intTypePromotion=1

Tổng hợp các bài văn phân tích tác phẩm Chiếc thuyền ngoài xa Nguyễn Trung Thành

Chia sẻ: La Phong | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:5

0
305
lượt xem
63
download

Tổng hợp các bài văn phân tích tác phẩm Chiếc thuyền ngoài xa Nguyễn Trung Thành

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Một trong những cái tên nổi tiếng của làng văn học Việt Nam thời kỳ đổi mới chính là Nguyễn Minh Châu. Ông được coi là người "mở đường tinh anh và tài năng nhất". Trước năm 1975, ông là một cây bút sử thi lãng mạn, viết nhiều về đề tài người lính. Tuy nhiên, sau năm 1980, sáng tác của ông đi sâu vào cảm hứng đời tư thế sự với vấn đề đạo đức, và triết lý chân thực. Một trong những tác phẩm tiêu biểu cho phong cách ấy là "Chiếc thuyền ngoài xa". Mời các bạn cùng tham khảo nội dung chi tiết tài liệu.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Tổng hợp các bài văn phân tích tác phẩm Chiếc thuyền ngoài xa Nguyễn Trung Thành

  1. TỔNG HỢP CÁC BÀI VĂN PHÂN TÍCH TÁC PHẨM CHIẾC THUYỀN NGOÀI XA NGUYỄN TRUNG THÀNH Mẫu 1: Một trong những cái tên nổi tiếng của làng văn học Việt Nam thời kỳ đổi mới chính là Nguyễn Minh Châu. Ông được coi là người "mở đường tinh anh và tài năng nhất". Trước năm 1975, ông là một cây bút sử thi lãng mạn, viết nhiều về đề tài người lính. Tuy nhiên, sau năm 1980, sáng tác của ông đi sâu vào cảm hứng đời tư thế sự với vấn đề đạo đức, và triết lý chân thực. Một trong những tác phẩm tiêu biểu cho phong cách ấy là 'Chiếc thuyền ngoài xa'. Truyện ngắn được ra đời năm 1983, đến năm 1987 được in trong tập truyện ngắn cùng tên. Năm 1983 là thời kỳ độc lập của đất nước ta. Cuộc sống thời bình với muôn mặt của đời sống, đặt ra nhu cầu nhận thức lại về hiện thực và cuộc sống con người. Là một tác phẩm đáp ứng được nhu cầu ấy, 'Chiếc thuyền ngoài xa' đã trở thành một trong những tác phẩm xuất sắc nhất của Nguyễn Minh Châu và tiêu biểu cho cảm hứng đời tư thế sự, xu hương chung của văn học Việt Nam thời kỳ đổi mới. Truyện ngắn được chia thành ba phần. Phần một: từ đầu cho đến "lưới vó biến mất". Ở phần này, tác giả đi sâu vào kể vầ phân tích hai phát hiện của nhân vật Phùng. Phần hai: tiếp theo đến "giữa phá". Câu chuyện của người đàn bà hàng chài được kể tại đây. Phần ba còn lại. Tác giả nói về bức ảnh được chọn vào bộ lịch năm ấy. Trước tiên, truyện ngắn này có một tình huống truyện hết sức độc đáo. Ai cũng biết, tình huống là vấn đề then chốt đối với truyện ngắn. Nhà văn tìm được tình huống độc đáo sẽ khiến bạn đọc cuốn hút theo câu truyện. Tình huống chính là tình thế xảy ra câu truyện, khi nhân vật ở trong tình thế ấy sẽ bộc lộ rõ nhất bản chất, tính cách, phẩm chất của con người. Tình thế cũng có thể là bước ngoặt làm thay đổi số phận, nhận thức hoặc có khi bộc lộ ra những cốt lõi sâu thẳm tiềm ẩn trong truyện. Tình huống truyện của 'Chiếc thuyền ngoài xa' là tình huống nhận thức. Đây là một tình huống bất ngờ và đầy nghịch lý. Tình huống của truyên được thể hiện qua hai phát hiên của nghệ sĩ nhiếp ảnh Phùng. Tình huống đã giúp Phùng nhận ra được nhiều điều về cuộc sống, con người và nghệ thuật. Cuộc đời vốn chứa đựng nhiều mâu thuẫn, bất ngờ và đầy nghịch lý. Cần đến gần cuộc sống để khám phá sự thực bên trong và chiều sâu bản chất. Cần có cái nhìn đa diện nhiều chiều để hiểu rõ bên trong số phận và tâm hồn con người. Nghệ thuật phải luôn gắn liền với cuộc sống thì mới có ý nghĩa. Đi vào phần một của truyện là một cảnh sắc thiên nhiên đẹp thơ mộng. Phùng đã chụp được một "cảnh đất trời cho": một chiếc thuyền lòe nhòe trong sương sớm với ánh mặt trời ban mai hồng hồng. Một bức tranh mực tàu của danh họa thời cổ. Đứng trước cảnh đẹp ấy, người nghệ sĩ thấy tim mình như có gì đó "bóp thắt vào". Người nghệ sĩ cảm thấy tràn ngập niềm hạnh phúc, anh thấy được cảm xúc trong ngần của tâm hồn, cảm nhận được chân- thiện -mĩ của cuộc đời. Anh cảm thấy tâm hồn mình được thanh lọc trở nên trong trẻo và thanh khiết. Thông qua cảm xúc của nhân vật Phùng, tác giả đưa ra quan niệm về cái đẹp. Cái đẹp phải có tác dụng thanh lọc tâm hồn, hướng con người đến cái chân-thiện-mĩ, cái đẹp là đạo đức. Nhưng để hoàn thiện cho quan niệm về nghê thuật của mình, Nguyễn Minh Châu đã để nhân vật của mình chứng kiến câu chuyện về cuộc đời của người đàn bà hàng chài. Đó là một con người hiện thân cho sự lam lũ đói khổ. Từ trong chiếc thuyền đẹp như mơ kia bước ra một cặp vợ chồng. Người vợ "trạc ngoài 40", "mặt rỗ", "thân hình cao lớn thô kệch", "lưng áo bạc phếch", "gương mặt lộ rõ sự mệt mỏi sau một đêm thức trắng kéo lưới". Người đàn ông "có tấm lưng rộng", khuôn mặt "độc, dữ". Cả hai người đều là hiện thân của sự nhọc nhằn, nghèo khó của người dân hàng chài. Điểm đánh chú ý chính là cảnh bạo hành của hai con người này. Người chồng thì đánh đập người vợ dã man, người vợ thì cam chịu trận đòn. Một cảnh tượng nghiệt ngã đối lập với cái cảnh đẹp như ngư phủ của con thuyền. Chính từ cảnh tượng tàn bạo ấy, tác giả đã có thể gửi gắm thông điệp của mình. Đó là cuộc sống có nhiều nghịch lý mâu thuẫn, nếu chỉ quan sát bên 1
