intTypePromotion=1

Trách nhiệm xã hội và chính sách cổ tức của công ty niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán thành phố hồ chí minh: Phân tích bằng mô hình hồi quy ngưỡng

Chia sẻ: Làu Chỉ Quay | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:8

0
46
lượt xem
3
download

Trách nhiệm xã hội và chính sách cổ tức của công ty niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán thành phố hồ chí minh: Phân tích bằng mô hình hồi quy ngưỡng

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Bài viết Trách nhiệm xã hội và chính sách cổ tức của công ty niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán thành phố hồ chí minh: Phân tích bằng mô hình hồi quy ngưỡng xác định được yếu tố nào ảnh hưởng công nghệ thông tin phát triển như vũ bảo thì hoạt đến chính sách cổ tức có ý nghĩa rất quan trọng đối động của doanh nghiệp được người tiêu dùng, nhà đầu tư, bởi chính sách cổ tức liên quan đến hoạt động định giá chứng khoán,... Mời các bạn cùng tham khảo.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Trách nhiệm xã hội và chính sách cổ tức của công ty niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán thành phố hồ chí minh: Phân tích bằng mô hình hồi quy ngưỡng

64<br /> <br /> SCIENCE & TECHNOLOGY DEVELOPMENT, Vol 20, No Q3 - 2017<br /> <br /> Trách nhiệm xã hội và chính sách cổ tức của<br /> công ty niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán<br /> Thành Phố Hồ Chí Minh: Phân tích bằng mô<br /> hình hồi quy ngƣỡng<br /> Nguyễn Quyết, Phan Thị Hằng Nga<br /> một phần không thể tách rời trong chiến lƣợc tổng<br /> thể của hầu hết các doanh nghiệp (Kotler và Lee,<br /> 2005) và một trong những chủ đề nghiên cứu<br /> đƣợc các học giả quan tâm tìm hiểu là ảnh hƣởng<br /> của CSR đến hiệu quả tài chính của doanh nghiệp,<br /> Trƣớc đây, những nghiên cứu chi tiết về mối quan<br /> hệ của CSR với những thành phần quan trọng<br /> khác trong cấu thành hiệu quả tài chính còn chƣa<br /> nhiều. Vì các học giả nghiên cứu trƣớc đây chủ<br /> yếu tập trung vào các thành phần trực tiếp tác<br /> động đến chính sách cổ tức nhƣ: quy mô vốn, đòn<br /> bầy tài chính, tốc độ tăng trƣởng... còn trách<br /> nhiệm của doanh nghiệp đối với xã hội thì các học<br /> giả chƣa quan tâm nhiều, nhƣng thực tế ở thời đại<br /> công nghệ thông tin phát triển nhƣ vũ bảo thì hoạt<br /> động của doanh nghiệp đƣợc ngƣời tiêu dùng, nhà<br /> đầu tƣ trên toàn thế giới biết đến, do đó nếu doanh<br /> nghiệp đó có trách nhiệm với xã hội thì các nhà<br /> đầu tƣ, ngƣời tiêu dùng đều đƣợc biết chính vì<br /> Từ khóa—CSR, chính sách cổ tức, mô hình hồi<br /> vậy nó có tác động đến chính sách cổ tức của<br /> quy ngưỡng.