intTypePromotion=1
ADSENSE

Tổng quan tình hình nghiên cứu hình mẫu ả đào từ sử liệu

Chia sẻ: Bautroibinhyen17 Bautroibinhyen17 | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:9

30
lượt xem
3
download
 
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Bằng phương pháp sử liệu (phê khảo sử liệu), bài viết tổng kết, đánh giá việc khai thác nguồn sử liệu của những công trình nghiên cứu về ả đào - một hình mẫu văn hóa Việt Nam; kết quả nghiên cứu rút ra những ưu khuyết điểm của những công trình này, bài học kinh nghiệm trong việc tiếp cận sử liệu và những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu về ả đào.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Tổng quan tình hình nghiên cứu hình mẫu ả đào từ sử liệu

Journal of Science – 2015, Vol.5 (1), 92 – 100<br /> <br /> An Giang University<br /> <br /> TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU HÌNH MẪU Ả ĐÀO TỪ SỬ LIỆU<br /> Nguyễn Hoàng Anh Tuấn1<br /> 1<br /> <br /> NCS. Khoa Văn hóa học, Trường Đại học KHXH&NV, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh<br /> <br /> Thông tin chung:<br /> Ngày nhận bài: 12/05/14<br /> Ngày nhận kết quả bình duyệt:<br /> 04/11/14<br /> Ngày chấp nhận đăng: 03/15<br /> Title:<br /> Overview the patterns of A<br /> Dao from literature reviews<br /> Từ khóa:<br /> Ả đào, sử liệu<br /> Keywords:<br /> A Dao, historical documents<br /> <br /> ABSTRACT<br /> The article aimed to examine the patterns of A Dao - Vietnamese cultural pattern<br /> based on literature reviews. The findings also show the strengths and weaknesses<br /> towards the study of A đao as well as recommend suggestions to continue<br /> conducting the research on this issue.<br /> <br /> TÓM TẮT<br /> Bằng phương pháp sử liệu (phê khảo sử liệu), bài viết tổng kết, đánh giá việc<br /> khai thác nguồn sử liệu của những công trình nghiên cứu về ả đào - một hình<br /> mẫu văn hóa Việt Nam; kết quả nghiên cứu rút ra những ưu khuyết điểm của<br /> những công trình này, bài học kinh nghiệm trong việc tiếp cận sử liệu và những<br /> vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu về ả đào.<br /> <br /> 1. ĐẶT VẤN ĐỀ<br /> <br /> người của lịch sử.<br /> <br /> Lâu nay, việc nghiên cứu mảng đề tài liên ngành<br /> lịch sử - nghệ thuật có hai thử thách không tránh<br /> khỏi: lĩnh vực nghệ thuật đòi hỏi khả năng cảm<br /> thụ và trải nghiệm, trong khi nghiên cứu lịch sử<br /> yêu cầu phải có phương pháp khoa học. Chính vì<br /> thế, đa số các nhà chuyên môn sử học chỉ nghiên<br /> cứu những đề tài chính trị, xã hội, bỏ ngỏ lịch sử nghệ thuật cho các nhà nghiên cứu xuất thân từ<br /> giới nghệ sỹ, nghệ nhân thừa kinh nghiệm nhưng<br /> thiếu phương pháp. Đóng góp của các tài năng<br /> biểu diễn, tài năng hùng biện trong phân tích, bình<br /> giảng tư liệu lịch sử nghệ thuật tuy có sức hấp dẫn<br /> cao nhưng chưa thật sự đáng tin cậy về mặt khách<br /> quan khoa học.