  2. ngoài hoặc ở xa thì không thể phát hiện được sự thật bên trong nó. Cái đẹp của nghệ thuật qua ống kính của người nghệ sĩ chưa thể ddue sức mạnh để làm nên đạo đức con người trong cuộc sống. Nếu truyện ngắn chỉ dừng lại ở đây chắc chắn sẽ không đủ sức hút có thể để lại dư âm trong lòng người đọc. Chính vì thế mà những tâm sự của người đàn bà hàng chài tại tòa án huyện được viết ra. Sau khi chứng kiến cảnh bạo hành dã man bên chiếc xe tăng hỏng, Phùng đã nói với chánh án Đẩu từng là chiến hữu của anh để nhờ giúp đỡ. Người đàn bà hàng chài đã đươc chánh án Đẩu mời đến để khuyên chị li hôn với chồng. Nhưng rồi những lời tâm sự của chị đã khiến không chỉ hai chàng trai mà cả người đọc cũng phải ngỡ ngàng. Vẻ đẹp tâm hồn ẩn sâu bởi cái vẻ ngoài xấu xí của người phụ nữ ấy đã khiến chánh án Đẩu và nhân vật Phùng nhận ra được nhiều điều. Mặc dù bị đánh đập dã man "ba ngày một trận nặng, năm ngày một trận nhẹ" nhưng người phụ nữ vẫn quyết không bỏ chồng. Vì chị thương con, muốn đàn con được ăn no. Vì thương chồng vất vả mà không giúp gì được nên chịu đòn mong có thể san sẻ được với chồng. Rồi chị tự nhận lỗi về mình, chị biết ơn chồng mình. Chị chắt chiu những hạnh phúc nhỏ nhoi "trên thuyền cũng có lúc sống vui vẻ hạnh phúc". Vẻ đẹp của người đàn bà hàng chài đã đem đến cho người đọc một thông điêp, một triết lý. Đó là phải nhìn mọi việc một cách toàn diện. Nghệ thuật bắt nguồn từ cuộc sống thì cũng phải gắn liền vời cuộc sống. Kết thúc câu truyện, tác giả nhắc lại về bức ảnh chụp của nghệ sĩ Phùng nhằm nhấn mạnh sức ảnh hưởng của nó. Câu chuyện của người đàn bà hàng chài đã đi sâu vào tiềm thức của Phùng như một trải nghiệm mà mỗi khi nhìn vào bức ảnh anh lại nhớ đến nó. Với cách xây dựng tình huồng truyện đọc đáo, mới lạ, mang ý nghĩa khám phá, phát hiện về cuộc đời, và cách trao ngòi bút cho nhân vật kể chuyện( nhân vật Phùng), "Chiếc thuyền ngoài xa" đã để lại ấn tượng sâu đậm. Thành công của Nguyễn Minh Châu đã đem đến cho người đọc một tác phẩm đầy tính triết lý và chiêm nghiệm về cuộc đời, con người và cả nghệ thuật. Những triết lý luôn đúng với mọi thời đại. 2
  3. Mẫu 2: Nguyễn Minh Châu là người suốt đời đi tìm cái đẹp và cái thật, thao thiết kiếm tìm “hạt ngọc ẩn giấu trong bề sâu tâm hồn con người.” Trước 1975, Nguyễn Minh Châu được biết đến với những tác phẩm đậm chất sử thi như: Cửa sông, Miền cháy, Dấu chân người lính. Thế nhưng, sau 1975, chính Nguyễn Minh Châu lại là người đi tiên phong trong công cuộc đổi mới văn học. Chiếc thuyền ngoài xa được in năm 1983 là một bước tiến dài rất đáng trân trọng trong hành trình khám phá vào tầng chìm, vào chiều sâu của cuộc sống và con người của văn xuôi Nguyễn Minh Châu. Tình huống thắt nút của tác phẩm Tác phẩm đã chọn được một tình huống hết sức đắt giá và có ý nghĩa. Tình huống ấy chứa đựng nhiều mâu thuẫn, nhiều nghịch lí của cuộc sống. Phóng viên Phùng được giao nhiệm vụ đi chụp thêm cảnh một buổi bình minh đầy sương để bổ sung cho hoàn hảo vào bộ sưu tập chuyên đề thuỳen và biển: “ 12 tháng là 12 bức ảnh nghệ thuật về thuyền và biển.” Lặn lội hơn 600 cây số,anh đến một vùng đầm phá miền Trung xa xôi mà anh cho là rất thi mộng để săn lấy một bức ảnh hợp với ý đồ nghệ thuật của vị trưởng phòng. Bao nhiêu ngày nằm phục kích, cuối cùng anh cũng bắt gặp được một cảnh mà anh rất mãn nguyện: “có lẽ suốt một đời cầm máy ảnh chưa bao giờ tôi được thấy một cảnh “đắt” trời cho như vậy. Trước mắt tôi là một bức tranh mực tàu của một danh hoạ thời cổ”. Đó là cảnh chiếc thuyền vó của gia đình một ngư dân đang tiến vào bờ. Người nghệ sĩ nhiếp ảnh tràn ngập hạnh phúc sau khi bấm “ liên thanh” một hồi hết một phần tư cuốn phim ghi lại bức ảnh mà anh cho là “cái đẹp tuyệt đỉnh của ngoại cảnh.” Thế nhưng, chính lúc đang thăng hoa trong tột đỉnh khoái cảm nghệ thuật, người nghệ sĩ nhiếp ảnh và cả người đọc lại phải ngạc nhiên đến sững sờ trước một cảnh tượng nghịch lí đang diễn ra trước mắt. Nguyễn Minh Châu đã đưa đến cho ta một tình huống đầy bất ngờ: có ai ngờ trong cái khung cảnh mà người nghệ sĩ nhiếp ảnh nhìn thấy một sự hài hòa đến toàn bích kia, trong cái cảnh mờ sương đầy thơ mộng kia lại dần dần hiện lên một sự thực trần trụi đầy trớ trêu. Một