<br /> doanh nghiệp. Cụ thể:<br /> 1 GIỚI THIỆU<br /> Theo Rakotomavo (2012), ngƣời tiên phong<br /> nghiên<br /> cứu vấn đề này cho rằng, tồn tại hai quan<br /> RÁCH nhiệm xã hội của doanh nghiệp (CSR)<br /> điểm<br /> về<br /> mối quan hệ của CSR với chính sách cổ<br /> không phải là chủ đề quá mới đối với cộng<br /> tức.<br /> Quan<br /> điểm thứ nhất (kênh chi phí vốn cổ<br /> đồng doanh nghiệp thuộc khối Châu Âu và Châu<br /> phần),<br /> cho<br /> rằng<br /> các hoạt động liên quan đến CSR<br /> Mỹ. Cho đến nay, trong hoạt động nghiên cứu và<br /> làm<br /> giảm<br /> chi<br /> phí<br /> vốn thông qua phí bảo hiểm rủi<br /> thực tiễn, khái niệm CSR đƣợc đề cập tới khá đa<br /> ro<br /> (Ghoul<br /> et<br /> al.,<br /> 2011),<br /> điều này sẽ khuyến khích<br /> dạng. Theo Du et al, (2011), CSR là thể hiện<br /> các<br /> doanh<br /> nghiệp<br /> nắm<br /> giữ<br /> tiền mặt hoặc đầu tƣ<br /> những sáng kiến, những hoạt động đóng góp của<br /> thay<br /> vì<br /> chi<br /> trả<br /> cổ<br /> tức<br /> bằng<br /> tiền.<br /> Theo Kim et al,<br /> doanh nghiệp về mặt kinh tế, xã hội và môi<br /> (1998),<br /> các<br /> doanh<br /> nghiệp<br /> có<br /> khuynh<br /> hƣớng nắm<br /> trƣờng nhằm thúc đẩy xã hội phát triển bền vững.<br /> giữ<br /> tiền<br /> mặt<br /> cao<br /> hơn<br /> (thấp<br /> hơn)<br /> khi<br /> chi<br /> phí vốn<br /> Trong vài thập niên gần đây, CSR đã trở thành<br /> thấp hơn (cao hơn) vì chi phí cơ hội tích trữ tiền<br /> mặt thấp hơn (cao hơn). Do đó, các doanh<br /> Bài nhận ngày 30 tháng 04 năm 2017, hoàn chỉnh sửa chữa<br /> ngày 02 tháng 06 năm 2017.<br /> nghiệp có thể đầu tƣ nhiều hơn và để lại tiền mặt<br /> Tác giả Nguyễn Quyết và Hằng Nga công tác tại trƣờng Cao<br /> ít hơn dành cho việc chi trả cổ tức. Điều này ngụ<br /> đẳng Tài Chính - Hải Quan (e-mail: pthangngatchq@gmail.com).<br /> ý rằng CSR có ảnh hƣởng tiêu cực đến việc chi<br /> Tóm tắt—Mục đích của bài viết này xem xét mối<br /> quan hệ của trách nhiệm xã hội (CSR) với chính<br /> sách cổ tức của công ty niêm yết trên sàn giao dịch<br /> chứng khoán Thành Phố Hồ Chí Minh (HOSE)<br /> trong giai đoạn từ năm 2012 đến năm 2016 và tìm<br /> ngưỡng tối ưu của biến CSR. Nghiên cứu sử dụng<br /> mô hình hồi quy ngưỡng làm phương pháp phân<br /> tích và cơ sở lý thuyết dựa vào một số nghiên cứu<br /> trước. Kết quả nghiên cứu cho thấy trách nhiệm của<br /> doanh nghiệp đối với xã hội có tác động đến chính<br /> sách cổ tức của doanh nghiệp và tồn tại ngưỡng tối<br /> ưu của biến CSR (ngưỡng đơn) là 13,84%, nghĩa là<br /> nếu doanh nghiệp đầu tư cho hoạt động CSR chiếm<br /> không quá 13,84% doanh thu thì hoạt động CSR sẽ<br /> tác động tích cực tới chính sách cổ tức của doanh<br /> nghiệp. Việc xác định được yếu tố nào ảnh hưởng<br /> đến chính sách cổ tức có ý nghĩa rất quan trọng đối<br /> với nhà đầu tư, bởi chính sách cổ tức liên quan đến<br /> hoạt động định giá chứng khoán.<br /> <br /> T<br /> <br /> TẠP CHÍ PHÁT TRIỂN KH & CN, TẬP 20, SỐ Q3 - 2017<br /> trả cổ tức, Quan điểm thứ hai (kênh thu nhập), lập<br /> luận rằng các hoạt động liên quan đến CSR có thể<br /> dẫn tới gia tăng thu nhập từ nhiều lý do khác nhau<br /> nhƣ tạo đƣợc mối quan hệ tốt hơn với các bên liên<br /> quan, quản lý hiệu quả hơn (Heal, 2005). Xây<br /> dựng đƣợc mối quan hệ tốt với các nhà đầu tƣ có<br /> thể giảm chi phí giao dịch (Jones, 1995), gia tăng<br /> lợi thế cạnh tranh (Hillman và Keim, 2001. Choi<br /> và Wang, 2009) và giảm biến động dòng ngân lƣu<br /> khi xảy ra sự kiện tiêu cực (Godfrey et al., 2009),<br /> Do đó, các doanh nghiệp tích cực tham gia hoạt<br /> CSR dự kiến sẽ có sản lƣợng hoặc thu nhập cao<br /> hơn với mức rủi ro thấp hơn. Khả năng thu nhập<br /> cao hơn, dẫn đến việc các doanh nghiệp có cơ hội<br /> chi trả cổ tức tốt hơn.<br /> Mục đích của bài viết này là nghiên cứu ảnh<br /> hƣởng của CSR đến chính sách cổ tức của các<br /> doanh nghiệp niêm yết trên sàn chứng khoán<br /> TP,HCM (HOSE), phân tích bằng mô hình hồi<br /> quy ngƣỡng để xem xét liệu rằng có tồn tại mối<br /> quan hệ ngƣỡng tối ƣu giữa hai thành phần này<br /> hay không. Kết quả nghiên cứu kỳ vọng sẽ giúp<br /> doanh nghiệp xây dựng chính sách CSR và chính<br /> sách cổ tức hợp lý góp phần nâng cao hiệu quả<br /> sản xuất kinh doanh.<br /> 2 TỔNG QUAN LÝ THUYẾT<br /> 2.1 Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp<br /> Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp (CSR)<br /> đƣợc nghiên cứu vào khoảng thập niên 1930<br /> (Berle and Means, 1932). Sau đó, Bowen (1953)<br /> đề cập tới khái niệm CSR trong tác phẩm “Trách<br /> nhiệm xã hội của doanh nhân” với ý tƣởng là<br /> doanh nghiệp tạo ra sản phẩm cho xã hội cần đáp<br /> ứng 4 yếu tố; nâng cao mức sống của ngƣời dân,<br /> tạo động lực phát triển kinh tế, đảm bảo công<br /> bằng, tự do và sau cùng là phát triển toàn diện<br /> nhân cách của mỗi cá nhân. Đến thập niên 1970,<br /> những nghiên cứu về CSR trở nên phổ biến hơn,<br /> nổi bật là nghiên cứu của Harold Johnon (1971),<br /> là ngƣời đặt nền móng cho sự ra đời lý thuyết các<br /> bên liên quan (stakeholder theory). Nghiên cứu<br /> của Carroll (1979) đã xây dựng mô hình tháp CSR<br /> theo thứ tự 4 loại trách nhiệm không loại trừ lẫn<br /> nhau, bao gồm trách nhiệm về kinh tế, trách<br /> nhiệm về pháp lý, trách nhiệm về đạo đức, trách<br /> nhiệm về từ thiện. Tuy nhiên, Wood (1991) không<br /> đồng thuận với mô hình tháp CSR của Carroll và<br /> cho rằng trách nhiệm về mặt đạo đức của những<br /> nhà quản lý phải đặt lên hàng đầu, tổ chức cần<br /> phải tuân thủ các chuẩn mực đạo đức và pháp lý<br /> của xã hội. Vậy, CSR đƣợc hiểu là sự cam kết của<br /> <br /> 65<br /> <br /> doanh nghiệp đóng góp cho việc phát triển kinh tế<br /> bền vững thông qua những việc làm có lợi cho<br /> doanh nghiệp cũng nhƣ phát triển chung của toàn<br /> xã hội.<br /> 2.2 Chính sách cổ tức<br /> 2.2.1 Lý thuyết M-M (1961), Gordon (1963) và<br /> Lintner (1962)<br /> Lý thuyết M-M đƣợc giới thiệu bởi Miller and<br /> Modigliani (1961) với ý tƣởng cho rằng, tại<br /> các thị trƣờng hoàn hảo, cổ tức không có ảnh<br /> hƣởng đến giá trị doanh nghiệp. Do đó cổ<br /> đông sẽ không quan tâm đến việc phát sinh<br /> dòng tiền của mình là dƣới hình thức cổ tức<br /> hay là hình thức tăng vốn, Vì vậy, trong<br /> trƣờng hợp này, việc có chia cổ tức hay không<br /> sẽ phụ thuộc vào dòng tiền của doanh nghiệp,<br /> chia cổ tức tiền mặt nếu dòng tiền đang dƣơng<br /> và ngƣợc lại sẽ phát hành cổ phiếu để hỗ trợ<br /> cho việc chia cổ tức.<br /> Trái với lập luận của Miller and Modigliani<br /> (1961), Gordon (1963) và Lintner (1962) cho<br /> rằng, giả định thị trƣờng hoàn hảo trong lý<br /> thuyết M-M là không tồn tại, chính sách cổ<br /> tức rất quan trọng và tác động tới giá trị của<br /> doanh nghiệp. Gordon (1963) và Lintner<br /> (1962) lập luận rằng, với tâm lý ngại rủi ro<br /> nhà đầu tƣ luôn luôn thích cổ tức bằng tiền<br /> mặt, một loại cổ tức chắc chắn trong tay hơn là<br /> việc hứa hẹn tăng vốn trong tƣơng lai, để họ<br /> có thể giảm thiểu rủi ro phải đối mặt khi đầu<br /> tƣ vào cổ phiếu.<br /> 2.2.2 Lý thuyết tín hiệu<br /> Lý thuyết tín hiệu đƣợc đề xuất bởi<br /> Bhattacharya (1980) và John Williams (1985)<br /> cho rằng, có sự tồn tại bất cân xứng về thông<br /> tin giữa nội bộ (nhà quản lý) và bên ngoài (cổ<br /> đông). Do đó, các nhà quản lý có thể truyền<br /> đạt thông tin cá nhân này cho các cổ đông<br /> dƣới dạng cổ tức (Bhattacharya, 1979; John và<br /> Williams, 1985; và Miller and Rock, 1985).<br /> Cổ tức chính là công cụ để xoa dịu vấn đề<br /> thông tin bất cân xứng giữa ngƣời quản lý và<br /> cổ đông thông qua việc nó đƣa đến các cổ<br /> đông những thông tin nội bộ về triển vọng<br /> trong tƣơng lai của công ty, Theo Ross (1977)<br /> và Hakansson (1982), những nhà quản lý có<br /> thông tin tốt hơn về kết quả và triển vọng tăng<br /> trƣởng của công ty hơn là bên ngoài: trƣờng<br /> hợp công ty bị đánh giá thấp bởi thị trƣờng,<br /> khi đó cổ tức có thể đƣợc sử dụng để phản ánh<br /> đúng giá trị của công ty, biết rằng tín hiệu<br /> bằng cổ tức là các khoản chi phí tốn kém và<br /> <br /> 66<br /> <br /> SCIENCE & TECHNOLOGY DEVELOPMENT, Vol 20, No Q3 - 2017<br /> <br /> khó bắt chƣớc nếu các doanh nghiệp có triển<br /> vọng tăng trƣởng thấp.