intTypePromotion=3

Tổng quan về các nghiên cứu liên quan lĩnh vực xạ trị qua các hội thảo phòng chống ung thư Thành phố Hồ Chí Minh từ năm 1998 đến 2009

Chia sẻ: Trần Thị Hạnh | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:9

0
2
lượt xem
0
download

Tổng quan về các nghiên cứu liên quan lĩnh vực xạ trị qua các hội thảo phòng chống ung thư Thành phố Hồ Chí Minh từ năm 1998 đến 2009

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Nghiên cứu được thực hiện với mục tiêu nhằm khảo sát các chủ đề, thiết kế và phương thức báo cáo của các nghiên cứu trong nước liên quan lĩnh vực xạ trị để góp phần nâng cao chất lượng của các công trình trong tương lai. Và nghiên cứu tổng quan không hệ thống sử dụng các nghiên cứu nguyên thủy được đăng trong hội thảo phòng chống ung thư TP Hồ Chí Minh từ năm 1998-2009.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Tổng quan về các nghiên cứu liên quan lĩnh vực xạ trị qua các hội thảo phòng chống ung thư Thành phố Hồ Chí Minh từ năm 1998 đến 2009

Tổng quan<br /> <br /> Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 14 * Phụ bản của Số 4 * 2010<br /> <br /> TỔNG QUAN VỀ CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN LĨNH VỰC XẠ TRỊ QUA CÁC HỘI<br /> THẢO PHÒNG CHỐNG UNG THƯ TP HỒ CHÍ MINH TỪ NĂM 1998 ĐẾN 2009<br /> Cung Thị Tuyết Anh*, Hồ Văn Trung*, Trần Thị Xuân*, Phạm Thị Thùy Trang*,<br /> Nguyễn Quốc Điền*, Lê Văn Đạt Nhân*, Nguyễn Quốc Bảo*, Phạm Thế Vinh**<br /> TÓM TẮT<br /> Mục tiêu: Khảo sát các chủ đề, thiết kế và phương thức báo cáo của các nghiên cứu trong nước liên quan lĩnh vực xạ<br /> trị để góp phần nâng cao chất lượng của các công trình trong tương lai.<br /> Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu tổng quan không hệ thống sử dụng các nghiên cứu nguyên thủy được đăng<br /> trong Hội thảo Phòng chống Ung thư TP Hồ Chí Minh từ năm 1998 - 2009.<br /> Kết quả: 128 trong số 1093 bài toàn văn được chọn để khảo sát. Phần lớn công trình là nghiên cứu loạt ca đánh giá<br /> vai trò của xạ trị triệt để trong điều trị ung thư đầu cổ, phụ khoa, và vú. Thông tin về phương pháp xạ trị, đánh giá hiệu<br /> quả, khả năng dung nạp, và các yếu tố ảnh hưởng lên kết quả điều trị cần được bổ sung trong hơn nửa số bài đăng. Việc<br /> sử dụng phương pháp thống kê phù hợp và diễn giải kết quả hợp lý cũng cần được các tác giả quan tâm.<br /> Kết luận: Thiết kế và chất lượng báo cáo của các nghiên cứu còn có thể được cải thiện nhiều mặc dù đã có một số dấu<br /> hiệu tiến bộ trong 5 năm gần đây.<br /> Từ khóa: Xạ trị, chất lượng báo cáo, tổng quan, Việt Nam.<br /> ABSTRACT<br /> <br /> OVERVIEW ON STUDIES INVOLVING RADIOTHERAPY REPORTED AT THE HO CHI<br /> MINH CITY ANNUAL CONFERENCE ON CANCER PREVENTION AND CONTROL FROM<br /> 1998 - 2009<br /> Cung Thi Tuyet Anh, Ho Van Trung, Tran Thi Xuan, Pham Thi Thuy Trang,<br /> Nguyen Quoc Dien, Le Van Dat Nhan, Nguyen Quoc Bao, Pham The Vinh<br /> * Y Hoc TP. Ho Chi Minh – Vol.14 - Supplement of No 4 – 2010 : 23 - 31<br /> Objective: To examine the topics, designs, and reporting adequacy of local publications involving radiotherapy in<br /> order to improve the quality of future studies.