trong những con đường để đi đến ý nghĩa của tác phẩm là phải phát hiện ra những mâu thuẫn nghệ thuật của tác phẩm. Nguyễn Minh Châu đã thực sự đặt người đọc trước một tình huống đầy vấn đề: một người đàn ông vũ phu, tàn nhẫn đến mức như không còn nhân tính; một người đàn bà cam chịu đến mức như mù quáng, vô cảm và một đứa bé với sức phản kháng dữ dội đến mức như những hành động bản năng. Rõ ràng, tình huống ấy có sức khơi gợi rất mạnh tư duy và cảm xúc của người đọc. Tình huống diễn ra bất ngờ và kì lạ đến mức trong mấy phút đầu người nghệ sĩ nhiếp ảnh chỉ biết “há mồm ra mà nhìn”. Từ tình huống ấy, ngòi bút “thâm trầm, buồn lắng, yêu thương nhưng dữ dội ” của Nguyễn Minh Châu đã tài tình hé mở cho ta đi vào cuộc sống đời thường với bao đa sự, đa đoan của nó. Nhiều người cho rằng loại tình huống mà Nguyễn Minh Châu đặt ra trong tác phẩm là tình huống nhận thức. Điều đó cũng hợp lí vì càng đi sâu vào tình huống càng cho ta ngộ ra, bừng tỉnh ra nhiều điều, những điều không tuyệt bích như một bức tranh sơn mài mù sương mà ngược lại; đầy chất muối, đầy sự mặn chát của cõi bụi trần. Từ tình huống ấy ta nhận ra bao tâm trạng, bao con người, bao vấn đề của cuộc sống. Nếu nhìn từ xa và quan sát bên ngoài thì hình ảnh người đàn ông đánh vợ hiện lên đầy hùng hổ, táo tợn và tàn nhẫn. Thế nhưng, theo dõi tâm lí, hành động của con người này mới vỡ lẽ rằng, thì ra con người thô lỗ, lạnh lùng như gỗ đá ấy cũng biểu hiện những tâm trạng, cảm xúc khiến người đọc phải suy ngẫm.Quan sát kĩ chúng ta nhận thấy vấn đề: khi cùng lội vào bờ, đôi mắt người đàn ông “lúc nào cũng dán vào tấm lưng áo bạc phếch và rách rưới, nửa thân dưới ướt sũng của người đàn bà” thế nhưng khi đã đi khuất vào sau những chiếc xe tăng hỏng thì người đàn ông mới lập tức trở nên hùng hổ, dữ tợn đến không ngờ. Trong cái thân hình hộ pháp đậm chất biển khơi kia như đang dồn nén bao gánh nặng bắt buộc phải được trút xuống, bắt buộc phải được thoát ra. Trong từng cơn giận lão trút xuống lưng người đàn bà ta nhận ra cái “giọng rên rỉ đau đớn” và câu nói đi kèm: “Mày chết đi cho ông nhờ. Chúng mày chết đi cho ông nhờ”. Câu nói cửa miệng “Mày chết đi cho ông nhờ. 3
  4. Chúng mày chết đi cho ông nhờ” giúp ta định hướng rằng, hành động vũ phu man rợ của người đàn ông không phải xuất phát từ nguyên nhân là một tội lỗi nào đó của người đàn bà mà nguyên nhân là gánh nặng cuộc sống, gánh nặng gia đình với một đàn con nheo nhóc đang đè lên vai người đàn ôn trụ cột này. Đàn con thì càng ngày càng đông đúc, nên những trận đòn ngày càng dài hơn, cay cực hơn. Người đàn ông trút bao căm hờn của tình cảnh gia đình lên đầu vợ bằng bạo lực, bằng thói vũ phu đến man rợ là điều đáng giận, đáng phê phán. Thế nhưng, qua tình huống truyện, qua cái “giọng rên rỉ đau đớn” ta nhận ra cái tình cảnh khốn cùng đến bế tắc đè nặng lên bờ vai, khối thịt vốn đã không thể đen hơn, rám nắng hơn trong sự vật lộn với biển khơi của người đàn ông vùng biển. Hình ảnh người đàn ông đánh vợ đã kì lạ nhưng hình ảnh người đàn bà câm lặng, nhẫn nhục chịu đựng đòn roi lại càng kì lạ hơn. “Ba ngày một trận nhẹ, năm ngày một trận nặng” nhưng người đàn bà ấy đã “không hề kêu lên một tiếng, không chống trả, không tìm cách chạy trốn”. Người đàn bà trót gây nên tội lỗi gì để rồi cam tâm nhận lấy sự tả giá hay chi ta tăm tối, mù quáng đến mức không còn cút ý thức? Những giả thiết ấy đều bị đánh đổ bằng những điều mà người đàn bà trình bày trước vị chánh án của vùng biển. Qua những cảnh có tính chất “mở nút” của tình huống, ta nhận chân giá trị của hình tượng, đó là những vẻ đẹp tuyệt vời nơi người phụ nữ khốn khổ ấy. Người mẹ ấy luôn cam tâm nhận lấy nỗi đau thể xác nhưng chị còn phải khốn khổ hơn với nỗi đau tinh thần. Ở trên chiếc thuyền chật chội, túng thiếu và nheo nhóc những con với cái kia; tiếng cười niềm vui hạnh phúc trở nên thật hiếm hoi. Những khi trời không yên, biển không lặng, cuộc sống trên những con thuyền ấy càng trở nên gieo neo. Thế là, bao nhiêu cay cú, uất ức, người chồng vũ phu lại trút lên đầu người đàn bà, làm như người đàn bà ấy là nguyên nhân trực tiếp gây nên sự bế tắc kia. Dù oan trái nhưng chị tự nguyện chấp nhận với một lời khẩn cầu cho con: khi con cái lớn lên hãy “đưa tôi lên bờ mà đánh.” Bà cam tâm nhẫn nhục chịu đựng chỉ mong sao đừng gây nên sự tổn thương cho những tâm hồn trẻ thơ. Trong hoàn cảnh đói khổ, quẫn bách của cuộc sống thuyền chài, suy nghĩ về sự hành xử như vậy, giàu tình thương và đức hi sinh biết bao. Có hiểu được điều đó ta mới đồng cảm với tâm trạng của người mẹ ấy khi vô tình để con trai chứng kiến cảnh bà bị người chồng đánh đập dã man sau những chiếc xe tăng cũ nát kia. Người mẹ cảm thấy: “Vừa đau đớn vừa vô cùng xấu hổ, nhục nhã ”, đau khổ vì lo lắng cho con trước rồi mới đến xấu hổ, nhục nhã cho mình. Chứng kiến những trạng thái tình cảm này không ai không cảm thấy xúc động: “miệng mếu máo gọi, người đàn bà ngồi xệp xuống trước mặt thằng bé, ôm chầm lấy nó rồi lại buông ra, chắp tay vái lấy vái để, rồi lại ôm chầm lấy”. Bên cạnh tình thương và sự hi sinh, chị còn là người biết sống và biết thấu hiểu mọi lẽ đời. Có điều, nhân hậu và vị tha biết bao nhiêu khi chị không nghĩ đến mình, chỉ thấu hiểu cho chồng và cho tương lai của đàn con đông đúc kia. Một người chồng đầy quái gỡ, nói như vị chánh án: “ba ngày một trận nhẹ, năm ngày một trận nặng. Cả nước không có một người chồng như hắn”. Thế nhưng, khi được vị thẩm phán gợi ý cho con đường giải thoát thì chị lại khẩn thiết cầu xin: “Quý toà bắt tội con cũng được, phạt tù con cũng được, đừng bắt con bỏ nó”. Cách hành xử của chị khiến Đẩu, vị bao công của cái phố huyện vùng biển, đi từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác. Chính người đàn bà có vẻ ngoài xấu xí và trái tim nặng trĩu khổ đau đã giúp anh ngộ ra bao điều. Chị nhìn suốt cả đời mình để đưa ra một chân lí, giản dị, mộc mạc nhưng thấm bao vị mặn chát của đời thường: “Đám đàn bà làng chài ở thuyền chúng tôi cần có người đàn ông để chèo chống khi phong ba, để cùng làm ăn nuôi nấng đặng một sắp con mà nhà nào cũng trên dưới chục đứa”. Nhưng cái chân lí đích thực và đẹp đẽ hơn là: “Đàn bà ở trên thuyền chúng tôi phải sống cho con chứ không thể sống cho mình như ở trên đất được”. Có lẽ chính thiên tính nữ ở người đàn bà đã giúp Đẩu, vị chánh án rành rỏi bao qui định của luật pháp “vỡ ra” bao điều cay đắng của luật đời. Bên cạnh Đẩu, người đàn bà còn để lại bao dư vị đắng cay cho người nghệ sĩ nhiếp ảnh. Tình huống khép lại nhưng bao nhận thức cuộc sống lại được mở ra. Đó là ý đồ nghệ thuật đầy tài ba của tác giả thiên truyện. 4
  5. Những hình ảnh biểu trưng và sự thức nhận đau đớn về bao giá trị sống Cùng với việc xây dựng tình huống là những hình ảnh biểu trưng có sức gợi , sức kết lắng ý nghĩa tư tưởng lớn. Trong Chiếc thuyền ngoài xa, những hình ảnh biểu tượng ẩn chứa bao ý nghĩa sâu xa và chính những hình ảnh này kết lắng và chứa đựng chủ đề tư tưởng tác phẩm. Trước hết là cảnh tượng người đàn ông đánh vợ một cách thô bạo và man rợ đằng sau những chiếc xe tăng hỏng. Trên mảnh đất đầm phá đầy tinh thần cách mạng ấy, chiến tranh đã đi qua từ lâu. Những chiếc xe tăng, chứng tích của một thời bom đạn ác liệt giờ trở thành phế tích đang dần mục sét qua năm tháng và chất muối mặn của vùng biển. Những chiếc xe rà phá bom mìn đang cố gắng thu dọn những gì còn sót lại của chiến tranh có thể vô tình gây nên nỗi đau. Thế nhưng, bên cạnh cuộc chiến đấu ấy, bên cạnh nỗi đau ấy là một cuộc chiến đấu mới, là một nỗi đau mới. Cuộc chiến đấu mới ấy còn cam go hơn, nỗi đau mới ấy mới e chừng còn dai dẳng hơn. Đó là cuộc chiến đấu với đói nghèo, với tăm tối. Trên thuyền phải có một người đàn ông dù người đàn ông đó có man rợ và tàn bạo đến đâu đi nữa. Sự khẳng định hùng hồn như chân lí của người đàn bà làm vị chánh án chỉ biết “trút một tiếng thở dài đầy chua chát”. Bên cạnh hình ảnh người đàn ông đánh vợ bên bãi xe tăng hỏng là hình ảnh người nghệ sĩ nhiếp ảnh và bức ảnh nghệ thuật về chiếc thuyền ngoài xa. Nếu cảnh người đàn ông đánh vợ đầy nghịch lí thì hình ảnh người nghệ sĩ và bức ảnh nghệ thuật lại đầy mâu thuẫn. Thực hiện ý đồ nghệ thuật của vị trưởng phòng về bộ sưu tập về thuyền và biển, người nghệ sĩ nhiếp ảnh đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Cuộc sống con người trải qua mười hai tháng trong một năm thì bộ sưu tập có mười hai bức tranh. Bức tranh thứ mười hai qua ống kính của người nghệ sĩ ấy là một cảnh toàn bích từ đường nét, ánh sáng đến bố cục. Vậy mà, cuối cùng anh đã chứng kiến những gì? Trớ trêu, trần trụi và nghịch lí đến kì cùng. Thế nhưng nó lại có đường nét, ánh sáng và lôgic, bố cục của cuộc sống hiện thực. Cùng với vị chánh án, người nghệ sĩ nhiếp ảnh cũng “vỡ ra” về “độ chênh” giữa cái đẹp của nghệ thuật được thu vào ống kính ống kính trong trí tưởng tượng bay bổng của người nghệ sĩ và dư vị đắng cay đến xót xa trong cái đa đoan của cõi đời. Mười hai bức tranh nghệ thuật về một vùng đầm phá thơ mộng, mờ sương hay mười hai tháng với bao cơn bão tố và những trận đòn tói tấp của gia đình người đàn bà khốn khổ kia. Với hình ảnh biểu tượng này, một lần nữa, Nguyễn Minh Châu thủ thỉ với người đọc rằng: cũng như vị chánh án, người nghệ sĩ cần có cái nhìn cận nhân tâm hơn. Những bức ảnh nghệ thuật và nhan đề “chiếc thuyền ngoài xa” gợi bao thức nhận đau đớn: ở đó, không phải là những giọt sương mai thơ mộng như trong tranh thuỷ mặc của một vùng quê yên bình mà là những giọt muối mặn đầy xót xa của cuộc sống trần trụi đời thường. Nghệ thuật chính là cuộc sống, người nghệ sĩ phải có góc nhìn và cự li khám phá cuộc sống gần gũi hơn, có như vậy anh mới phản ánh đúng, mới thấu hiểu được muôn sự đa đoan của cõi đời, khốn khổ đấy, đau đớn đấy nhưng đẹp đẽ vô cùng. Truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa đã thể hiện những đổi mới thành công của Nguyễn Minh Châu. Bằng việc xây dựng tình huống thắt nút và việc sử dụng những hình ảnh có sức biểu trưng lớn, tác phẩm đã đi sâu khám phá cuộc sống đời thường với bao đa sự, đa đoan thời hậu chiến. Phải có cái nhìn tinh tế, sâu sắc, Nguyễn Minh Châu mới thấu hiểu và phát hiện được những vẻ đẹp thầm lặng ẩn giấu trong tâm hồn người phụ nữ khốn khổ ấy. Tác phẩm do vậy còn cho thấy tài năng và tấm lòng người cầm bút của Nguyễn Minh Châu. 5
  6. Mẫu 3: I, Đặt vấn đề Nguyễn Minh Châu ( 1930 – 1989) người con của mảnh đất Quỳnh Lưu Nghệ An là cây bút tiêu biểu của văn xuôi Việt Nam hiện đại trong gia đình kháng chiến chống Mỹ, những sáng tác của ông mang cảm hứng sử thi và cảm hứng lãng mạn thì những năm 80 ông hướng ngòi bút về những vấn đề “ đa đoan” của cuộc sống đa sự với tâm huyết “cần phải viết vài điều cho một nền văn nghệ minh họa”, mỗi tác phẩm của ông là những ưu tư trăn trở về thân phận người thời hậu chiến Chiếc thuyền ngoài xa được sáng tác năm 1983 tiêu biểu thành công của Nguyễn Minh Châu trong thời kì đổi mới II. Thân bài 1, Cảm nhận chân dung Chiếc thuyền ngoài xa kể về chuyến đi sáng tác của nhiếp ảnh Phùng theo yêu cầu của trưởng phòng, để có được tấm ảnh biển đẹp sương mù, toàn tĩnh vật, Phùng đã chọn điểm đến là vùng biển miền Trung , chiến trường nơi anh từng chiến đấu. Sau nhiều ngày phục kích Phùng đã chụp được một cảnh đắt trời cho: chiếc thuyền ngư phủ đẹp như mơ ẩn hiện trong gam màu hồng của sương mai, nhưng khi chiếc thuyền đâm thẳng vào bờ thăng hoa vì cái đẹp nghệ thuật trong Phùng đã được thay bằng nỗi đau nhân thế. Kể từ đây người đàn bà làng chài trở thành nỗi ám ảnh với người nghệ sĩ, chiến sĩ khi ấy. 2, Người đàn bà Người đàn bà hiện lên trong cảm nhận, khám phá của quân sĩ nhiếp ảnh Phùng khi anh thể hiện chuyến đi sáng tác. Theo yêu cầu tác phẩm nghệ sĩ nhiếp ảnh Phùng đã đến vùng biển miền Trung, vốn là chiến trường trước đây anh đã từng chiến đấu, để chụp tấm ảnh cho bộ lịch năm sau với chủ đề… sau một tuần phấn kích anh đã bắt gặp được một cảnh đắt trời cho: cảnh chiếc thuyền ngư phủ đẹp như mơ hiện trong màu hồng của sương mai. Giây phút ấy anh cảm thấy tâm hồn mình như được thanh lọc, thấy mình được chạm tới chân lý của nghệ thuật “ Tôi trở nên bối rối trong trái tim như có cái gì bóp thắt vào. Chẳng biết ai đó lần đầu đã phát hiện ra bản thân cái đẹp chính là đạo đức” Ngay sau khi chiếc thuyền đâm thẳng vào bờ Phùng phải chứng kiến một sự thật đau lòng: cảnh bạo lực gia đình và người đàn bà là nhân vật chính trong câu chuyện ấy. Trong con mắt của người nghệ sĩ luôn săn tìm cái đẹp mà trước đó vừa ngất ngây vì cái đẹp hiện lên thật gần một hình ảnh “ người đàn bà chạc ngoài 40, một thân hình quen thuộc của đàn bà vùng biển, cao lớn với những đường nét thô kệch. Mụ rỗ mặt khuôn mặt mệt mỏi sau một đêm thức trắng kéo lưới, tái ngắt, dường như đang buồn ngủ. Người phụ nữ ấy gây ấn tượng về cuộc đời nhọc nhằn, lam lũ. Nhà văn đã miêu tả nhân vật của mình chân thật trong từng chi tiết khiến người đọc có cảm giác người đàn bà từ chiếc thuyền lưới vó bước thẳng vào trang giấy chứ không do dụng công miêu tả của nhà văn. Hình ảnh người chị với “ tấm áo bạc phếch có miếng vá, nửa thân dưới ướt sũng” gợi sự xót xa thương cảm. Lẽ nào trên một chiếc thuyền đẹp như trong huyền thoại ấy lại có những người khốn khổ cực nhọc vậy. – Tác giả đã dành khá nhiều chi tiết để làm nổi bật vẻ cam chịu của người đàn bà từ khuôn mặt mệt mỏi cặp mắt nhìn xuống chân. Đôi mắt ấy chứng tỏ chủ nhân của nó không được tôn trọng, phải thường xuyên sống trong sự đe dọa, bạo hành. Nếu có một đặc điểm nào đó ánh mắt ấy hướng tới thì đó là “ ngoài mặt phá nước chỗ chiếc thuyền đậu” nơi ấy có đàn con của chị. Ánh mắt như không muốn những đứa con phải chứng chứng kiến mẹ chúng bị đánh đập bởi chính người cha đẻ của chúng. Những lần xuất hiện trên bãi biển, người phụ nữ hầu như câm lặng, bị chồng thường xuyên đánh đập, hành hạ khốn khổ “ ba ngày…..năm ngày…” chị vẫn thầm lặng chịu mọi đớn đau. Sự cam chịu và nhẫn nhục của chị còn được xuất hiện khi chị xuất hiện ở tòa án “ Đẩu phải nói đến lần thứ hai, mụ mới dám đến, ngồi ghé vào mép chiếc ghế và cố thu người lại”. Nếu như có một thoáng nào 6
  7. đó người đàn bà để lộ ra cái vẻ sắc sảo chỉ đến thế, chỉ vừa đủ để kích thích trí tò mò của chúng tôi rồi lại trở về “trong phút chốc ngồi trước mắt chúng tôi vẫn là một người đàn bà lúng túng đầy sợ sệt” không phải ngẫu nhiên nhà văn lặp đi lặp lại chị tiết chị ta vái lấy vái để. Lần thứ nhất cái vái lạy đó như lời van xin của đứa con trai đừng làm điều gì dại dột với bố nó khi cậu bé cầm dao lao đến bố để bảo vệ mẹ. Lần thứ hai hành động đó được lặp lại với Đẩu vị chánh án đang ra sức bảo vệ công lý, với lời đề nghị khẩn thiết “ Quý tòa bắt tội con cũng được, phạt tù con cũng được, đừng bắt con bỏ nó” là toát lên sự đau khổ cam chịu. Theo mạch cốt trụ, người đàn bà có mặt ở tòa án theo yêu cầu của chánh án Đẩu. Tại đây chị ta đã kể lại chính cuộc đời mình để giải thích vì sao không thể bỏ gã chồng vũ phu. Từ một người cam chịu sợ sệt, người đàn bà trở nên sắc sảo đến không ngờ thay cách xưng hô “ con – quý bà” là cách đối thoại mang vẻ kể cả “ chị – các chú” khi đó đôi mắt sợ sệt bỗng trở thành đôi mắt như đang nhìn suốt cuộc đời mình chị tỏ ra người phụ nữ biết mình hiểu người. Bản thân việc lấy chồng của chị cũng không phải là việc bình thường của thời đó : “ cũng vì xấu trong phố không ai lấy tôi có mang với một anh con trai một nhà hàng chài giữa phố hay đến nhà tôi mua bả về đan lưới”. Lời tâm sự của chị dấy lên trong lòng người đọc sự đồng cảm với người phụ nữ kém may mắn từ nhỏ. Hạnh phúc với chị khó khăn chật vật đến nhường nào. Trước tòa án chị có bênh vực cho chồng, nhớ rất tốt điểm tốt của chồng để biện hộ cho anh ta “ lão chồng tôi khi ấy là một chàng trai cục tính nhưng hiền lành lắm không bao giờ đánh đập tôi”. Đói nghèo và nhận thức được tăm tối khiến người đánh mất đi nhân tính. Lão sẵn sàng trút cơn giận như lửa cháy lên người vợ “ bất kể lúc nào thấy khổ quá là lão xách tôi ra đánh cũng như đàn ông thù khác uống rượu…giá mà lão cũng uống rượu…. thì tôi đỡ khổ… sau này con cái lớn lên tôi mới xin được với lão đưa tôi lên bờ mà đánh” Nhưng chị tha thiết xin tòa đừng bao giờ bắt chị bỏ người chồng vũ phu đó vì bởi các chú không phải là người đàn bà, chưa bao giờ các chú biết thế nào là nỗi vất vả của một người đàn bà trên chiếc thuyền không có đàn ông” cuộc sống ngư dân quanh năm lênh đênh trên sóng nước phụ thuộc rất nhiều vào thiên nhiên. Thời tiết đẹp, đánh được nhiều cá thì còn có cái để ăn, có những đợt dông bão suốt hàng tháng cả nhà việc con cái toàn ăn xương rồng luộc chấm muối”. Trên thuyền phải có người đàn ông chèo chống phong ba làm chỗ dựa mỗi khi sóng to gió lớn” để cùng làm ăn nuôi nấng đặng một sắp con nhà nào cũng lớn hơn mười đứa” chị quan niệm “ đàn bà phải gánh lấy cái khổ”. Vì thế cả lời tâm tình rất thật của chị ở tòa án không có một tiếng nào chị kêu rên oán thán. Một đàn con còn nhỏ đã khiến chị quên cả bản thân mình, chấp nhận sự hành hạ của chồng về tinh thần và thân xác sẵn sàng chấp nhận cam go để nuôi con khôn lớn. niềm vui vô bờ của người mẹ thật giản đơn và cảm động biết bao: “ Vui nhất là lúc ngồi nhìn đàn con tôi chúng nó đã ăn no” những đứa con là nguồn sức mạnh to lớn giúp chị trụ vững trên con đường chông chênh. Ta hướng nỗi niềm của chị dù đau đớn xé ruột xé lòng, tủi nhục đến tận độ nhưng trong suy nghĩ giản đơn của chị vẫn lóc lên một niềm vui giản dị, bất ngờ. Tấm lòng chị là tấm lòng người mẹ chân chất chịu đựng và giàu chất hy sinh “ đàn bà thuyền chúng tôi phải sống cho con chứ không phải sống cho mình ở trên đất được” suy nghĩ ấy khiến chị đủ sức lặng lẽ chịu đựng âm thầm chịu đựng mọi nỗi khổ: “ Tình thương con cũng như nỗi đau, cũng như sự thâm trầm trong việc hiểu thấu cái lẽ đời “ hình như mụ chẳng bao giờ để lộ rõ rệt ra bên ngoài” trong đau khổ người mẹ ấy chắt chiu hạnh phúc “ nhớ đến ở trên thuyền cũng có lúc việc con cái chúng tôi sống hòa thuận, vui vẻ” những lúc nhìn đàn con được ăn no, khuôn mặt nụ cười sáng lên nụ cười hạnh phúc. Những lúc như thế không nhiều thậm chí quá ít ỏi so với những trận đòn mà như cơm bữa của chồng nó là nguồn động viên lớn lao đối với chị. Sự hòa thuận vui vẻ đó như đốm sáng lên trong cuộc đời tăm tối dài dằng dặc của chị. Hạnh phúc của cuộc đời chị dành cho chị sao khó khăn ít ỏi quá. Thấp thoáng trong chị là bóng dáng của biết bao người phụ nữ Việt Nam nhân hậu bao dung giàu lòng vị tha nhẫn lại vun đắp hạnh phúc gia đình là thấu hiểu, trải đời, yêu con. 7
  8. – Trong tác phẩm nhà văn chỉ gọi nhân vật là người đàn bà. Tác giả đã mờ hóa tên tuổi để tuổi để tô đậm một số phận. Có thể dụng ý của nhà văn là những sản phẩm như thế người ta có thể dễ dàng bắt gặp ở đâu đó trên mọi miền của tổ quốc đặc biệt là những nơi nghèo khó như vùng biển miền trung này. Được cảm nhận thông qua cái nhìn của nghệ sĩ nhiếp ảnh Phùng, nhân vật người đàn bà có vai trò quan trọng trong sự phát triển mối quan hệ nhân vật khác trong việc tấm lòng nhân đạo và quan điểm nghệ thuật của Nguyễn Minh Châu. Từ khi chị bước ra khỏi con thuyền chị đã đem đến cho Phùng những nhận thức khám phá về đời sống. Và cũng được khép lại trong những ám ảnh khôn nguôi của nghệ sĩ Phùng về người đàn bà không những bộ lịch năm ấy mà còn mãi mãi về sau, tấm ảnh chụp của tôi vẫn được treo ở nhiều nơi nhất là trong các gia đình sánh như thế nhưng mỗi lần nhìn thật lâu vào bức ảnh hoàn hảo đó Phùng lại thấy chị – người đàn bà thuyền biển lam lũ nhẫn nhịn. Chỉ là cái phần sau của cảnh mà nếu nhìn lướt sẽ không bao giờ thấy “ và nếu nhìn lâu hơn bao giờ tôi cũng thấy người đàn bà ấy đang bước ra khỏi tấm ảnh, đó là một người đàn bà vùng biển cao lớn với những đường nét thô kệch, tấm lưng áo bạc phếch có miếng vá nửa tận dưới ướt sũng, khuôn mặt rỗ đã nhợt trắng nhiều kéo lưới suốt đêm. Mụ bước những bước chậm rãi, bàn chân dẫm bước chắc chắn hòa lẫn trong đám đông” chị là như vậy khó quên tròn cuộc đời làm nghệ thuật của mình III. Kết bài Xây dựng nhân vật người đàn bà làng chài Nguyễn Minh Châu vẫn tuân thủ quan niệm về sứ mệnh của người cầm bút mà ông đã đặt ra từ thời chống Mỹ: “ viết văn là đi tìm viên ngọc ẩn trong tâm hồn người” – Với ý thức đổi mới “ cần phải viết…” nhân vật người đàn bà làng chài kết tinh những trăn trở của nhà văn về sản phẩm về người thời hậu chiến. Trong tác phẩm hơn một lần nhà văn nói đến hai cuộc cách mạng. Cuộc cách mạng giải phóng dân tộc đã thành công điều mà nhà văn trăn trở chính là: cần có một cuộc cách mạng khác, cuộc cách mạng giải phóng người nhưng đó không phải là người chung chung mà là những phận người cụ thể sâu sắc biết bao tấm lòng của Nguyễn Minh Châu. 8
  9. Mẫu 4: Nguyễn Minh Châu là người mở đường tinh anh cho thời kì đổi mới. Cả đời ông cầm bút lúc nào cũng trăn trở về số phận của con người và trách nhiệm của người nghệ sĩ với những số phận ấy. Sau thập kỉ 80 với tài năng của mình Nguyễn Minh Châu đã trở thành một người tiên phong cho văn học thời kì đổi mới. Trong giai đoạn này ông khám phá con người trong cuộc đời mưu sinh và , trong hành trình nhọc nhằn kiếm tìm hạnh phúc. Tiêu biểu cho những kiếm tìm đề tài và trách nhiệm của người nghệ sĩ là tác phẩm chiếc thuyền ngoài xa. Chiếc thuyền ngoài xa được viết vào tháng 8/ 1983, tác phẩm ra đời trong một hoàn cảnh lịch sử xã hội đặc biệt. Cuộc kháng chiến chống Mỹ kết thúc, đất nước thống nhất trong nền độc lập, nhiều vấn đề của cuộc sống trước đây do hoàn cảnh của chiến tranh chưa được đặt ra. Tác phẩm ra đời như một tất yếu khách quan, văn học phải đổi mới do những tác động của đời sống chính trị kinh tế văn hóa xã hội. Trước hết tác phẩm mở đầu bằng một bức tranh tuyệt đẹp với người nghệ sĩ Phùng. Đây là một tình huống truyện nhận thức mang tính khám phá mà qua đó ta thấy được biết bao nhiêu là điều trong cuộc sống này. Trong bộ lịch năm ấy cấp trên có giao cho Phùng đi chụp một bức ảnh thuyền và biển. Chính vì thế mà Phùng có cơ hội được đi thực tế tại vùng biển kia nơi có người bạn của mình ở đó. Khi đến đây anh bắt gặp một bức tranh tuyệt đẹp đó là hình ảnh của thuyền và biển trong sương sớm. Nhưng trong bức tranh ấy Phùng lại tìm ra hai phát hiện. Phát hiện thứ nhất là khung cảnh thiên nhiên hoàn mĩ. Người nghệ sĩ Phùng phát hiện ra một vẻ đẹp trên mặt biển mờ sương. Đó là cảnh thuyền và biển. Cảnh tượng ấy khiến cho người nghệ sĩ cảm thấy may mắn và hạnh phúc khi được chứng kiến một bức tranh tuyệt vời đến như vậy. Nó giống như “một bức tranh mực tàu của một họa sĩ thời cổ”. “Mũi thuyền in một nét mơ hồ lòe nhòe …chiếu vào”. Vài bóng người lớn lẫn trẻ con đang dần tiến vào bờ. Toàn bộ khung cảnh từ đường nét đến màu sắc ánh sáng đều hài hòa với nhau làm nên một vẻ đẹp toàn bích. Tác giả gọi đó là cảnh “đắt” trời cho, vẻ đẹp mà trong cuộc đời diễm phúc lắm may ra bắt gặp được một lần. Nghệ sĩ Phung tự nhận ra rằng cái đẹp chính là đạo đức. Trước bức tranh mực tàu ấy Phùng cảm thấy bối rối trong tim anh như có cái gì đang bóp chặt lấy. Đó là khoảnh khắc trong ngần của cuộc đời. Anh nhanh chóng nhấc máy ảnh lên và chụp lại khoảnh khắc ấy. Phải chăng cái đẹp đã thanh lọc tâm hồn anh? Thế nhưng cảnh càng đẹp bao nhiêu thì thực tế cuộc sống lại đen tối bấy nhiêu. Đó chính là phát hiện thứ hai của Phùng trước khung cảnh tuyệt vời ấy. Hiện thực nghiệt ngã của con người với số phận bất hạnh của những con người nơi đây đặc biệt là người đàn bà hàng chài hiện lên. Bước ra chiếc thuyền ngư phủ đẹp như mơ ấy là người phụ nữ xấu xí và người đàn ông hung dữ. Chính khuôn mặt nét người của họ đã nói lên phần nào cái cuộc sống khổ cực mà họ phải chịu. Người đàn bà ấy mặt thì dỗ đã quần áo thì bạc phếch như bao nhiêu sương gió nắng mưa của đất trời chiếu thẳng vào người đàn bà ấy vậy. Còn người đàn ông thì cũng chẳng hơn gì. Ông ta đi chân chữ bát và có vẻ rất hung dữ. Một cảnh tượng diễn ra khiến cho nghệ sĩ Phùng không thể nào tin vào mắt mình và cái cảnh đẹp kia bống chốc biến thành một hình ảnh vô cùng thậm tệ. Hai con người khổ sở ấy đi vào phía bãi xe tăng hỏng và thật bất ngờ trước cảnh tượng ấy. Người đàn ông rút thắt lưng ra đánh tới tấp vào mặt người đàn ông khốn khổ kia. Phùng như không tin vào mắt mình. Khi ấy một thằng bé tên Phác chính là con của hai người ấy nhảy lên đánh vào mặt bố mình. Nó thậm chí còn muốn giết ông ta. Thế rồi nó bị bố tát cho một cái và ông ta bỏ ra ngoài thuyền trước. Những giọt nước mắt của người đàn bà hàng chài nhỏ xuống lấp đầy những nốt dỗ chằng chịt kia. Với hai phát hiện ấy Phùng chợt nhận ra rằng cuộc đời không đơn giản xoay một chiều mà chứa nhiều nghịch lý ngang trái. Cuộc sống luôn tồn tại những mặt đối lập, đẹp và xấu thiện và ác. Ở đây nhà văn khẳng định đừng nhầm lẫn hiện tượng với bản chất, hình thức bên ngoài với nội dung bên trong. Khi nhìn nhận đánh giá cuộc đời thì phải có cái nhìn đa chiều nhiều phía. 9
  10. Chứng kiến cảnh ấy Phùng về nói với người bạn mình và hăng hái muốn chính quyền địa phương giải quyết vấn đề cho người phụ nữ ấy. Phùng và Đẩu đều có ý tốt mong cho người phụ nữ ấy thoát khỏi người chồng vũ phu. Người đàn bà hàng chài đến tòa án huyện theo lời mời. ban đầu chị tỏ ra rất sợ hãi khép nép sau khi nghe những phân tích và sự giúp đỡ của Đẩu thì chị bỗng bình tĩnh và thay đổi cách xưng hô không còn khép nép nữa mà nói ra những tâm sự những suy nghĩ của bản thân mình. Chính vì thế mà Đẩu và Phùng như mở ra cho mình biết bao nhiêu điều chưa biết trong cuộc sống này. Người đàn bà kể lại rằng cuộc đời mình. Trước khi thì bà cũng là một người con nhà khá giả thế nhưng sau một trận thủy đậu làm cho bà dỗ hết mặt không ai thèm lấy bà. Khi ấy ông chồng của bà lại là người làm vườn. Bố mẹ mất đi người đàn ông ấy đã cứu vớt cuộc đời của bà chính vì thế mà bà bị đánh đập nhưng cũng không nỡ bỏ người chồng đồng thời cũng là ân nhân của mình. Hiện giờ cuộc sống của bà khổ về cả vật chất lẫn tinh thần. Gia đình bà sống cùng nhau trên một con thuyền nhỏ. Con thuyền ấy vừa là phương tiện kiếm sống lại vừa chính là nhà của gia đình bà. Về tinh thần thì bà thường xuyên bị đánh đập, ba ngày một trận nhẹ năm ngày một trận nặng. Thế nhưng bà lại không hề chống lại chồng mình. bà coi một việc bị đánh là một chuyện đương nhiên. Khi nghe những lời khuyên của Đẩu và Phùng thì bà biết lòng tốt của họ nhưng bà không thể bỏ chồng được vì người chồng là chỗ dựa tinh thần lớn nhất của gia đình nhất là khi phong ba bão táp. Người đàn bà cần chồng vì còn phải nuôi những đứa con kia. Và hơn nữa trên thuyền cũng có những lúc gia đình hạnh phúc vui vẻ. Bà cho đẻ nhiều con là cái tội của mình. Từ đó cho thấy bà tuy là một người phụ nữ không học hành nhưng lại có một trái tim nhân hậu tiêu biểu cho nét đẹp tâm hồn của người phụ nữ Việt nam. Bà chấp nhận hi sinh để sống cho các con cho chồng mình. Muốn để cho chồng được hả cơn giận và lại chính cuộc sống nghèo khổ kia đã làm người chồng như thế chứ ngày xưa ông ta vốn là một người rất hiền lành. Qua đó ta cũng thấy được cuộc sống làm cho con người ta thay đổi rất nhiều. Trước những lẽ ấy thoạt đầu Đẩu và Phùng nghiêm nghị thấy bất bình nhưng về sau thì như vỡ lẽ ra nhiều điều. Cuộc sống này không chỉ sống cho riêng mình hay nó vốn là cái mình nhìn thấy trên bề nổi mà nó là phần chìm bên trong câu chuyện kia. Đó mới là cái giá trị đích thực của cuộc sống này. Từ một người đàn bà nhút nhát sợ hãi người đàn bà trở nên sâu sắc làm cho hai người đành phải để người phụ nữ ấy về với gia đình mình. Câu chuyện kết thúc khi tấm lịch năm ấy trong bức tranh thuyền và biển Phùng lại thấy một màu hồng nhỏ trong bức ảnh đen trắng ấy. Phải chăng đó chính là người phụ nữ hàng chài kia, bà hiện lên với vẻ đẹp của một tâm hồn chịu thương chịu khó hi sinh cho con mình. Tóm lại qua tác phẩm Nguyễn Minh Châu gửi đến thông điệp rằng phải nhìn mọi thứ theo đa chiều chứ không nên nhìn mọi thứ một phía. Đồng thời cần phải chống lại nạn bạo lực gia đình. 10
ADSENSE
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2