<br /> <br /> 2. KHÁI NIỆM VỀ “Ả ĐÀO”, “SỬ LIỆU” VÀ<br /> PHƢƠNG PHÁP LUẬN CỦA SỬ LIỆU HỌC<br /> 2.1 Ả đào là một khái niệm để chỉ chức danh<br /> của một nữ nghệ nhân hát ca trù, còn đƣợc gọi<br /> là đào nƣơng hay cô đầu.<br /> Từ cô đầu xuất hiện muộn hơn vào khoảng cuối<br /> thế kỷ XIX, nửa đầu thế kỷ XX, có người cho là<br /> "cô đầu" là từ "cô đào" bị nói trệch đi, chữ “ả” là<br /> chữ Nho có nghĩa là “cô”, ả đào có nghĩa là cô<br /> đào. "Cô đầu" lại cũng thường được dùng để chỉ<br /> những cô ca sỹ có nhiều học trò. Cô đầu thoát thai<br /> từ ả đào. “Tiếng cô thay tiếng ả cho rõ ràng, tiếng<br /> đầu thay tiếng đào để tỏ ý tán tụng bậc danh ca”<br /> (Vũ Bằng, 1971, tr. 3-5).<br /> Diễn trình lịch sử về ả đào luôn có mối quan hệ<br /> gắn bó mật thiết với lịch sử nghệ thuật ca trù.<br /> Chính vì thế, người ta còn gọi nghệ thuật ca trù là:<br /> hát ả đào, hát cô đầu, đào nương ca (nương nương<br /> ca) - hai khái niệm này có trong các thư tịch, Ôn<br /> Như Nguyễn Văn Ngọc đã sử dụng để làm tiêu đề<br /> cho tác phẩm của mình - Đào nương ca (1932).<br /> <br /> Theo giả thiết của chúng tôi: Những vấn đề về<br /> lịch sử nghệ thuật sẽ được giải quyết một cách<br /> triệt để hơn nếu ta lựa chọn được hệ thống<br /> phương pháp luận nghiên cứu phù hợp. Bài viết<br /> này là một cuộc thử nghiệm phương pháp sử liệu<br /> (phương pháp phân tích - phê khảo sử liệu)...<br /> nhằm tìm ra một hướng tiếp cận mới trong nghiên<br /> cứu người ả đào với tư cách một kiểu mẫu con<br /> <br /> 92<br /> <br /> Journal of Science – 2015, Vol.5 (1), 92 – 100<br /> <br /> An Giang University<br /> <br /> Căn cứ vào bốn không gian diễn xướng của đào<br /> nương: cung vua, đình làng (đền thần), dinh quan<br /> (tư gia) và ca quán và phương thức biểu diễn của<br /> họ, ca trù còn được gọi là hát nhà trò (hát cửa<br /> đình), hát nhà tơ (hát nhà ty, hát cửa quyền), hát<br /> thẻ (trù); ở Thanh Hóa còn gọi là hát ca công, hát<br /> gõ,… Ca trù là một thể loại hát thính phòng xuất<br /> xứ từ hát thờ (tín ngưỡng dân gian) được bác học<br /> hóa thành hát chơi (giải trí cho tầng lớp trí thức),<br /> trong đó ả đào giữ vai chính bên cạnh kép đệm<br /> đàn đáy và quan viên cầm chầu thưởng thức.<br /> <br /> khái quát tổng hợp hóa và đôi khi phải sử dụng cả<br /> khả năng phán đoán, tưởng tượng, tư duy logic…<br /> và nhất là phải nắm vững quy luật hình thành và<br /> phản ánh của sử liệu: 1- quan điểm giai cấp của<br /> tác giả với nội dung của tư liệu, 2- ảnh hưởng của<br /> hoàn cảnh lịch sử cụ thể, của nhu cầu và mục đích<br /> ra đời của tư liệu, 3- tính đúng đắn đầy đủ của tư<br /> liệu , 4- sự phụ thuộc lẫn nhau của các tư liệu.<br /> Chính vì thế, những vấn đề đặt ra trong nghiên<br /> cứu hình mẫu ả đào từ góc nhìn sử liệu học đó là:<br /> Người ả đào được phản ánh qua những tư liệu<br /> nào? (phân loại tư liệu). Đặc điểm của thời đại ả<br /> đào (nguồn gốc xuất xứ của tư liệu trực tiếp). Cái<br /> nhìn của lịch sử về ả đào từ những phương diện<br /> giai cấp và ý thức hệ tư tưởng của xã hội (độ tin<br /> cậy của các tư liệu gián tiếp).