<br /> 2.2.3 Lý thuyết chi phí đại diện<br /> Theo lý thuyết đại diện (Agency cost theory),<br /> không có lý do để tin rằng nhà quản lý luôn<br /> luôn hành động vì lợi ích cao nhất của cổ<br /> đông, vì vậy chủ sở hữu phải chịu một số chi<br /> phí giám sát. Chính sách chi trả cổ tức thấp<br /> nhằm tối đa hóa tính linh hoạt của nhà quản lý<br /> và tối đa hóa tổng tài sản đang đƣợc kiểm<br /> soát, Jensen và Meckling (1976), Kalay (1980)<br /> khẳng định rằng việc chi trả cổ tức cao có thể<br /> giúp kiểm soát chi phí đại diện của dòng tiền<br /> tự do bằng cách giảm các nguồn lực dƣới sự<br /> quản lý của ngƣời quản lý. Việc phân phối cổ<br /> tức đƣợc các cổ đông xem là một cơ chế ẩn<br /> khiến cho các nhà quản lý có ít tiền mặt để đầu<br /> tƣ vào các dự án có giá trị hiện tại ròng âm.<br /> Việc chi trả cổ tức cao rất hữu ích trong việc<br /> kiểm soát hai loại chi phí: chi phí giám sát và<br /> chi phí rủi ro không mong muốn của các nhà<br /> quản lý.<br /> 2.2.4 Lý thuyết chu kỳ cổ tức<br /> Theo lý thuyết chu kỳ cổ tức (Mueller, 1972;<br /> Fama and French, 2001), chính sách cổ tức<br /> liên quan tới các giai đoạn phát triển khác<br /> nhau của vòng đời doanh nghiệp. Trong giai<br /> đoạn đầu của vòng đời, doanh nghiệp sẽ có cơ<br /> hội tăng trƣởng, nhƣng lại ít có khả năng tạo<br /> ra đủ tiền mặt để đáp ứng tất cả các nhu cầu tài<br /> chính và chi trả cổ tức cùng một lúc. Hơn nữa,<br /> tiếp cận nguồn tài trợ từ bên ngoài có thể là<br /> khó khăn hơn vì chi phí phát hành, thuế, hoặc<br /> bất đối xứng thông tin. Kết quả là, họ sẽ có xu<br /> hƣớng hạn chế chi trả cổ tức và quyết định giữ<br /> lại để tài trợ cho các dự án có mức sinh lời hấp<br /> dẫn. Sau một thời kỳ tăng trƣởng, các công ty<br /> đạt đến giai đoạn trƣởng thành trong vòng đời,<br /> trong giai đoạn này, tiền mặt do công ty tạo ra<br /> cao hơn lƣợng tiền dành cho đầu tƣ để tìm<br /> kiếm lợi nhuận. Ở giai đoạn tối ƣu, các công<br /> ty phân phối thu nhập bằng việc chi trả cổ tức<br /> nhiều hơn cho các cổ đông. Phân phối trong<br /> giai đoạn trƣởng thành là rất quan trọng bởi vì<br /> nếu tích lũy tiền mặt lớn có thể dẫn đến phát<br /> sinh chi phí đại diện cho dòng tiền tự do.<br /> 2.3 Chính sách cổ tức<br /> Theo lý thuyết chi phí đại diện, chi trả cổ tức<br /> đóng một vai trò quan trọng trong việc kiểm soát<br /> chi phí của dòng tiền tự do. Các bên liên quan<br /> khác nhau có thể có những lợi ích khác nhau liên<br /> quan đến hoạt động CSR. Barnea và Rubin (2010)<br /> chỉ ra rằng: CSR là thể hiện của chi phí đại diện,<br /> nghĩa là ngƣời trong doanh nghiệp sẽ phải trả chi<br /> <br /> phí liên quan đến hoạt động CSR nhƣng nó không<br /> tạo ra giá trị; bên cạnh đó những ngƣời trong nội<br /> bộ doanh nghiệp sẽ nhận lợi ích cá nhân là một<br /> phần do các công ty đã đóng góp trách nhiệm xã<br /> hội cao..