<br /> Method: A non - systematic review of original articles published at the Ho Chi Minh City Annual Conference on<br /> Cancer Prevention and Control from 1998 to 2009.<br /> Results: Out of 1093 full - text articles, 128 studies were selected for assessment. The majority of these were case<br /> series investigating the role of radiotherapy with curative intent for head and neck, gynecological, and breast cancer.<br /> Information on radiation methods, efficacy evaluation, tolerability, and outcome-related factors should be supplemented in<br /> over half of the sample. Appropriate use of statistical methods and proper interpretation of findings also deserve particular<br /> attention.<br /> Conclusion: The designs and reporting quality of local studies on radiotherapy can be substantially improved<br /> although there was suggestive evidence of progress during the last five years.<br /> Key words: Radiotherapy, reporting quality, review, Viet Nam.<br /> <br /> *<br /> <br /> Bệnh viện Ung bướu, ** Đại học Y Dược TP.HCM<br /> Địa chỉ liên lạc: TS. Cung Thị Tuyết Anh. Email: tuyetanh_cung@yahoo.com<br /> <br /> Chuyên ñề Ung Bướu<br /> <br /> 23<br /> <br /> Tổng quan<br /> <br /> Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 14 * Phụ bản của Số 4 * 2010<br /> <br /> ĐẶT VẤN ĐỀ<br /> Ung bướu học phóng xạ, thường được gọi vắn tắt là xạ trị, là chuyên khoa y học lâm sàng sử<br /> dụng bức xạ ion hóa để điều trị ung thư. Kể từ khi Roentgen phát minh ra công cụ tạo được tia X<br /> vào thập niên cuối của thế kỷ 19, cơ sở khoa học của xạ trị đã không ngừng được nghiên cứu và<br /> làm rõ nhờ sự phát triển của chuyên ngành sinh học phóng xạ và các ngành khoa học có liên<br /> quan(2). Khả năng ứng dụng xạ trị vào thực hành lâm sàng ngày càng được mở rộng dựa trên<br /> chứng cứ từ các nghiên cứu lâm sàng qui mô.<br /> Khoảng 50% số bệnh nhân bị ung thư sẽ cần đến xạ trị ngoài trong quá trình bệnh của họ(6).<br /> Việt Nam là nước đang phát triển trên đà công nghiệp hóa và bệnh ung thư hiện nay đã trở<br /> thành gánh nặng thực sự cho đất nước. Hàng năm, có hơn 150.000 trường hợp ung thư mới được<br /> phát hiện trên toàn quốc(9), trong đó các loại ung thư hàng đầu là: Ung thư gan, phổi, dạ dày, đại<br /> trực tràng, vú, cổ tử cung, và vòm hầu(8). Trừ ung thư gan, tiên lượng của các loại ung thư trên<br /> đều có thể được cải thiện nhờ liệu pháp đa mô thức trong đó có xạ trị.<br /> Các công trình nghiên cứu nổi bật về điều trị bệnh ung thư ở nước ta thường được báo cáo<br /> tại các hội thảo Phòng Chống Ung Thư trên toàn quốc, trong đó, Hội thảo hàng năm tại TP Hồ<br /> Chí Minh là diễn đàn trao đổi đúc kết kinh nghiệm có qui mô lớn và đã được tổ chức 12 kỳ kể từ<br /> năm 1998. Việc điểm lại các thành tựu nghiên cứu trong nước liên quan lĩnh vực xạ trị sẽ góp<br /> phần định hướng cũng như nâng cao chất lượng thực hiện và báo cáo cho các công trình trong<br /> tương lai. Nghiên cứu của chúng tôi được thực hiện với mục đích này và tập trung khảo sát y<br /> văn được đăng tại các kỳ Hội thảo Phòng chống Ung thư TP Hồ Chí Minh từ năm 1998 đến 2009.<br /> ĐỐI TƯỢNG PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU<br /> Đối tượng nghiên cứu<br /> Các nghiên cứu liên quan đến lĩnh vực xạ trị được đăng tải trong các số Phụ bản chuyên đề<br /> Ung bướu học dành cho Hội thảo Phòng Chống Ung thư TP Hồ Chí Minh từ năm 1998 đến 2009<br /> được chọn dựa trên các tiêu chí: (1) nghiên cứu nguyên thủy trên bệnh nhân ung bướu được<br /> đăng toàn văn; (2) đề cập đến xạ trị hoặc vấn đề liên quan xạ trị trong ít nhất 3 phần chính của<br /> bài; (3) tỷ lệ bệnh nhân được xạ trị ít nhất là 25% và có đủ thông tin về kết quả xạ trị. Các công<br /> trình về y học hạt nhân không được đưa vào nghiên cứu.<br /> Phương pháp nghiên cứu<br /> Đây là nghiên cứu tổng quan y văn trong nước mang tính mô tả, không hệ thống. Các bài<br /> đăng trong 12 số Phụ bản được chọn bằng cách rà soát tựa và tóm tắt (đối với nghiên cứu về chẩn<br /> đoán, dịch tễ học, kỹ thuật ngoại khoa), hoặc đọc toàn văn (đối với nghiên cứu điều trị) kết hợp<br /> với tiêu chí chọn bài. Thông tin chọn lọc từ các nghiên cứu được điền vào phiếu thu thập dữ liệu<br /> với phần lớn các mục được mã hóa.<br /> Số liệu thống kê mô tả được trình bày dưới dạng tần số, tỷ lệ, trung vị và khoảng tứ phân vị<br /> đi kèm. Phân tích so sánh thăm dò sẽ được tiến hành đối với một số đặc tính của nghiên cứu giữa<br /> hai giai đoạn trong 5 năm gần đây và thời kỳ trước đó nhờ phép kiểm Chi bình phương với<br /> ngưỡng ý nghĩa là 0,05. Phần mềm thống kê STATA phiên bản 8 được sử dụng trong quá trình<br /> nhập và phân tích số liệu.<br /> KẾT QUẢ<br /> Số công trình, chủ ñề, và thiết kế nghiên cứu<br /> Từ 1093 bài toàn văn, chúng tôi chọn được 128 công trình thỏa tiêu chí để đưa vào phân tích.<br /> Tỷ lệ bài hàng năm liên quan đến lĩnh vực xạ trị nằm trong khoảng 8% đến 20% tổng số bài toàn<br /> văn, bắt đầu tăng đến trên 10% kể từ năm 2000. Bảng 1 tóm tắt sự phân bố các chủ đề nghiên cứu<br /> trong mẫu khảo sát. Hầu hết nghiên cứu (90%) đánh giá vai trò của xạ trị trong điều trị ung<br /> <br /> Chuyên ñề Ung Bướu<br /> 24<br /> <br /> Tổng quan<br /> <br /> Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 14 * Phụ bản của Số 4 * 2010<br /> <br /> bướu, trong số này chỉ có 2 đề tài khảo sát bướu lành là bướu sọ hầu và ađênôm tuyến yên. Thiết<br /> kế nghiên cứu loạt ca thường được áp dụng nhất (71%) trong khi thử nghiệm lâm sàng chiếm<br /> 16% và số còn lại bao gồm nghiên cứu đoàn hệ hồi cứu, cắt ngang, và báo cáo ca bệnh. Có 77%<br /> công trình hồi cứu hồ sơ bệnh án và 21% đánh giá bệnh nhân tiền cứu.<br /> Bảng 1. Phân bố nghiên cứu theo chủ đề trong các phụ bản<br /> Chủ ñề<br /> <br /> Số nghiên cứu<br /> n (%)<br /> <br /> Đầu cổ<br /> <br /> 43 (33,6)<br /> <br /> Phụ khoa<br /> <br /> 26 (20,3)<br /> <br /> Tổng quát<br /> <br /> 18 (14,1)<br /> <br /> Vú<br /> <br /> 13 (10,2)<br /> <br /> Phổi<br /> <br /> 7 (5,5)<br /> <br /> Tiêu hóa<br /> <br /> 6 (4,7)<br /> <br /> Huyết học<br /> <br /> 4 (3,1)<br /> <br /> Nhi<br /> <br /> 4 (3,1)<br /> <br /> Niệu<br /> <br /> 3 (2,3)<br /> <br /> Điều dưỡng/chăm<br /> sóc giảm nhẹ<br /> <br /> 3 (2,3)<br /> <br /> Giải phẫu bệnh<br /> <br /> 1 (0,8)<br /> <br /> Tổng số<br /> <br /> 128 (100)<br /> <br /> Bệnh và ñối tượng bệnh nhân trong nghiên cứu<br /> Đa số bài nêu rõ mục tiêu nghiên cứu (84%) và tiêu chí chọn bệnh nhân (87%). Tổng cộng có<br /> 29 bệnh lý chuyên biệt và 4 nhóm bệnh lý được khảo sát, đứng đầu là các ung thư/bướu vùng<br /> đầu cổ, ung thư cổ tử cung, và ung thư vú (Bảng 2). Có 108 nghiên cứu tập trung khảo sát một<br /> bệnh lý, trong đó 101 công trình đánh giá vai trò xạ trị. Tỷ lệ nghiên cứu bệnh giai đoạn sớm<br /> thuần túy chiếm 12%. Có 4 công trình xạ trị chuyên biệt trên bệnh nhi. Cỡ mẫu trung vị của các<br /> nghiên cứu là 95 (giới hạn từ 1 – 7039; khoảng tứ phân vị: 50 - 174 và cơ sở lý luận để tính cỡ mẫu<br /> được trình bày trong 4 công trình.<br /> Bảng 2. Bệnh và giai đoạn bệnh được khảo sát<br /> Bệnh và giai ñoạn<br /> <br /> Số nghiên<br /> cứu<br /> n (%)<br /> <br /> Ung thư cổ tử cung<br /> Ung thư hoặc bướu ñầu cổ không<br /> phải vòm hầu<br /> Ung thư vú<br /> Ung thư vòm hầu<br /> Ung thư phổi<br /> Lymphôm<br /> Ung thư trực tràng<br /> <br /> 24 (18,8)<br /> 22 (17,2)<br /> 13 (10,2)<br /> 12 (9,4)<br /> 7 (5,5)<br /> 7 (5,5)<br /> 4 (3,1)<br /> <br /> Mọi giai ñoạn<br /> <br /> 64 (50,0)<br /> <br /> Chuyên ñề Ung Bướu<br /> <br /> 25<br /> <br /> Tổng quan<br /> <br /> Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 14 * Phụ bản của Số 4 * 2010<br /> Tiến xa hoặc di căn<br /> Sớm<br /> Tái phát<br /> Không nêu/không chia giai ñoạn<br /> <br /> 29 (22,7)<br /> 15 (11,7)<br /> 4 (3,1)<br /> 16 (12,5)<br /> <br /> Phương pháp xạ trị trong các nghiên cứu<br /> Có 109 công trình liên quan đến xạ trị triệt để với xạ trị ngoài chiếm đa số (73%), kế đến là xạ<br /> trị ngoài phối hợp xạ trị trong (21%). Năm mươi ba nghiên cứu cho biết loại máy xạ trị sử dụng,<br /> với máy Cobalt - 60 chiếm ưu thế so với máy gia tốc thẳng, dao gamma, và xạ trị trong suất liều<br /> cao. Thông tin về tổng liều và phân liều xạ trị được cung cấp trong 52 bài.<br /> Tỷ lệ nghiên cứu điều trị ung bướu có sử dụng xạ trị kết hợp với các mô thức khác là 84%.<br /> Cách kết hợp tương đối đa dạng, trong đó xạ trị sau phẫu trị, xạ trị sau hóa trị, và hóa - xạ trị<br /> đồng thời là 3 chọn lựa hàng đầu. Trong 68 nghiên cứu sử dụng xạ trị bổ túc và/hoặc tiền phẫu,<br /> có 10 nghiên cứu cung cấp thông tin về khoảng thời gian giữa xạ trị và phẫu thuật. Mười chín<br /> nghiên cứu áp dụng hóa - xạ trị đồng thời, với cisplatin là hóa trị phổ biến nhất và số chu kỳ dao<br /> động từ 2 đến 6 tùy theo bệnh. Cách giảm liều hóa trị khi xảy ra độc tính trung bình/nặng khi<br /> dùng hóa - xạ trị đồng thời chưa được đề cập trong toàn bộ số công trình liên quan.<br /> <br /> Báo cáo về kết quả ñiều trị trong các nghiên cứu<br /> Đánh giá đáp ứng<br /> Trong 77 nghiên cứu có đánh giá đáp ứng bướu với xạ trị, có 33 nghiên cứu nêu rõ tiêu chí<br /> đánh giá đáp ứng như tiêu chí của Tổ chức Y tế Thế giới hoặc Tiêu chí Đánh giá Đáp ứng trong<br /> Bướu đặc (viết tắt là RECIST). Năm mươi ba nghiên cứu báo cáo tỷ lệ đáp ứng hoàn toàn, và 34<br /> nghiên cứu có số liệu đáp ứng một phần kèm theo.<br /> Đánh giá sống còn<br /> Năm mươi mốt nghiên cứu có áp dụng phương pháp Kaplan - Meier để phân tích sống còn<br /> trên mẫu nghiên cứu. Sống còn toàn bộ được khảo sát trong phần lớn các nghiên cứu (88%) và<br /> 82% nghiên cứu báo cáo tỷ lệ sống còn ở mốc 3 năm trở lên. Thời gian sống còn trung bình được<br /> báo cáo trong 12 nghiên cứu và sống còn trung vị trong 6 nghiên cứu.<br /> Lịch theo dõi bệnh nhân trong quá trình điều trị được mô tả trong 20 nghiên cứu và cách<br /> đánh giá lâm sàng và cận lâm sàng trong 28 nghiên cứu. Hai mươi ba nghiên cứu báo cáo thời<br /> gian theo dõi trung bình và 5 nghiên cứu dùng số trung vị. Trong các nghiên cứu có phân tích<br /> sống còn, có 15 nghiên cứu (29%) cho biết tỷ lệ bệnh nhân theo dõi được.<br /> Đánh giá sự tuân trị và độc tính điều trị<br /> Tỷ lệ bệnh nhân hoàn tất liệu trình xạ trị chỉ được báo cáo trong 19 nghiên cứu. Trong 15 thử<br /> nghiệm lâm sàng về xạ trị, có 5 công trình cho biết tỷ lệ trên. Sáu mươi lăm nghiên cứu có đánh<br /> giá độc tính của xạ trị, trong đó 24 nghiên cứu đề cập đến tiêu chí đánh giá độc tính và trình bày<br /> độc tính theo phân độ chuẩn. Trong số 16 nghiên cứu khảo sát hóa - xạ trị đồng thời trên một loại<br /> bệnh, không có nghiên cứu nào báo cáo cường độ liều hóa trị đạt được trong nhóm thử nghiệm.<br /> Phương pháp thống kê trong các nghiên cứu<br /> Phương pháp thống kê được tóm tắt trong 1/3 số công trình. Phần lớn nghiên cứu cung cấp<br /> số liệu mô tả rõ ràng các đặc tính của mẫu khảo sát (77%). Trong 28 nghiên cứu có thống kê mô tả<br /> chưa hoàn chỉnh, gần một nửa dùng giá trị trung bình không phù hợp, ngoài ra còn chưa phân<br /> <br /> Chuyên ñề Ung Bướu<br /> 26<br /> <br /> Tổng quan<br /> <br /> Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 14 * Phụ bản của Số 4 * 2010<br /> <br /> biệt rõ tần số hay tỷ lệ trong bảng, báo cáo sai số chuẩn thay vì độ lệch chuẩn, đưa đường cong<br /> Kaplan - Meier với giới hạn trục chưa hợp lý.<br /> Trong 71 nghiên cứu có thống kê phân tích, 38% sử dụng phù hợp các phép kiểm thống kê<br /> và phân tích đa biến số về nguyên tắc. Mười hai nghiên cứu bộc lộ một số vấn đề như: chưa áp<br /> dụng phép kiểm Fisher chính xác khi cần, so sánh thời gian sống còn trung bình thay vì trung vị,<br /> báo cáo một giá trị p cho nhiều cặp so sánh, diễn giải không phù hợp về sai số chuẩn của thời<br /> gian sống còn, hoặc so sánh kết quả nghiên cứu của mình với nghiên cứu khác kèm theo giá trị p<br /> mà không nêu phép kiểm. Ngoài ra, 9 nghiên cứu chỉ báo cáo giá trị p so với ngưỡng 0,05 thay vì<br /> nêu số chính xác.<br /> BÀN LUẬN<br /> Số công trình và chủ ñề nghiên cứu<br /> Trong đề tài này, số bài liên quan xạ trị được chọn khảo sát đã tăng rõ rệt kể từ năm 2001. Tỷ<br /> lệ ưu thế của các nghiên cứu về ung thư đầu cổ và ung thư phụ khoa trong mẫu nghiên cứu phù<br /> hợp với vai trò quan trọng của xạ trị đối với các nhóm bệnh lý này. Mặc dù các bệnh ác tính của<br /> phổi và hệ tiêu hóa là những ung thư đứng đầu và có xu hướng tăng trong những năm gần đây,<br /> số nghiên cứu tương ứng vẫn còn thưa thớt.<br /> Khả năng tiến hành xạ trị cho bệnh nhi không dễ dàng được đảm bảo ngay ở các trung tâm<br /> ung thư lớn ở nước ta. Kỹ thuật xạ trị cho bệnh nhi phức tạp hơn hẳn khi đòi hỏi các phương tiện<br /> cố định đặc biệt và phương tiện vô cảm hiệu quả và an toàn(4). Ngoài ra, nguy cơ xuất hiện biến<br /> chứng muộn trên nhiều hệ cơ quan cũng như xuất hiện ung thư thứ hai khi kỳ vọng sống dài<br /> càng khiến các bác sĩ xạ trị tuyến trước phải lưỡng lự khi cân nhắc chỉ định xạ trị cho trẻ bị ung<br /> thư.<br /> Nghiên cứu xạ trị trong chăm sóc giảm nhẹ chiếm một số lượng hết sức khiêm tốn mặc dù<br /> chỉ định xạ trị trong bệnh giai đoạn trễ rất đa dạng và có thể làm giảm 50 – 80% triệu chứng do di<br /> căn đồng thời gây tương đối ít độc tính(22). Với sự phát triển của lĩnh vực chăm sóc giảm nhẹ tại<br /> Việt Nam trong những năm gần đây, hy vọng sẽ có nhiều công trình hơn về chủ đề này.<br /> Thiết kế nghiên cứu<br /> Thiết kế loạt ca hồi cứu chiếm ưu thế trong mẫu khảo sát. Thiết kế này có những điểm mạnh<br /> như: dân số nghiên cứu có tính đại diện cao, gần với tình hình thực tế bệnh viện, bệnh án có sẵn,<br /> kinh phí thấp, thời gian thực hiện tương đối ngắn, phù hợp với bệnh hiếm gặp hoặc bệnh cần<br /> theo dõi lâu dài(11). Tuy nhiên, dữ liệu được hồi cứu từ bệnh án thường không đầy đủ hoặc có thể<br /> thiếu chính xác. Sai lệch chọn lựa có thể xảy ra khi số liệu thời gian theo dõi và kết cuộc lâm sàng<br /> không được ghi nhận đồng đều cho các bệnh nhân(13,15). Ngoài ra, nghiên cứu loạt ca không có<br /> nhóm chứng từ đầu do đó nghiên cứu viên khó có thể tự tin kết luận về hiệu quả và độ dung nạp<br /> của một loại điều trị mới. Kết quả điều trị không chỉ lệ thuộc vào loại kỹ thuật xạ, thủ thuật ngoại<br /> khoa, phác đồ hóa trị, mà còn chịu sự tác động rất lớn của trình độ chuyên môn và điều kiện<br /> chăm sóc tại cơ sở điều trị(27).<br /> Chỉ có 2 thử nghiệm lâm sàng đối chứng ngẫu nhiên trong mẫu khảo sát, và cả hai đánh giá<br /> vai trò của các thuốc y học dân tộc trong xử trí biến chứng liên quan xạ trị(16,17). Trong y học<br /> chứng cứ, thử nghiệm lâm sàng đối chứng ngẫu nhiên thường được coi là tiêu chuẩn vàng nếu<br /> được thực hiện một cách nghiêm túc và tuân theo các chuẩn mực về thiết kế, phương pháp phân<br /> tích, cũng như thu nhận bệnh nhân(20).<br /> Bệnh và ñối tượng bệnh nhân trong các nghiên cứu<br /> Một số loại ung thư thường gặp khác ở nước ta vẫn chưa được đánh giá nhiều qua các<br /> nghiên cứu trong mẫu khảo sát. Chỉ có 3 nghiên cứu liên quan đến xạ trị trong ung thư trực<br /> <br /> Chuyên ñề Ung Bướu<br /> <br /> 27<br /> <br />

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản