống thông tin, số liệu thông tin phục vụ cho công tác phân tích dự báo thu nói chung và dự báo thuế GTGT nói riêng thường không được đầy đủ, toàn diện: Các chỉ tiêu kinh tế - xã hội, các thông tin của người nộp thuế chưa được cập nhật đầy đủ và kịp thời. Thông tin manh mún, thiếu lôgic, nhất quán do chưa được xử lý, phân tích, kiểm tra, phân loại và chuẩn hoá, vì vậy số liệu thống kê theo chuỗi thời gian chưa đảm bảo tính đồng nhất, liên tục. Ngoài ra, nhiều chỉ tiêu thống kê của ngành thuế chưa phù hợp với tiêu chuẩn thống kê quốc gia và chưa phù hợp với thông lệ quốc tế. Thông tin liên kết giữa các Bộ, ngành còn thiếu và yếu, không được đầy đủ, toàn diện, đã ảnh hưởng đến chất lượng công tác dự báo số thu. (4) Quy trình dự báo thu thuế GTGT chưa phù hợp, phức tạp, do nhiều cơ quan thực hiện, với nhiều mục tiêu, quan điểm dự báo khác nhau. Để có căn cứ trình Chính phủ, Quốc hội thông qua dự 16
  19. toán thu NSNN năm sau, các bộ phận dự báo thu phải dựa vào dự báo tình hình tăng trưởng kinh tế và các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô như giá cả, lạm phát, đầu tư,... của Bộ KH-ĐT, các chính sách điều hành lãi suất, tỷ giá của ngân hàng nhà nước... dự kiến kế hoạch phát triển kinh tế- xã hội của các địa phương, kế hoạch sửa đổi, bổ sung và ban hành các cơ chế chính sách có liên quan đến thu ngân sách của các cơ quan có thẩm quyền; kế hoạch SX-KD, đầu tư mới của các Tập đoàn, Tổng công ty, doanh nghiệp trọng điểm, ... để dự báo thu. Bên cạnh đó, thời gian dự báo số thu cho năm tiếp theo thường bắt đầu khá sớm (tháng 5 bắt đầu tính toán, xác định khả năng thu thuế của các địa phương, tháng 9 là kết thúc thảo luận, tổng hợp để trình Chính phủ) nên việc ước lượng kết quả thu năm hiện hành để làm cơ sở dự báo số thuế GTGT cho năm sau khó chính xác. Tốc độ trượt giá của một số mặt hàng (như sản phẩm lọc hóa dầu, khoáng sản,…) được dự báo có thể khác xa so với thực tế. Thời điểm bắt đầu công tác dự báo số thu thuế GTGT tại địa phương thì các chỉ tiêu kinh tế dự báo của năm sau tại địa phương làm cơ sở dự báo số thu thường chưa được công bố hoặc có nhưng chưa vững chắc. Ngoài ra, phương án dự báo số thu GTGT được tổng hợp qua nhiều cấp, nhiều cơ quan có thẩm quyền thẩm định, xét duyệt, quyết định nên mỗi cấp thẩm định, xem xét, phê duyệt cũng không có nhiều thời gian, nên dự báo thu chưa sát. (5) Quy định của Luật ngân sách Nhà nước còn một số điểm bất cập ảnh hưởng đến chất lượng công tác dự báo thu thuế GTGT như: Tính lồng ghép của việc quyết định ngân sách nhà nước qua các cấp, dẫn đến trong những năm đầu thời kỳ ổn định ngân sách, các địa phương thường xác định số dự báo thu thuế GTGT năm sau ở mức chắc chắn để từ đó xác định mức điều tiết về trung ương thấp, mức 17
  20. hỗ trợ cho ngân sách địa phương cao hơn khả năng thực tế, nhằm tăng tính chủ động trong điều hành ngân sách ở địa phương và có nguồn dự phòng để xử lý các nhiệm vụ chi đột xuất như thiên tai, dịch bệnh bất ngờ... Việc thưởng cho ngân sách địa phương từ số tăng thu ngân sách trung ương so với dự báo thu thuế, dẫn đến khi dự báo nguồn thu thuế GTGT hàng năm, các địa phương có tâm lý xác định số thu ở mức thấp để cuối năm thực hiện vượt cao, ngân sách địa phương có thêm khoản thưởng vượt thu ngân sách. 2.3.3.2. Nguyên nhân chủ quan: (1) Nhận thức về vai trò của công tác phân tích, dự báo thu ngân sách nói chung và thuế GTGT nói riêng tại Tổng cục chưa đúng và đầy đủ, chưa đánh giá đúng tầm quan trọng của công tác phân tích, dự báo thu. Dự báo thu thuế GTGT mới chỉ được dùng cho công tác lập dự toán thu ngân sách, chưa sử dụng cho công tác hoạch định chính sách và quản lý thu ngân sách. Đầu tư cho công tác phân tích, dự báo thu còn hạn chế, chưa chú trọng nâng cao năng lực và cơ sở vật chất phục vụ cho nhiệm vụ thu thập, xử lý, tổng hợp, lưu trữ và cung cấp thông tin cho hệ thống thống kê tạo cơ sở dữ liệu nguồn phục vụ cho công tác phân tích, dự báo thu. (2) Đội ngũ cán bộ làm công tác phân tích, dự báo thu ở Trung ương (cấp Tổng cục Thuế) và địa phương còn rất thiếu, phải đảm nhận thực hiện nhiều nhiệm vụ khác nhau. Tại nhiều Cục Thuế, số lượng cán bộ làm công tác phân tích, đánh giá và dự báo thu chỉ khoảng 1 - 2 người. (3) Năng lực và kinh nghiệm về phân tích, dự báo thu của cán bộ còn yếu. Cán bộ làm công tác phân tích, dự báo thu chưa được trang bị đầy đủ các kiến thức cơ bản về kinh tế học, chưa được đào tạo chuyên sâu, chuyên nghiệp về tài chính, thuế và đặc biệt chưa 18
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2