<br /> Dựa trên lý thuyết các bên liên quan (Freeman,<br /> 1984), cùng với giả thuyết về quản lý tốt hoạt<br /> động CSR (Waddock and Graves, 1997), khi đó<br /> các mục tiêu của công ty vƣợt ra ngoài khuôn khổ<br /> tối đa hóa tài sản của chủ sở hữu bằng cách kết<br /> hợp khía cạnh đạo đức và sự hài lòng của tất cả<br /> các bên liên quan.<br /> Theo He et al, (2012), doanh nghiệp cần tạo ra<br /> sự giàu mạnh một cách có đạo đức, duy trì sự<br /> quan tâm với khách hàng, nhà cung cấp, nhân<br /> viên, cộng đồng và các cổ đông, bên cạnh đó hoạt<br /> động CSR cần tích hợp sự công bằng và đạo đức<br /> trong việc phân phối của cải cho những ngƣời đã<br /> đóng góp vào việc tạo ra nó.<br /> Theo Attig et al., (2013) vận dụng lý thuyết chu<br /> kỳ cổ tức đã lập luận rằng, các công ty trong giai<br /> đoạn trƣởng thành sẽ có chiến lƣợc thực hiện hoạt<br /> động CSR cao hơn so với những công ty còn non<br /> trẻ. Vì những công ty trƣởng thành có kỹ năng<br /> quản lý cao, nguồn lực mạnh và có kinh nghiệm<br /> cần thiết để tham gia vào các hoạt động nhƣ vậy.<br /> Nhƣ vậy trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp<br /> nên thực hiện bao nhiêu thì phù hợp, đế CSR tác<br /> động tích cực đến chính sách cổ tức cho doanh<br /> nghiệp. Nghiên cứu của Godfrey (2005), Ye và<br /> Zhang (2011) cho rằng có sự tồn tại ngƣỡng CSR<br /> tối ƣu mà công ty không nên vƣợt quá. Nếu vƣợt<br /> quá mức tối ƣu này, sự tham gia vào hoạt động<br /> CSR có nhiều khả năng làm tăng thêm chi phí cho<br /> công ty mà không tạo ra bất kỳ giá trị tƣơng ứng<br /> nào. Bên cạnh đó, Ye và Zhang (2011) khuyến<br /> nghị rằng nếu đầu tƣ vào hoạt động CSR với mức<br /> quá lớn sẽ không đƣợc các cổ đông chấp nhận bởi<br /> vì họ cho rằng việc đầu tƣ vào CSR vƣợt quá mức<br /> tối ƣu có thể tạo ra giá trị hiện tại ròng âm.<br /> 3 DỮ LIỆU NGHIÊN CỨU<br /> Nghiên cứu này sử dụng dữ liệu bảng cân bằng<br /> (strongly balanced panel), các biến phân tích đƣợc<br /> thu thập, tính toán từ bảng báo cáo tài chính đã<br /> đƣợc kiểm toán công bố trên Website của 123<br /> công ty niêm yết trên sàn chứng khoán Thành Phố<br /> Hồ Chí Minh (TPHCM) trong giai đoạn 5 năm từ<br /> 2012 đến 2016 (tổng số mẫu quan sát là 615).<br /> <br /> TẠP CHÍ PHÁT TRIỂN KH & CN, TẬP 20, SỐ Q3 - 2017<br /> 4 PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU<br /> 4.1 Mô tả các biến<br /> Các biến nghiên cứu đƣợc lựa chọn dựa trên<br /> những nghiên cứu lý thuyết và kết quả thực<br /> nghiệm trƣớc đây, cụ thể:<br /> Biến phụ thuộc: Để đo lƣờng chính sách cổ tức<br /> nghiên cứu này sử dụng chỉ tiêu tỷ lệ cổ tức trên<br /> Biến<br /> kiểm<br /> <br /> Tỷ lệ cổ tức trên<br /> doanh thu thuần<br /> <br /> kiểm<br /> soát<br /> <br /> bao<br /> CSR =<br /> <br /> 67<br /> <br /> doanh thu thuần (dvrate).