Triệu chứng học ruột non
(Kỳ 1)
1. Một số đặc điểm giải phẫu, sinh lý của ruột non:
1.1. Một số đặc điểm giải phẫu của ruột non:
Ruột non là phần ống tiêu hoá nối tiếp dạ dày và đại tràng, dài khoảng 7m,
đường kính khoảng 3cm. Phần này gồm có:
tràng đoạn cố định nằm sâu phía sau, bao quanh dính vào đầu tụy,
ống dẫn tụy và ống mật đổ vào đoạn II tá tràng.
Đoạn ruột non tdo đi truột đầu, ruột giữa đến ruột cuối, đoạn này dài
khoảng 6m xếp thành nhiều quai ruột gần như song song với nhau. Trung bình
khoảng 14-16 quai; mỗi quai dài khoảng 22-22cm tuy vậy 4 quai dài hơn một chút
30-40cm. Những quai đầu xếp ngang rồi chuyển đến những quai cuối lại xếp dọc.
Đoạn ruột non này được treo trong bụng bởi mạc treo ruột, đó là một
màng mỏng, một bờ nh với ruột đó là bờ tự do, một bờ dính với thành bụng sau.
Động mạch nuôi ruột non là động mạch mạc treo tràng trên dài khoảng 22-
25cm, rộng 8-12mm, điểm xuất phát rộng khoảng 6-10mm, gần sát ngang phía
trên động mạch thận.
+ Cấu tạo thành ruột non (kể từ ngoài vào) gồm 4 lớp:
- Ngoài cùng là thanh mạc.
- Lớp cơ: cơ vòng và cơ dọc.
- Lớp dưới niêm mạc (lớp liên kết giàu mạch máu), trong lớp này của
tràng chứa các tuyến Brunner, đó là các tuyến chứa các chất keo nhầy để trung hoà
dịch vị.
- Lớp niêm mạc nm trên trơn liên o che phủ, ngay trên tchức
Lamina Propria. Trong tchức này nhiều mạch máu, tân mạch và tchức n
bào, các tân bào họp thành đám gọi là mảng Peyer.
- Lớp liên bào ph chỗ ăn sâu xuống dưới tạo thành tuyến Brunner hoặc
Lieberkuhn hoặc lồi lên phía trên tạo thành các lông ruột, lớp liên bào gồm 4 loại
tế bào:
- Tế bào ruột: chiếm tỉ lệ nhiều nhất 80%, đóng vai trò chyếu trong việc
hấp thu, nó có một đường viền bàn chải và siêu nhung mao.
- Tế bào hình đài hoa: chiếm 15%, nó bài tiết chất nhầy.
- Tế bào nội tiết tố: chiếm tỉ lệ rất ít, nằm rải rác suốt dọc chiều dài của ruột
non, chúng tiết ra các nội tiết tố peptid.
- Tế bào Paneth: ch nằm phần đáy tuyến Lieberkuhn. bài tiết các
lysozym các enzym như của tụy (tryspin, phospholipase…). cũng khả
năng thực bào cho nên nó còn có vai trò bảo vệ niêm mạc ruột chống lại vi khuẩn.
1.2. Chức năng sinh lý của ruột non:
+ Chức năng tiêu hoá và hấp thu:
Ruột 5 triệu nhung mao do đó làm tăng diện tích hấp thu lên ti 200m2.
Phương thức hấp thu (có thể là thđộng qua các lỗ hổng ở niêm mạc, theo chế
áp lực thẩm thấu hoặc hấp thu chủ động).
- Hấp thu các chất điện giải và nước:
. Na+: hấp thu Na+ thay đổi từng đoạn ruột, giảm dần ttràng tới đại
tràng.
. Kali: được hấp thu qua 3 cách, nhưng quan trọng nhất là hấp thu chủ
động. Paro hormon m tăng corticoid, làm giảm hấp thu Ca++. Calcitonin m
chậm vận chuyển calcium bên ngoài tế bào rut.
. Nước: hấp thu nước giảm dần từ trên xuống dưới. tràng, ruột đầu mỗi
nơi hấp thu từ 1đến 3 lít/ngày. Ruột cuối đại tràng mỗi nơi hấp thu 1 lít/ngày.
- Tiêu hoá và hấp thu glucid:
Thực hiện chủ yếu là ruột đầu. Amidon bị amytase phân giải thành
dextrin và maltose. Maltase biến maltose thành glucose. Các diholosid khác cũng
biến được các diastose đặc hiệu thành các đường đơn: sthủy phân glucid được
thực hiện đường viền bàn chi của tế bào ruột, biến oligosaccharid dextrin và
disaccharid thành monosaccharid. Sdi chuyển glucose galactose theo chế
vận chuyển chủ động là chyếu. Các đường đơn được hấp thu vào máu tuần hoàn
qua tế bào ruột. Các đường không hấp thu sẽ đi xuống đại tràng, đấy bị lên
men để biến thành axid o bay i, m tăng áp lực thẩm thấu rút nước t
trong tuần hoàn ra gây ỉa chảy.
- Tiêu hoá và hấp thu protid:
S tiêu hoá protid được bắt đầu ngay từ d dày, rồi dịch tụy chuyển
polypeptid thành các polypeptid đơn giản 3-4 acid amin phân giải các acid
nucleic. Phần lớn protein được tiêu hoá hp thu ruột non, chỉ còn 6-10g còn
lại bị đào thải ra ngoài theo phân (nghĩa là không quá 1,5N/ ngày)
- Hấp thu và tiêu hoá lipid:
Shấp thu lipid chỉ giới hạn, nếu lượng lipid trên 30g/ngày sxuất hiện
hiện tượng ỉa ra mỡ (8g/ngày). Đầu tiên lipase (của tụy, của ruột) phân giải
triglycerid thành acid béo + micelle mật, một số các ester của cholesterol, lecithase
biến lecithin thành acid phospho glyceric, cholin acid béo. Dịch ruột sau mỗi
bữa ăn được chia thành 2 phần: phần trên là dầu (nhũ dịch gồm tri-diglycerid,
acid béo không ion hoá) cholesterol nm giữa. Cơ chế của lipid xuyên qua màng tế
bào như thế nào chưa rõ. Trong tế bào ruột, acid béo tham gia vào việc tái tạo tổng
hợp triglycerid. Triglycerid và cholesterol bđẩy ra ngoài tế bào ruột dưới dạng
chylomicron hay lipoprotein, sau khi ra khỏi tế bào phần lớn được hấp thu vào tân
mạch. Những acid béo mạch ngắn và vừa lại vào h thống tuần hoàn dưới dạng
ester hoá.