<br /> <br /> 2.2 Lịch sử với ý nghĩa là quá khứ, là một hiện<br /> thực đã qua, không còn hiện hữu, không thể<br /> nghiên cứu thực nghiệm nhƣ các đối tƣợng<br /> nghiên cứu của khoa học tự nhiên.<br /> Vì thế, sử liệu được quan niệm “là tất cả những gì<br /> mà từ đó có thể khai thác được từ những thông tin<br /> về quá khứ” đóng vai trò trung gian duy nhất giữa<br /> lịch sử và nhà nghiên cứu (C.O. Smidt, dẫn theo<br /> Phạm Xuân Hằng, in trong Kỷ yếu, 2011, tr. 32).<br /> Trường hợp những thông tin về người ả đào như<br /> một ví dụ điển hình cho vai trò của sử liệu là<br /> giảng nghĩa về cội nguồn và khởi điểm của nghệ<br /> thuật ca trù mà qua đó nhà nghiên cứu có thể lựa<br /> lọc được một ít sự thật có thể tin cậy được.<br /> <br /> 3. SỬ LIỆU NÓI GÌ VỀ Ả ĐÀO<br /> Để phục dựng lại ả đào- một hình mẫu con người<br /> của quá khứ, cần hiểu rõ quy luật chi phối nguồn<br /> sử liệu và phương thức tái tạo nguồn sử liệu.<br /> Quy luật chi phối nguồn sử liệu về ả đào<br /> Trước hết là quy luật về quan niệm hình thành sử<br /> liệu, lịch sử Việt Nam thời phong kiến là lịch sử<br /> của các triều đại, chính sử được quan tâm hơn dã<br /> sử (Chính sử là sách sử do triều đình phong kiến<br /> tổ chức biên soạn, Dã sử là sử liệu lưu truyền<br /> trong dân gian dưới dạng truyền miệng hay ghi<br /> chép trên cơ sở tài liệu lưu truyền trong nhân dân<br /> (Phan Ngọc Liên, 2010, tr. 105). Vì thế ả đào với<br /> tư cách là một nhân vật của dã sử, đã được ghi<br /> nhận một cách đại khái, mơ hồ, khó kiểm chứng<br /> về độ xác thực của tư liệu.<br /> <br /> 2.3 Tuy nhiên, giới sử học hiện đại quan niệm<br /> không nên coi lịch sử là những gì chỉ có trong<br /> tƣ liệu nếu nhƣ vậy thì lịch sử sẽ cực kỳ nghèo<br /> nàn<br /> Nhà sử học người Pháp - Lucien Fevre (18781956) đã gọi “tư liệu thư tịch”là “những bông hoa<br /> quen thuộc” khi không có chúng, nhà sử học vẫn<br /> có thể hái mật cho mình từ tất cả những gì mà trí<br /> tuệ của anh ta đưa vào tầm ngắm”- ám chỉ chính<br /> là “những gì thuộc về con người, phụ thuộc con<br /> người, phục vụ con người, thể hiện sự hiện hữu,<br /> hoạt động, sở thích và các phương thức sinh sống<br /> của con người”. Nhà sử học kiêm triết gia người<br /> Anh R. Jh. Collingwood diễn đạt một cách đơn<br /> giản hơn: “Mọi thứ trên đời đều là chứng cứ tiềm<br /> tàng của cái gì đó” (dẫn theo Nguyễn Thị Mai<br /> Hoa, Nguyễn Văn Khánh).<br /> <br /> Thứ hai là quy luật về mối quan hệ của hai đặc<br /> tính sử liệu: sử liệu trực tiếp và sử liệu gián tiếp<br /> (Sử liệu trực tiếp là sử liệu của chủ thể trực tiếp<br /> tham gia vào quá trình của sự kiện/ đối tượng, là<br /> một bộ phận của sự kiện. Thí dụ: Những bài thơ<br /> Nôm mô tả các chầu hát ả đào của những văn<br /> nhân tham gia vào cuộc hát. Sử liệu gián tiếp là sử<br /> liệu được hình thành trên cơ sở nhận thức của chủ<br /> thể trung gian khác, ra đời sau sự kiện lịch sử. Thí<br /> dụ: Những tác phẩm biên khảo tiến trình lịch sử<br /> hát ả đào). Tuy nguồn sử liệu trực tiếp (sử liệu vật<br /> chất như các văn bia, di tích, di chỉ, di vật…) có<br /> giá trị hơn nhưng nếu không tham khảo nguồn sử<br /> liệu gián tiếp (sử liệu văn viết, sử liệu truyền<br /> khẩu) thì không thể hiểu hết được ý nghĩa tiềm ẩn<br /> trong sử liệu trực tiếp (như hiểu các ý niệm biểu<br /> <br /> Mặt khác, mỗi tư liệu có cách phản ánh khác<br /> nhau, có tư liệu phản ánh một mặt, có tư liệu phản<br /> ánh nhiều mặt, có tư liệu phản ánh được quy luật<br /> cơ bản, điển hình, có tư liệu chỉ phản ánh được cái<br /> riêng, cái đặc thù. Vì vậy, phương pháp luận của<br /> sử liệu học quan niệm nhà nghiên cứu phải biết<br /> chọn lọc từ nhiều nguồn sử liệu khác nhau, phải<br /> 93<br /> <br /> Journal of Science – 2015, Vol.5 (1), 92 – 100<br /> <br /> An Giang University<br /> <br /> trưng về hình mẫu ả đào trong các điêu khắc đình<br /> làng, trong một số địa danh…).<br /> <br /> này không phải luôn luôn có giá trị tuyệt đối.<br /> Trong nguồn sử liệu trực tiếp dưới dạng chữ viết<br /> hiện đang được lưu giữ tại Viện nghiên cứu Hán<br /> Nôm, có hai tư liệu đáng ghi nhận:<br /> <br /> Sau là quy luật biến đổi sử liệu (thực trạng sao lục<br /> dối trá “tam sao thất bản”, và thiếu ý thức bảo lưu<br /> tư liệu) đã khiến cho sử liệu thành văn bị mai một.<br /> <br /> Bài thơ Nôm Đại Nghĩ bát giáp thưởng đào giải<br /> văn (Nghĩ hộ tám giáp, làm bài văn thưởng cho ả<br /> đào) soạn trước năm 1500, là tư liệu sớm nhất có<br /> hai chữ “ả đào” và “ca trù”, trong gia phả tiến sỹ<br /> Lê Đức Mao (1462-1529). Bài thơ mô tả không<br /> khí trang nghiêm của lễ hội đầu xuân ở làng Đông<br /> Ngạc - bấy giờ có 8 giáp cùng nhau thưởng đào ở<br /> đình làng và nêu rõ vai trò của đào nương là hát<br /> các bài thơ ca ngợi thành hoàng và cầu chúc cho<br /> dân làng.<br /> <br /> Mặt khác, tuy được các nhà nghiên cứu chú ý và<br /> tin tưởng hơn cả nhưng phần lớn nguồn sử liệu<br /> thành văn cũng là chép lại, thuật lại từ sử liệu<br /> truyền khẩu.<br /> Nhà nghiên cứu phải rất vất vả để nhặt nhạnh,<br /> chắp vá từng mảnh tư liệu/sự kiện rời rạc mới<br /> phác họa được một chân dung tương đối hoàn<br /> chỉnh về con người ả đào.<br /> Phương thức tái tạo nguồn sử liệu về ả đào<br /> <br /> Bài Dạ du phỏng đào nương bất ngộ (Đêm đi<br /> chơi, tìm cô đào mà không gặp) của Hoàng Nghĩa<br /> Phú (1480-?) thì cung cấp một thông tin khác cho<br /> biết ngay thời điểm có chứng cớ xác minh ca trù<br /> ra đời (thế kỷ XV) thì hình thức ca quán đã phát<br /> triển, nhu cầu giải trí đi hát ả đào của giới văn<br /> nhân đã có. Bài thơ hé mở một giả thiết lịch sử ả<br /> đào và ca trù có lẽ còn sớm hơn những gì đã được<br /> chứng minh.<br /> <br /> Trong hoàn cảnh nguồn sử liệu về ả đào rất mong<br /> manh, để tái tạo nguồn sử liệu này cần phải có tư<br /> duy suy đoán dựa trên sự am hiểu nghệ thuật,<br /> ngôn ngữ và cả sức tưởng tượng phong phú…<br /> dưới hình thức dàn dựng/ sáng tạo lại các buổi<br /> diễn xướng của ả đào, giải mã ngôn ngữ (dịch<br /> thuật) Hán - Nôm trên các tư liệu văn viết và văn<br /> khắc.<br /> Biểu hiện cụ thể của ả đào trong các nguồn sử<br /> liệu<br /> <br /> Bên cạnh đó, công trình ghi chép về lịch sử Việt Lào, “Histoire nouvelle et curieuse des royaumes<br /> de Tonquin et de Lao” (Lịch sử mới lạ của hai<br /> vương quốc Đàng Ngoài và Lào, bản dịch từ tiếng<br /> Ý sang tiếng Pháp do Francoise Célestin Le<br /> Comte, Nxb Clouzier Paris năm 1666) của giáo sỹ<br /> Marini Romain (người Ý) có đoạn miêu tả về sinh<br /> hoạt đời thường của các đào nương như cách ăn<br /> uống và kiêng sinh hoạt vợ chồng để giữ giọng<br /> hát,… Đặc biệt, tác phẩm ghi nhận hình mẫu “đào<br /> nương thuở ấy, hễ tóc đen mườn mượt, tóc dài<br /> thậm thược thì được người yêu” (dẫn theo Trần<br /> Văn Khê, 2000, tr. 397). Nhưng tác giả không lý<br /> giải dựa trên hệ giá trị, chuẩn mực hay quan điểm<br /> nhân mỹ học nào mà người ta đã đặt ra những tiêu<br /> chí như vậy.<br /> <br /> Với nguồn sử liệu truyền khẩu về ả đào, người ta<br /> quen gọi “ả đào” (đào nương) đồng nghĩa với<br /> nghệ thuật ca trù. Bởi vì, sự xuất hiện tên gọi “đào<br /> nương” hay “ả đào” có thể xem là cột mốc để truy<br /> tìm lịch sử nguồn gốc của nghệ thuật ca trù. Trong<br /> nhiều dị bản của truyền thuyết tổ nghề ca trù, các<br /> giáo phường xưa vẫn thờ Mãn Đào Hoa công<br /> chúa - con gái Bạch Đinh Xà Đại Vương, bà là<br /> một ca nương có tư chất thông minh, có giọng hát<br /> hay và tinh thông âm luật, đã đặt ra lối hát ả đào<br /> để dạy đời. Theo Đỗ Bằng Đoàn (1962, tr. 38) thì<br /> đời nhà Lê, Đinh Lễ quê làng Cổ Đạm, huyện<br /> Nghi Xuân (Hà Tĩnh) được Lý Thiết Quải và Lã<br /> Đồng Tân cho một khúc gỗ dạy làm cây đàn. Nhờ<br /> đàn, Đinh Lễ đã chữa bệnh và cưới được Hoa<br /> nương - con quan châu Thường Xuân (Thanh<br /> Hóa). Lịch triều phong tặng Đinh Lễ là Thanh Xà<br /> Đại vương và Hoa nương là Mãn Đào Hoa công<br /> chúa.<br /> <br /> Đại Việt sử ký toàn thư (1479) đề cập đến tổ chức<br /> giáo phường (trường dạy nhạc của ả đào) từ đời<br /> Lý Thái Tổ đến Ban nữ nhạc đời Lý Thái Tông<br /> (1041) khi phong trào ca múa nhạc đã lan rộng cả<br /> nước, giới ả đào ngày thêm đông, nhân đó nói về<br /> xuất xứ tên “ả đào” là thời ấy có nàng ca nhi họ<br /> Đào xinh đẹp, hát hay, thường được vua khen<br /> thưởng nên người đời mới gọi người hát hay, xinh<br /> đẹp là đào nương hay ả đào. Điều này cho thấy từ<br /> khi khai sinh khái niệm ả đào, lịch sử đã gắn liền<br /> <br /> Với nguồn sử liệu văn viết về ả đào, (1) Cần phải<br /> có kiến thức về ngôn ngữ Hán - Nôm và am hiểu<br /> về các hình thức, chức năng của sinh hoạt hát ả<br /> đào mới có thể tiếp cận, khai thác những sử liệu<br /> này; (2) Tuy rất có giá trị, nhưng nguồn sử liệu<br /> 94<br /> <br /> Journal of Science – 2015, Vol.5 (1), 92 – 100<br /> <br /> An Giang University<br /> <br /> “ả đào” với ý niệm về hình mẫu người ca nữ xinh<br /> đẹp có tài ca múa.<br /> <br /> Ngoài ra, nguồn sử liệu vật chất - những tư liệu<br /> mỹ thuật (từ những tác phẩm điêu khắc dân gian<br /> về đề tài nhạc vũ) còn cho thấy hình tượng ả đào<br /> trong không gian kiến trúc đình làng theo khuôn<br /> mẫu nghệ thuật ca trù như đang múa Bài bông,<br /> cầm đàn đáy…[Hình 1]. Các di chỉ, di tích và di<br /> vật còn sót lại cho thấy vị trí ả đào trong văn hóa<br /> dân gian như Cồn Sênh Phách, những sắc phong<br /> cho ả đào [Hình 2], những đền thờ ả đào...<br /> <br /> Công dư tiệp ký (1775) của Vũ Phương Đề, Lịch<br /> triều hiến chương loại chí (1819) của Phan Huy<br /> Chú, Đại Nam nhất thống chí - tỉnh Hưng Yên<br /> (1882) thì cùng nêu sự tích ả đào giết giặc được<br /> lập đền thờ và được lấy tên làm tên gọi của một<br /> vùng là thôn Ả Đào. Sự kiện này góp phần bổ<br /> sung ý nghĩa tài sắc, tô điểm thêm cho ả đào như<br /> hình mẫu một trang liệt nữ. Đại Việt sử ký tiền<br /> biên, khắc in dưới thời Tây Sơn (1800) hình ảnh ả<br /> đào được ghi nhận một cách gián tiếp qua những<br /> giai thoại về các hoàng hậu, quý phi xuất thân làm<br /> ca nhi - tiền thân của ả đào như: “Triệu Đà lấy vợ<br /> là con hát ở làng Dương Thâm, quận Giao Chỉ,<br /> phong làm Trình hoàng hậu”. Sau này con cháu<br /> Trình Thị đổi ra họ Trần, vẫn giữ nghiệp ca công,<br /> nên có đền thờ, hàng năm đến ngày 11 tháng chạp<br /> thì giỗ tổ.<br /> Dựa trên hình mẫu ả đào trong lịch sử, hình tượng<br /> nhân vật ả đào được xây dựng đầu tiên trong Vũ<br /> trung tùy bút của Phạm Đình Hổ, tác phẩm văn<br /> chương bằng chữ Hán đặc sắc của thời Lê mạt<br /> (cuối thế kỷ XVIII). Trong đó, Phạm Đình Hổ gọi<br /> ca trù là tục nhạc và trình bày sơ lược về sinh hoạt<br /> ca trù thời Cảnh Hưng (1740- 1786) trong hoàn<br /> cảnh âm luật bị thất truyền, vai trò ả đào (già,<br /> nhiều kinh nghiệm) được đề cao trong việc truyền<br /> lưu các bài bản tổ truyền của nghệ thuật. Ở<br /> chương “Việc tai dị”, một đoạn kể về hồn ma ả<br /> đào, câu chuyện gắn kết hình tượng văn học nghệ<br /> thuật với màu sắc văn hóa tâm linh.<br /> <br /> Hình 2. Sắc phong Đức Bà Vƣơng làng Phƣợng Cách,<br /> Quốc Oai, Hà Tây<br /> Nguồn: Đặc khảo ca trù Việt Nam, 2006, tr. 427<br /> <br /> Đặc biệt, nguồn sử liệu văn khắc (văn bia) về ả<br /> đào đối với giới nghiên cứu hàn lâm luôn là<br /> nguồn tư liệu đáng tin cậy, bởi vì: Đó là thứ “văn<br /> bản quyền uy” được viết nên để tự giới thiệu, để<br /> kể về nguồn gốc cao quý, sự nghiệp vẻ vang của<br /> giáo phường (tổ chức ả đào) cho hậu thế; Sử liệu<br /> văn bia vừa mang giá trị vật chất (lâu bền, trường<br /> tồn theo năm tháng), vừa mang giá trị tinh thần<br /> (giá trị văn hiến) cung cấp cho chúng ta sự tưởng<br /> tượng phong phú về sinh hoạt ca trù một thời<br /> vang bóng với việc mua bán “quyền hát cửa<br /> đình”, đã góp phần khắc họa rõ nét hơn con người<br /> và hình tượng ả đào trong cộng đồng nghệ thuật<br /> và cộng đồng xã hội làng xã.<br /> 4. CÁC HỌC GIẢ ĐÃ KHAI THÁC ĐƢỢC<br /> GÌ TỪ NHỮNG SỬ LIỆU VỀ Ả ĐÀO<br /> Theo hướng nghiên cứu văn bản,<br /> Từ đầu thập niên 90 - thế kỷ XX trở về trước, các<br /> học giả chỉ khai thác được thông tin về ả đào - gắn<br /> với nghệ thuật ca trù trên từ sử liệu truyền khẩu và<br /> sử liệu văn viết.<br /> Điển hình là bài Văn chương trong lối hát ả đào<br /> (Tạp chí Nam Phong, tháng 3- 1923) của Phạm<br /> Quỳnh, ngoài việc luận về giá trị văn chương<br /> trong thể hát nói, tác giả còn dành vài trang mở<br /> <br /> Hình 1.Thiếu nữ vác đàn đáy, điêu khắc gỗ tại đình<br /> Đại Phùng, huyện Đan Phƣợng (Hà Tây)<br /> Nguồn: Đặc khảo ca trù Việt Nam, 2006, tr. 531<br /> <br /> 95<br /> <br /> Journal of Science – 2015, Vol.5 (1), 92 – 100<br /> <br /> An Giang University<br /> <br /> đầu để bàn về những chuẩn mực đạo đức của lối<br /> chơi ả đào, trong đó ông bênh vực ả đào trước<br /> những định kiến xã hội. Bài “Khảo luận về cuộc<br /> hát ả đào” (Tạp chí Nam Phong, 4/1923) của<br /> Nguyễn Đôn Phục là một khảo cứu đầy đặn về<br /> một "xã hội ả đào" trước giai đoạn suy thoái, bế<br /> tắc. Qua mô tả nề nếp sinh hoạt, từ tổ chức giáo<br /> phường, hát đình, hát đám, hát thi, tác giả đã nhấn<br /> mạnh và đề cao kỷ cương, phẩm hạnh của giới ca<br /> kỹ nước nhà.<br /> <br /> những tệ nạn mà ả đào gây ra là do cấu trúc nghệ<br /> thuật và cấu trúc xã hội bị phá vỡ (nghệ sỹ và đối<br /> tượng khán giả - tầng lớp trí thức Nho học không<br /> còn nữa).<br /> Nguyễn Xuân Khoát thì đi sâu vào âm nhạc học<br /> với bài Hát ả đào (báo Ngày nay số 214 – 219,<br /> năm 1940) và Âm nhạc lối hát ả đào (TC. Thanh<br /> Nghị 1942) đặt trong sự so sánh đối chiếu với âm<br /> nhạc Tây phương, ngoài trình bày những điểm đặc<br /> biệt về việc hoà nhạc trong lối hát ả đào, tác giả<br /> còn khẳng định giá trị của lối hát ả đào trong kho<br /> tàng âm nhạc truyền thống, đồng thời đề cao giá<br /> trị nhân cách của các ca nương.<br /> <br /> Cũng theo truyền thuyết về tổ ca trù - Đinh Lễ và<br /> Bạch Hoa, Nguyễn Đôn Phục (1923) đã thừa nhận<br /> “hát ả đào phôi thai phát triển sớm lắm. Duy âm<br /> điệu thì tản mát ở dân gian, hoặc mỗi người chế ra<br /> mỗi khúc, hoặc mỗi xứ hát ra mỗi giọng, khi xưa<br /> chưa có thống nhất. Bà Mãn Đào Hoa công chúa<br /> là một thiên tài âm nhạc, tự mình chế ra khúc hát<br /> ở các nơi, đem tu bổ san thuật lại để dạy đời”.<br /> Duy Việt trong truyện Đất tổ và Phú Sơn trên tạp<br /> chí Trung Bắc chủ nhật (1943) cũng đồng quan<br /> điểm cho rằng: “lối hát ả đào đã lâu đời rồi, dù<br /> không rõ niên đại, nhưng chắc cũng chẳng sau lối<br /> hát tuồng, chèo vốn là những lối hát phát sinh từ<br /> đời Trần sơ”.<br /> <br /> Bài viết đầu tiên của Trần Văn Khê về ả đào là bài<br /> Hát ả đào cho tạp chí Bách khoa (1960) dựa trên<br /> tư liệu Dân tộc học của giáo sỹ Marini Romain để<br /> bàn về cái đẹp ngoại hình và lối sinh hoạt hằng<br /> ngày của ả đào. Với lòng ngưỡng mộ giọng hát ả<br /> đào, Trần Văn Khê đã giới thiệu đào nương<br /> Quách Thị Hồ ra diễn đàn quốc tế bằng những<br /> buổi thuyết giảng về ca trù. Tuy nhiên, những nỗ<br /> lực khoa học của Trần Văn Khê chỉ thành công ở<br /> mẫu người Quách Thị Hồ mà chưa có độ khái<br /> quát thành “hình mẫu ả đào” để làm chuẩn mực<br /> cho việc đào tạo các thế hệ đào nương sau này.<br /> Việt Nam ca trù biên khảo của Đỗ Bằng Đoàn Đỗ Trọng Huề (1962) đã góp phần khảo cứu<br /> những tác phẩm thơ và giai thoại về đào nương,<br /> đã hệ thống hóa quá trình phát triển về bề rộng<br /> của nghệ thuật ca trù gồm 4 giai đoạn: cung vua,<br /> đền thần, dinh quan và tư gia, về chiều sâu của nội<br /> dung qua 3 giai đoạn: nhạc, thơ và sắc "theo đúng<br /> hệ thống giai tầng của xã hội Việt Nam cũ... đã<br /> khai thác tất cả những khía cạnh có thể có của một<br /> ngành nghệ thuật". Như vậy, hai tác giả này đã<br /> thừa nhận ả đào như một thành tố trong nghệ thuật<br /> (sắc) và như một thành tố trong hệ thống giai tầng<br /> xã hội.<br /> <br /> Đào nương ca (1932) của Ôn Như Nguyễn Văn<br /> Ngọc góp phần thống kê các bài hát nói theo từng<br /> chủ đề, từ đó khẳng định mối quan hệ đào - khách<br /> trong nghệ thuật “làng chơi làm sao thì nhà nghề<br /> làm vậy” có tính quyết định sự tồn tại của nghề ả<br /> đào và nghệ thuật ca trù.<br /> Trên địa hạt sáng tác lẫn nghiên cứu, tiêu biểu là<br /> tác phẩm Lục xì (1937) - thiên phóng sự của Vũ<br /> Trọng Phụng ghi nhận những nhận định về nạn<br /> phong tình của đào rượu những năm đầu thế kỷ<br /> XX. Tạp chí Trung Bắc chủ nhật năm 1942 đăng<br /> loạt bài của Vũ Tri Quang Hát ả đào ngày nay<br /> hay là một cuộc bể dâu, bài của Hồng Lam Nạn<br /> hoa liễu do các nhà cô đầu gây ra và bài của Văn<br /> Hạc Hát ả đào ngày xưa là một thú phong nhã<br /> không phải dành cho quan viên vô học… Bên<br /> cạnh giá trị thông tin thực tế từ những phóng sự<br /> này mang lại, thì mặt trái của nó là đã góp phần<br /> vào cái nhìn ác cảm đối với ả đào như một tệ nạn<br /> xã hội cần phải nhanh chóng loại trừ. Đến phóng<br /> sự của Ngô Tất Tố và Vũ Bằng thì cái nhìn về ả<br /> đào có vẻ thiện cảm hơn. Trong bài viết Lá đơn<br /> của mấy nhà cô đầu ở Ngã tư sở gửi lên cụ<br /> thượng Vi, báo Xuân Trào Thời vụ số 47,<br /> 22.7.1938, Ngô Tất Tố mượn lời văn châm biếm<br /> để nói hộ cho ả đào, tác giả cho rằng nguyên nhân<br /> <br /> Theo tư liệu của dân tộc học, Lê Văn Hảo với bài<br /> Vài nét về sinh hoạt của hát ả đào trong truyền<br /> thống văn hóa Việt Nam (tạp chí Đại học, 1963)<br /> đã đề cập đến vấn đề địa vị ả đào trong lịch sử xã<br /> hội Việt Nam qua các giai đoạn từ thế kỷ XV đến<br /> đầu thế kỷ XX; nghệ thuật và sinh hoạt của ả đào<br /> trong văn hóa và phong tục Việt Nam qua hai<br /> hình thức sinh hoạt của nghệ thuật này ở giai đoạn<br /> biến chất và đặc biệt nhấn mạnh giai đoạn phát<br /> triển lành mạnh, chính đáng của hát ả đào trong<br /> truyền thống văn hóa dân gian, nhấn mạnh nguồn<br /> gốc dân gian của hình mẫu ả đào.<br /> 96<br /> <br />
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2