<br /> Biến độc lập: Để đo lường hoạt động CSR<br /> nghiên cứu này tham khảo kết quả của<br /> Rakotomavo (2012). Joonil Kim và Yongbok<br /> Jeon (2015),<br /> Adrian Cheung,<br /> May Hu,<br /> Schwiebert (2016).<br /> <br /> Cổ tức tiền mặt trên mỗi cổ phiếu<br /> Doanh thu thuần trên mỗi cổ phiếu<br /> <br /> =<br /> <br /> soát: Các biến<br /> gồm:<br /> <br /> Tổng chi phí cho hoạt động từ thiện<br /> Tổng doanh thu<br /> <br /> (1)<br /> BẢNG 1<br /> MÔ TẢ BIẾN KIỂM SOÁT<br /> Biến nghiên cứu<br /> <br /> Kỳ vọng<br /> <br /> Công thức tính<br /> <br /> Qui mô công ty (tỷ đồng)<br /> <br /> Size (+)<br /> <br /> Khả năng sinh lời (%)<br /> <br /> Roe(+)<br /> <br /> Tỷ lệ tăng trƣởng (%)<br /> <br /> Growth(-)<br /> <br /> Đòn bẩy tài chính (%)<br /> <br /> Debt (-)<br /> <br /> Tổng Nợ/Tổng TS<br /> <br /> Cấu trúc tài sản (%)<br /> <br /> Tang (-/+)<br /> <br /> TS dài hạn/Tổng TS<br /> <br /> Khả năng thanh toán tiền<br /> mặt (%)<br /> <br /> Cash (+)<br /> <br /> Tiền và các khoản tƣơng đƣơng<br /> tiền/Nợ ngắn hạn<br /> <br /> Ln(Tổng Tài sản)<br /> Lợi nhuận trƣớc thuế/Vốn chủ<br /> SH<br /> (DT năm nay – DT năm trƣớc)/<br /> DT năm trƣớc<br /> <br /> 4.2 Phương pháp nghiên cứu<br /> Để xác định giá trị CSR tối ƣu và ảnh hƣởng của<br /> chúng lên chính sách cổ tức, nghiên cứu này sử<br /> dụng mô hình hồi quy ngƣỡng (Threshold<br /> autoregressive model). Mô hình này đƣợc đề xuất<br /> lần đầu bởi Tong (1978) và đƣợc hoàn thiện bởi<br /> Hansen (1999), cụ thể nhƣ sau:<br /> <br /> i  Xit  1csri,t  i,t khi csri,t  <br /> dvratei,t  <br /> <br /> i  Xit   2 csri,t  i,t khi csri,t  <br /> <br /> Nghiên cứu trước<br /> Jensen and Meckling (1976), D’Auria<br /> et al., (1999), Lehmann and Neuberger<br /> ( 2000)<br /> Amidu and Abor (2006), Jakob and<br /> Johannes (2008),<br /> Baker et al, (2008), Mitton (2004),<br /> Partington (1983)<br /> Baker et al, (2001), Hufft and Dufrene<br /> (1996),<br /> Papadopoulos and<br /> Charalambidis<br /> (2007).<br /> Jensen (1986), Sawicki (2008)<br /> <br /> (1)<br /> đó:<br /> <br /> Trong<br /> <br /> ma<br /> <br /> trận:<br /> <br />   (1 , 2 , 3 , 4 , 5 , 6 )<br /> <br /> .<br /> Xit   sizeit , roeit , growth it , debt it , tang it , cash it <br /> <br />  : Là giá trị ngƣỡng, i :<br /> phần chéo,<br /> lập),<br /> nhƣ sau:<br /> <br /> it : thành phần sai số (giả sử độc<br /> Phƣơng trình (1) đƣợc viết lại<br /> <br /> dvratei,t  i Xit  1csri,t I(csri,t   )  2csri,t I(csri,t   )  i,t<br /> <br /> Trong đó: I() gọi là hàm chỉ tiêu, phƣơng<br /> trình 2 viết gọn lại:<br /> dvratei,t  i Xit   csri,t ( )   i,t<br /> <br /> (3)<br />  Xit<br /> <br /> dvratei,t  i  [  ] <br />   i,t<br /> csr<br /> (<br /> <br /> )<br /> i,t<br /> <br /> <br /> <br /> Theo Chan (1993) và Hansen (1999) giả thuyết<br /> kiểm định sự tồn tại mối quan hệ ngƣỡng trong<br /> mô hình hồi quy là H0 : 1  2 (không tồn tại<br /> ngƣỡng). H1 : 1   2 ( tồn tại ngƣỡng), Ƣớc<br /> <br /> ảnh hƣởng của thành<br /> <br /> (2)<br /> <br /> lƣợng hệ số  bằng phƣơng pháp bình phƣơng bé<br /> nhất và ˆ  arg min SSE1 ( ) . Nếu tồn tại<br /> ngƣỡng hồi quy (nghĩa là giả thuyết H0 bị bác bỏ)<br /> khi đó<br /> <br /> ˆ nhất quán với  0 và phân phối tiệm cận<br /> <br /> không có phân phối chuẩn. Hansen (1999) đề nghị<br /> cách tốt nhất để xây dựng khoảng tin cậy cho <br /> bằng cách xây dựng vùng không bác bỏ và dùng<br /> thống kê LR (likelihood ratio) để kiểm định  .<br /> <br /> 68<br /> <br /> SCIENCE & TECHNOLOGY DEVELOPMENT, Vol 20, No Q3 - 2017<br /> 5 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU<br /> <br /> 5.1 Mô tả mẫu nghiên cứu<br /> Hình thức chi trả cổ tức của các công ty niêm<br /> yết khá đa dạng; bằng cổ phiếu hoặc tiền mặt hoặc<br /> kết hợp cả hai hình thức. Kết quả bảng 2 sau khi<br /> xử lý dữ liệu từ Stata 14 cho thấy, hiện nay, hầu<br /> hết các công ty chi trả cố tức bằng hình thức tiền<br /> <br /> Variables<br /> dvsale<br /> debt<br /> roe<br /> cash<br /> size<br /> tang<br /> growth<br /> csr<br /> <br /> N<br /> 615<br /> 615<br /> 615<br /> 615<br /> 615<br /> 615<br /> 615<br /> 615<br /> <br /> mean<br /> 0,153<br /> 0,463<br /> 0,0425<br /> 0,658<br /> 27,66<br /> 0,382<br /> 0,132<br /> 0,101<br /> <br /> BẢNG 2<br /> KẾT QUẢ THỐNG KÊ MÔ TẢ<br /> sd<br /> min<br /> max<br /> 0,951<br /> 0,00221<br /> 12,74<br /> 0,198<br /> 0,00294<br /> 0,905<br /> 0,144<br /> 0<br /> 2,837<br /> 1,396<br /> 0,000622<br /> 15,41<br /> 1,052<br /> 25,77<br /> 30,94<br /> 0,219<br /> 0,0242<br /> 0,973<br /> 0,391<br /> -0,935<br /> 5,231<br /> 0,0980<br /> 0,00731<br /> 0,465<br /> <br /> Các biến nghiên cứu hầu hết đều có phân phối<br /> lệch phải vì có hệ số độ lệch (skewness) dương,<br /> ngoại trừ biến CSR<br /> 5.2 Kiểm định tính dừng<br /> Hansen (1999) cho rằng điều kiện các biến phân<br /> tích trong mô hình hồi quy ngưỡng của dữ liệu<br /> bảng cần thỏa mãn tính dừng để không xảy ra<br /> hiện tượng hồi quy giả.<br /> BẢNG 3<br /> KẾT QUẢ KIỂM ĐỊNH TÍNH DỪNG<br /> ADF-Fisher<br /> Biến<br /> Chi-square<br /> P-value<br /> devrate<br /> 1330,9695<br /> 0,0000***<br /> size<br /> 514,5915<br /> 0,0000***<br /> roe<br /> 8742,2813<br /> 0,0000***<br /> growth<br /> 1646,9034<br /> 0,0000***<br /> debt<br /> 619,5100<br /> 0,0000***<br /> tang<br /> 784,8266<br /> 0,0000***<br /> cash<br /> 891,9366<br /> 0,0000***<br /> csr<br /> 1119,7160<br /> 0,0000***<br /> *** p

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản