intTypePromotion=1
ADSENSE

Tự chủ đại học gắn với kiểm định chất lượng – xu thế tất yếu của đổi mới giáo dục đào tạo đại học

Chia sẻ: _ _ | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:5

4
lượt xem
1
download
 
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Bài viết Tự chủ đại học gắn với kiểm định chất lượng – xu thế tất yếu của đổi mới giáo dục đào tạo đại học tập trung phân tích bối cảnh tự chủ giáo dục đào tạo, đặc biệt là giáo dục đại học trong bối cảnh đổi mới. Từ đó, bài viết làm rõ vai trò của kiểm định chất lượng trong giáo dục đào tạo, cùng với việc công khai học phí để đảm bảo chất lượng giáo dục tương ứng, trong việc thực hiện trách nhiệm giải trình với các bên có liên quan.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Tự chủ đại học gắn với kiểm định chất lượng – xu thế tất yếu của đổi mới giáo dục đào tạo đại học

  1. TỰ CHỦ ĐẠI HỌC GẮN VỚI KIỂM ĐỊNH CHẤT LƯỢNG – XU THẾ TẤT YẾU CỦA ĐỔI MỚI GIÁO DỤC ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC Trần Thị Thanh Tú Nguyễn Thị Minh Phượng Trường ĐH Kinh tế, ĐHQGHN Tóm tắt Để thực hiện thành công Đề án Đổi mới toàn diện giáo dục và đào tạo, tự chủ các cơ sở giáo dục đào tạo, mà trọng tâm là tự chủ tài chính, là một trong những xu thế tất yếu. Bài viết này tập trung phân tích bối cảnh tự chủ giáo dục đào tạo, đặc biệt là giáo dục đại học trong bối cảnh đổi mới. Từ đó, bài viết làm rõ vai trò của kiểm định chất lượng trong giáo dục đào tạo, cùng với việc công khai học phí để đảm bảo chất lượng giáo dục tương ứng, trong việc thực hiện trách nhiệm giải trình với các bên có liên quan. Tự chủ đại học vừa giảm bớt gánh nặng cho ngân sách nhà nước, vừa gia tăng nguồn lực tài chính để các cơ sở giáo dục đại học có thể đầu tư nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo, đạt được các tiêu chuẩn kiểm định chất lượng, hướng tới chuẩn quốc tế, phát triển bền vững. 1. Tự chủ trong bối cảnh đổi mới toàn diện giáo dục đào tạo Trong bối cảnh đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo trong điều kiện kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, hội nhập quốc tế Việt nam hiện nay thì việc thực hiện quyền tự chủ của các cơ sở giáo dục và đào tạo là tất yếu, khách quan. Trong Luật giáo dục 2019, các quy định về (i) tự chủ học thuật và tự chủ về tài chính được điều chỉnh theo hướng mở rộng phạm vi ảnh hưởng đến các cơ sở giáo dục đào tạo tư thục và tư thục hoạt động không vì lợi nhuận; đặc biệt là đối với các các cơ sở giáo dục mầm non, phổ thông; (ii) đổi mới quản trị ĐH để các cơ sở giáo dục và đào tạo nói chung và cơ sở GDĐH nói riêng thực hiện tự chủ và gắn với trách nhiệm giải trình. Tăng quyền tự chủ và trách nhiệm giải trình cơ sở giáo dục là một trong những tiêu điểm của đổi mới quản lý giáo dục Việt Nam. Đây là nhân tố cơ bản thúc đẩy cơ sở giáo dục có thể tạo ra những điều kiện tốt hơn cho dạy và học, là điều kiện cần thiết để thực hiện các phương thức quản lý cơ sở giáo dục tiên tiến nhằm nâng cao chất lượng giáo dục. Chất lượng quản lý càng tốt thì chất lượng đầu ra càng cao. Và đây cũng là những cơ sở pháp lý để các bên liên quan cùng rà soát, điều chỉnh và thiết lập các chính sách quản lý phù hợp với bối cảnh phát triển chung. 2. Tự chủ trong giáo dục đại học Thực hiện NQ77/NQ-CP ngày 24 tháng 10 năm 2014 về Thí điểm đổi mới cơ chế hoạt động đối với các cơ sở GDĐH công lập giai đoạn 2014-2017, tính đến tháng 8/2017, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định phê duyệt cho 23 cơ sở giáo dục đại học công lập thực hiện thí điểm. Phần lớn các trường được giao thí điểm có bề dày hoạt động lâu năm, có trụ sở chính ở Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh, ngoại trừ 01 trường ở Miền Trung (Trường Đại học Kinh tế - Đại học Đà Nẵng) và 02 trường ở Miền Tây 163
  2. (Đại học Trà Vinh và Đại học Y dược Cần thơ). Về cơ quan chủ quản, 47,4% 1 số trường trực thuộc Bộ GD&ĐT, số còn lại trực thuộc các Bộ hoặc UBND các tỉnh. Sự đặc thù này trong giai đoạn thí điểm đặt ra nhiều vấn đề trong công tác giám sát quá trình tự chủ và trách nhiệm giải trình của các trường đối với xã hội2. Với việc thực hiện cơ chế chính sách tự chủ của trường ĐH một cách hệ thống, ngày 14/2/2015 Chính phủ đã ban hành NĐ16/2015/NĐ-CP về Quy định cơ chế tự chủ của đơn vị sự nghiệp công lập, Nghị định quy định các nguyên tắc chung về cơ chế tự chủ của đơn vị sự nghiệp công lập trong đó bao gồm cả các đơn vị sự nghiệp công lập thuộc lĩnh vực giáo dục đào tạo. Cụ thể hơn, Nghị định ghi nhận quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong việc thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, nhân sự và tài chính của đơn vị sự nghiệp có thu ở các mặt tự chủ về thực hiện nhiệm vụ, về tổ chức bộ máy, về nhân sự, về xác định giá, phí dịch vụ sự nghiệp công, về tài chính và giao dịch tài chính. Và Luật GDĐH sửa đổi ban hành năm 2019 cũng thể hiện rõ việc thực hiện tự chủ ĐH cần gắn với trách nhiệm giải trình nhằm đổi mới quản lý, phát huy nội lực trong thực tế phải bắt đầu từ tự chủ tài chính, tài sản và tự chủ về bộ máy tổ chức và nhân sự; Quyền tự chủ và trách nhiệm là hai mặt đi đôi không thể tách rời. Trên cơ sở đó, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về GDĐH nói chung và tự chủ ĐH nói riêng đã được xây dựng và ban hành, từng bước thể chế hoá các chủ trương, chính sách của của Đảng và Nhà nước về tự chủ ĐH. Luật GDĐH 2019 được hình thành trên cơ sở Chính phủ đề xuất sửa đổi 39 điều, bổ sung 2 điều tập trung vào 4 nhóm vấn đề lớn, đó là: (i) Mở rộng phạm vi và nâng cao hiệu quả tự chủ đại học; (ii) Đổi mới quản trị đại học; (iii) Đổi mới quản lý đại học; (iv) Đổi mới quản lý nhà nước trong điều kiện thực hiện tự chủ đại học. Những điều chỉnh, sửa đổi bố sung này có liên quan đến chức năng và nhiệm vụ của Hội đồng trường (HĐT), tương đồng với hệ thống giáo dục của nhiều trường ĐH quốc tế (Theo Bộ GD&ĐT, 2018). Luật quy định gắn với: (1) Quyền tự chủ với trách nhiệm giải trình của các cơ sở GDĐH; (2) Quy định cụ thể các điều kiện để thực hiện quyền tự chủ trong đó: (i) thành lập HĐT - cơ quan cao nhất trong trường ĐH, có chức năng xây dựng chiến lược và giám sát thực thi chiến lược của BGH, HĐT; (ii) ban hành và thực hiện quy chế tổ chức và hoạt đông, quy chế tài chính, quy chế, quy trình, quy định quản lý nội bộ khác, có chính sách bảo đảm chất lượng; (iii) thực hiện phân quyền tự chủ tương ứng với trách nhiệm giải trình đến từng đơn vị, cá nhân; (iv) công khai điều kiện bảo đảm chất lượng, kết quả kiểm định, tỷ lệ sinh viên có việc làm và các thông tin khác; (3) Quy định cụ thể quyền tự chủ trong học thuật, hoạt động chuyên môn, tổ chức, nhân sự, tài chính, tài sản; (4) Quy định cụ thể trách nhiệm giải trình của cơ sở GDĐH đối với chủ sở hữu, người học, xã hội, cơ quan quản lý có thẩm quyền và các bên liên quan; 1 Báo cáo kết quả đánh giá tình hình thực hiện nghị quyết 77/NQ-CP về thí điểm đổi mới cơ chế hoạt động đối với các cơ sở giáo dục đại học công lập giai đoạn 2014 - 2017. 2 Thực trạng thí điểm Tự chủ đại học trong định hướng triển khai luật sửa đổi, bổ sung một số điều của luật giáo dục đại học. PGS.TS. Trần Đình Khôi Nguyên - Trường đại học kinh tế - ĐH Đà nẵng. Hội thảo “Cơ chế tự chủ đối với các Trường đại học công lập. Vấn đề đặt ra và vai trò của Kiểm toán nhà nước”, 2019. 164
  3. Việc thực hiện quyền tự chủ của các trường ĐH sẽ mang lại những thay đổi tích cực, góp phần mở rộng quy mô, nâng cao chất lượng đào tạo. Ý thức về cạnh tranh, trách nhiệm của lãnh đạo và đội ngũ cán bộ quản lý, giảng viên của các trường cũng từng bước được nâng lên, góp phần phát huy tính năng động, sáng tạo của đơn vị trong tổ chức, quản lý và triển khai thực hiện các hoạt động đào tạo, nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ. Nhiều cơ sở GDĐH đã có sự chủ động rà soát, kiện toàn lại tổ chức bộ máy và nhân sự, theo hướng hiệu quả hơn; tăng cường năng lực bảo đảm chất lượng của đơn vị thông qua việc nâng cao trình độ, năng lực cũng như thu hút đội ngũ giảng viên, chuyên gia giỏi tham gia giảng dạy và nghiên cứu khoa học, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo3. Dưới khía cạnh quản trị cơ sở giáo dục, Phạm Đỗ Nhật Tiến (2018) cho rằng: tự chủ là một trong ba trụ cột hình thành nên mô hình 3A (Tự chủ: Autonomy, Đánh giá: Assessment, Giải trình: Accountability) trong quản trị cơ sở giáo dục để lượng hóa mức độ tự chủ đối với một cơ sở giáo dục, sẽ căn cứ vào 5 tiêu chí: (1) Mức độ tự chủ trong lập kế hoạch và quản lý ngân sách nhà trường; (2) Mức độ tự chủ trong quản lý nhân sự; (3) Vai trò của Hội đồng trường trong quản trị nhà trường; (4) Đánh giá người học và đánh giá cơ sở giáo dục; (5) Giải trình với các bên liên quan 4. Điều kiện để các trường thực hiện tự chủ chính là giao quyền tự chủ đi cùng với trách nhiệm giải trình đối với cơ sở giáo dục đào tạo. Trách nhiệm này sẽ bao gồm: việc ĐBCL đào tạo, sử dụng hiệu quả các nguồn lực, thông tin minh bạch và trách nhiệm báo cáo giải trình công khai với công chúng, đem lại sự hài lòng cho người học và các bên có liên quan. Chính vì vậy, xu thế tự chủ đại học đồng nghĩa với việc kiểm định chất lượng các chương trình đào tạo đại học, kiểm định chất lượng các trường đại học, theo tiêu chuẩn quốc gia và quốc tế là một tất yếu khách quan của Đổi mới giáo dục đại học Việt nam hiện nay. 3. Kiểm định chất lượng Kiểm định chất lượng (KĐCL) trong giáo dục nói chung có vị trí quan trọng trong công tác đảm bảo chất lượng (ĐBCL). Vì vậy, KĐCL giáo dục luôn được coi là một trong các công cụ quan trọng nhất của ĐBCL, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục (CLGD), tăng cường trách nhiệm giải trình của các cơ sở giáo dục đào tạo với các cơ quan có thẩm quyền, với xã hội về hiệu quả, sự minh bạch nguồn lực mà nhà trường đã sử dụng để cung ứng dịch vụ giáo dục đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội. Trong bối cảnh hội nhập quốc tế về giáo dục ngày càng sâu rộng, KĐCL được xem là công cụ góp phần hoàn thiện thể chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa trong lĩnh vực quản lý giáo dục. KĐCL giáo dục mang lại những giá trị đích thực của quy trình đào tạo, phản chiếu chất lượng đào tạo ở mỗi một CSGD. Kết quả kiểm định (i) đánh giá chính xác 3 Các trường đã có sự điều chỉnh cơ cấu nhân lực theo hướng gia tăng lực lượng lao động trực tiếp (giảng viên), giảm đội ngũ lao động gián tiếp (chuyên viên và nhân viên). Tính đến tháng 7/2017, số lượng giảng viên chiếm 63,12% tổng số lực lượng lao động của các trường, lao động gián tiếp chiếm 29,78%. Số lượng cán bộ/giảng viên có học hàm giáo sư, phó giáo sư và học vị từ thạc sĩ trở lên tại các trường đã tự chủ tăng lên đáng kể, số lượng cử nhân giảm xuống so với giai đoạn trước tự chủ.16.514 tiến sĩ đang giảng dạy trong các trường đại học - chiếm 67,4%; đào tạo ở trong nước khoảng 16.000 tiến sĩ, chiếm khoảng 65,3%. 4 Tự chủ trong giáo dục phổ thông ở nước ta hiện nay: Hiện trạng và những việc cần làm. Mô hình 3A (Tự chủ: Autonomy, Đánh giá: Assessment, Giải trình: Accountability): Phạm Đỗ Nhật Tiến (2018) Tạp chí Cộng Sản, http://www.tapchicongsan.org.vn/Home/Van-hoa-xa-hoi/2018/50739/Tu-chu-trong-giao-duc-pho-thong-o- nuoc-ta-hiennay.aspx. 165
  4. hiện trạng là cơ sở để phân tầng năng lực đào tạo, và trả lời cho xã hội biết về chất lượng đào tạo (ii) được công khai với cơ quan chức năng quản lý và xã hội. Ðiều đó sẽ thúc đẩy tích cực các cơ sở giáo dục phải tìm nhiều giải pháp, giải bài toán đảm bảo và nâng cao chất lượng giáo dục của mình. Đối với chính phủ, các cơ quan kiểm định đóng vai trò là một chuyên gia về các vấn đề về giáo dục. Họ truyền tải và thực hiện một số những vấn đề liên quan tới ĐBCL mà chính phủ nêu ra bằng các cách phù hợp với hoạt động giáo dục, sẽ công khai chứng thực về thương hiệu của một cơ sở giáo dục hoặc chương trình đào tạo, kết quả kiểm định có vai trò quan trọng trong việc đưa ra định hướng cho những cải tiến đang diễn ra trong chất lượng của các cơ sở giáo dục đào tạo. Đối với bậc đào tạo ĐH: việc thực hiện KĐCL hiện cũng đã được Chính phủ đưa ra và có các quy định cụ thể trong các điều luật của Luật GDĐH. KĐCL trở thành yêu cầu bắt buộc đối với mỗi cơ sở giáo dục và đào tạo; được tham chiếu trong các điều luật của Luật và là công cụ/chế tài kiểm soát chất lượng. Và việc định chuẩn cũng đã được Chính phủ đề ra để các trường tự chủ thực hiện, yêu cầu minh bạch thông tin, tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát, xử lý vi phạm trong GDĐH; trên cơ sở hướng dẫn thực hiện, các Trường có tham chiếu cụ thể và có định hướng phát triển trong dài hạn để khẳng định vị thế và danh tiếng trong lĩnh vực đào tạo. Chính vì vậy, khi các trường ĐH đã trở thành các CSGD tự chủ, được trao quyền tự chịu trách nhiệm, trách nhiệm giải trình về chất lượng đào tạo và chi phí đào tạo chính là công cụ kiểm soát quan trọng để các bên có liên quan ( cơ quan quản lí nhà nước, người học người dạy, đơn vị sử dụng lao động…) có thể quản lí, giám sát một cách minh bạch và hiệu quả. 4. Trách nhiệm giải trình của cơ sở giáo dục đào tạo về chất lượng đào tạo và học phí Song song với giao quyền tự chủ và thực hiện quyền tự chủ cho các cơ sở GDĐH là tự chịu trách nhiệm. Quyền tự chủ đến đâu thì trách nhiệm tương xứng tới đó. Sự cân bằng giữa quyền tự chủ và trách nhiệm giải trình trở thành một chính sách hết sức quan trọng trong quản trị cơ sở giáo dục đối với nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam. Trách nhiệm giải trình không đơn thuần chỉ mang ý nghĩa “chịu trách nhiệm”, mà còn là “công khai, minh bạch thông tin”, và trách nhiệm giải trình bằng những minh chứng cụ thể, định tính, định lượng về hoạt động của nhà trường, phải được đo lường bởi các tiêu chí, tiêu chuẩn cụ thể. Trách nhiệm giải trình của trường đại học khi thực hiện quyền tự chủ được quy định tại Khoản 17 Điều 1 Luật GDĐH 2019. Theo đó, trách nhiệm giải trình của cơ sở GDĐH đối với chủ sở hữu, người học, xã hội, cơ quan quản lý có thẩm quyền và các bên liên quan được quy định như sau: - Giải trình về việc thực hiện tiêu chuẩn, chính sách chất lượng, về việc quy định, thực hiện quy định của cơ sở giáo dục đại học; chịu trách nhiệm trước pháp luật nếu không thực hiện quy định, cam kết bảo đảm chất lượng hoạt động; - Công khai báo cáo hằng năm về các chỉ số kết quả hoạt động trên trang thông tin điện tử của cơ sở giáo dục đại học; thực hiện chế độ báo cáo định kỳ, đột xuất với chủ sở hữu và cơ quan quản lý có thẩm quyền; - Giải trình về mức lương, thưởng và quyền lợi khác của chức danh lãnh đạo, quản lý của cơ sở giáo dục đại học tại hội nghị cán bộ, viên chức, người lao động; thực 166
  5. hiện kiểm toán đối với báo cáo tài chính, báo cáo quyết toán hằng năm, kiểm toán đầu tư và mua sắm; giải trình về hoạt động của cơ sở giáo dục đại học trước chủ sở hữu, cơ quan quản lý có thẩm quyền; - Thực hiện công khai trung thực báo cáo tài chính hằng năm và nội dung khác trên trang thông tin điện tử của cơ sở giáo dục đại học theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo; - Thực hiện nội dung, hình thức giải trình khác theo quy định của pháp luật Như vậy với sự ra đời của Luật giáo dục 2019, vấn đề tự chủ về chuyên môn, tài chính và nhân sự được đặt ra cho các trường. Quyền tự chủ về chuyên môn của các cơ sở GDĐH được sửa đổi cho phù hợp mức độ can thiệp của cơ quan quản lý nhà nước và gắn liền với trách nhiệm giải trình. Các cơ sở GDĐH nói chung thực hiện 3 công khai và chịu trách nhiệm với các bên liên quan về chất lượng đào tạo theo định chuẩn trong nước và quốc tế. Tương ứng là cơ chế tự chịu trách nhiệm về tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính. Để tạo hành lang pháp lý thực hiện, các đơn vị quản lý nhà nước đã liên tục ban hành, sửa đổi, bổ sung các văn bản dưới luật ngày càng phù hợp với yêu cầu thực tiễn, đặc biệt là các vấn đề trong hợp tác quốc tế nghiên cứu khoa học, tài chính và đầu tư... Cơ sở GDĐH có quyền chủ động xây dựng và quyết định mức giá dịch vụ đào tạo trên cơ sở khung giá của Chính phủ, đảm bảo tương xứng với chất lượng đào tạo. Cơ sở GDĐH được quyết định các dự án đầu tư sử dụng nguồn thu hợp pháp ngoài ngân sách của mình; quyết định nội dung và mức chi từ các nguồn thu hợp pháp…nhưng không nằm ngoài phạm vi hướng dẫn thực hiện của Luật ngân sách và các thông tư liên tịch...của Chính phủ có liên quan liên quan đến vấn đề vốn nhà nước và quản lý tài sản nhà nước trong đầu tư, huy động và sử dụng nguồn lực tài chính. Các cơ sở GDĐH được xác định giá thành – chi phí cấu thành nên chất lượng của dịch vụ, bao gồm các chi phí tính đúng, tính đủ, không bao gồm lãi/lợi nhuận của dịch vụ giáo dục đại học - là cơ sở để xác định học phí, tiến tới thực hiện tính giá dịch vụ giáo dục đào tạo. 5. Kết luận Việc công khai, minh bạch chất lượng dịch vụ đào tạo và giá thành dịch vụ đào tạo là cơ chế hiệu quả để các bên có liên quan kiểm soát, giám sát chất lượng dịch vụ của cơ sở giáo dục đào tạo. Khi đó, cơ quan quản lí nhà nước, người học, gia đình, xã hội người sử dụng lao động sẽ được cung cấp thông tin một cách đầy đủ, công khai về giá thành dịch vụ giáo dục đào tạo. Đồng thời, việc tính đúng, tính đủ chi phí dịch vụ giáo dục đào tạo, cũng góp phần giảm bớt gánh nặng cho ngân sách nhà nước, đồng thời tạo nguồn tài chính để cơ sở GDĐT nâng cao chất lượng giáo dục, đáp ứng tốt hơn các yêu cầu kiểm định. 167
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2