TỰ DO VÀ TRÁCH NHIỆM TRONG HOẠT ĐỘNG CỦA CON NGƯỜI
NGUYỄN VĂN PHÚC (*)
Phân tích quan hệ giữa tự do và trách nhim, tác giả khẳng định rằng, tự do
và trách nhiệm chính là những biểu hiện sức mạnh bản chất của con người.
Tự do và trách nhiệm hình thành và phát triển trong tiến trình lịch sử của
nhân loại cũng như của các cộng đồng người và là mục tiêu, động lực của sự
phát triển xã hội và con người. Trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay, tự do
và trách nhiệm của con người được mở rộng và nâng cao hơn bao giờ hết.
Tuy nhiên, tự do và trách nhiệm của con người cũng đang chịu những thách
thức nghiêm trọng. Bởi vậy, nâng cao trách nhiệm của mỗi người và của toàn
nhân loại trong việc giải quyết những vấn đề toàn cầu là con đường tất yếu
để phát triển tự do của con người và loài người.
Tự dotrách nhiệmhai phương diện của một vấn đề. Không thể có trách
nhiệm mà không được tự do trong lựa chọn giá trị và hoạt động, cũng như
không thể có tự do thuần túy không liên quan gì đến trách nhiệm đối với
người khác, đối với xã hội.
1. Tự domột trong những biểu hiện sức mạnh bản chất của con người,
đồng thời là khát vọng, là định hướng giá trị cho hoạt động người. Chưa có tự
do nghĩa là chưa thoát khỏi tình trạng bản năng, động vật. Trình độ phát triển
tự do của con người là tiêu chí đánh giá trình độ chinh phục tự nhiên và xã
hội, trình độ phát triển nhân cách con người và tiến bộ xã hội. Tự do không
phải là sản vật của tạo hoá ban tặng, cũng không phải bẩm sinh mà con người
có được. Tự do gắn với quá trình hot động của con người, với lịch sử phát
triển loài người. Sự phát triển của tự do bị quy định bởi nhu cầu và trình độ
phát triển của lịch sử nhân loại trong các thời đại cụ thể. Do vậy, trong tiến
trình phát triển của tư tưởng nhân loại, tự do luôn được nhìn nhận và lý giải
với những quan điểm khác nhau.
Một trong những quan điểm đã tồn tại từ lâu trong lịch sử là quan điểm coi tự
do như cái đối lập hoàn toàn và tách rời cái tất yếu. Theo quan điểm này, t
do là khả năng lựa chọn và thực hiện theo ý chí riêng của mỗi người về giá trị
và hành vi. Sự lựa chọn này là sự lựa chọn tự do và chlà tự do khi không bị
quy định bởi bất cứ một tính tất yếu nào, tính quy định nào từ bên ngoài ch
thể. Ngay từ thời cổ đại, Êpiquya đã từng nói về tự do như là sự “chệch
hướng” tuỳ ý khỏi tất yếu được định trước. Trong điều kiện của xã hội hiện
đại, những nhà hiện sinh nhìn nhận tự do ý chí như là phẩm chất đặc biệt của
con người, chính xác hơn, là phẩm chất của con người hiện sinh. Theo đó, tự
do ý chí là khả năng hành động phù hp với ý chí cá nhân, một ý chí không bị
quy định bởi bất kỳ một điều kiện nào của hoàn cảnh bên ngoài. Theo họ, chỉ
có như vậy con người mới có tự do. Khi có tự do thì con người mới thực sự
có trách nhiệm, bởi trách nhiệm chính là trách nhiệm của con người trước bản
thân mình, trách nhiệm về những hành động được lựa chọn một cách tự do.
Ngược lại, nếu nhìn nhận hành động của con người bị quy định bởi hoàn
cảnh, bởi tính tất yếu bên ngoài thì điều đó không chỉ có nghĩa là con người
không có tự do, mà đồng thời còn có nghĩa là con người không có trách
nhiệm, vì con người không phải chịu trách nhiệm về những hành động mà h
không được lựa chọn một cách tự do. Tuy nhiên, trong thực tế, liệu có thể có
một hành động mang tính người nào tdo đến mức không hề liên quan đến
lợi ích của người khác, của xã hội, nghĩa là không liên quan đến những yêu
cầu bên ngoài mang tính tất yếu? Chính vì vậy, quan điểm hiện sinh về tự do
từng bị phê phán là đã hạ thấp tự do xuống trình độ tự do vô trách nhiệm.
Khác với quan điểm trên, những người theo quyết định luận máy móc lại
hoàn toàn phủ nhận tự do ý chí. Đối với họ, hành động của con người chẳng
qua chlà sthể hiện, thực hiện những tính tất yếu nhất định và do vậy, hoàn
toàn bchi phối bởi những điều kiện bên ngoài mang tính khách quan tuyệt
đối. Quan điểm này tất dẫn đến định mệnh luận. Nó không khích lệ con người
phấn đấu cho tự do, đồng thời, trách nhiệm mà con người phải thực hiện cũng
mất đi ý nghĩa tích cực, vì trách nhim đó không phản ánh được sức mạnh
bản chất của con người.
Thực ra, tự do và tất yếu có mối quan hệ nội tại và việc nhận ra mối quan hệ
này cũng đã có từ lâu trong lịch sử. Ở phương Đông, Đạo gia và Nho gia đã
nhìn nhận tự do như là sự nhận thức được tính tất yếu. Chẳng hạn, với Đạo
gia, Đạo là bản nguyên của vũ trụ, quy luật của trời đất. Đạo bao gồm đạo trời
và đạo người. Đạo người là hình thức thể hiện của đạo trời và do vậy, nó phải
phục tùng đạo trời. Hành động của con người, đặc biệt là hành động quản lý
xã hội, sẽ trở thành hành động tự do, tức là vô vi khi thuận theo quy luật của
trời đất. Còn Nho gia thì nhìn nhận toàn bhành động của con người (từ vua
quan đến thứ dân) đều chỉ là sự thể hiện và thực hiện các nghĩa vụ, trách
nhiệm đạo đức, mà đằng sau các nghĩa vụ đạo đức đó của con người chính là
Thiên mệnh. Thực hiện các nghĩa vụ đạo đức mang tính tất yếu như vậy, con
người sẽ đạt đến trạng thái thanh thản lương tâm, nghĩa là đạt tới trạng thái tự
do, tự tại. Ở phương Tây, B.Xpinôda và, đặc biệt là, G.Hêghen đã nhìn nhận
tự do như là cái tất yếu đã được nhận thức. Phát triển quan điểm của
G.Hêghen, C.Mác và Ph.Ăngghen cho rằng, tự do chân chính của con người
không chỉ là nhận thức được tính tất yếu khách quan (nghĩa là, tự do không
chỉ là một trạng thái tinh thần - trạng thái tự do), mà còn là khả năng nắm bắt
được các quy luật tự nhiên và các quy luật xã hội để chủ động và tích cực cải
tạo, thúc đẩy xã hội phát triển. Như vậy, tự do là năng lực và quá trình cải
biến tính tất yếu khách quan bên ngoài thành nhu cầu chủ quan bên trong thúc
đẩy hành động của con người. Ph.Ăngghen viết: “Tự do không phải là sự
độc lập tưởng tượng đối với các quy luật của tự nhiên, mà là sự nhận thức
được những quy luật đó và cái khả năng - có được nhờ sự nhận thức này -
buộc những quy luật đó tác động một cách có kế hoạch nhằm những mục đích
nhất định”(1). Điều đó cũng có nghĩa là, tự do có cơ sở trong thực tiễn. Thực
tiễn là tiêu chun chyếu của tự do và là phương tiện chủ yếu để đạt tới tự
do.
Trong các quan hệ xã hội của con người, tự do biểu hiện một cách tập trung
và thực tế ở các quyền con người. Tự do nghĩa là con người có những quyền -
những quyền này là bất khả xâm phạm. Sự pt triển và sự phong phú các
quyền, cũng như những đảm bảo xã hội cho sự thực hiện các quyền đó trở
thành tiêu chí của sự phát triển tự do và tiến bộ xã hội.
Tuy nhiên, quyn với tính cách là biểu hiện của tự do sẽ không thể có được
nếu không có trách nhiệm với tính cách là biểu hiện của tất yếu. Cụ thể hơn,
trong quan hxã hội, quyền của người này lại giả định trách nhiệm của người
khác, quyền của cá nhân giả định trách nhiệm của xã hội, và ngược lại. Theo
Leopold, triết gia hiện đại người Mêhicô, “tự domột giá trị chỉ có thể dùng
để nói đến một cá nhân cụ thể. Nếu không nó sẽ trở thành một thứ trừu tượng,
và cũng cần nhắc lại rằng, không có tự do trừu tượng”(2). Đồng thời, ông
phản đối tự do tuyệt đối, vì nó đồng nghĩa với thói vô trách nhiệm. Tự do,
theo ông, cũng là trách nhiệm, là sự cam kết. Bởi vì, “tôi tự do nhưng tôi còn
có sự cam kết đối với tự do của người khác”(3). Như vậy, tự do và trách
nhiệm tuy khác biệt nhưng thống nhất và quy định lẫn nhau.
2. Trách nhiệm thường được hiểu là khả năng của con người ý thức được
những kết quả hoạt động của mình, đồng thời, là khả năng thực hiện một cách
tự giác những nghĩa vụ được đặt ra cho mình. Cũng như tự do, trách nhiệm và
sự phát triển năng lực trách nhiệm của con nời gắn liền và bị quy định bởi
những nhu cầu phát triển của đời sống con người. Trách nhiệm hình thành
trong quá trình điều chỉnh lợi ích giữa người và người, giữa cá nhân và cộng
đồng, giữa cá nhân và xã hội. Con người sống và thực hiện lợi ích của mình
trong một cộng đồng, một xã hội nhất định. Lợi ích của mỗi người chỉ có thể
thực hiện được trong một tương quan nhất định với lợi ích của người khác,
của xã hội. Cụ thể hơn, để thực hiện lợi ích của mình, mỗi người phải đáp
ứng, ở một mức độ nào đó, lợi ích của người khác, lợi ích của xã hội. Cũng
như vậy, lợi ích của xã hội chỉ có thể được thực hiện khi xã hội có những bảo
đảm nhất định cho lợi ích của cá nhân với tư cách thành viên xã hội. Chính từ
đây, vấn đề nghĩa vụ trong hoạt động của con người nảy sinh. Nếu quyền là
hình thức biểu hiện tự do thì nghĩa vụ là hình thức biểu hiện của trách nhiệm.
Như vậy, tự do là hành động thực hiện trách nhiệm một cách tự giác, tự
nguyện; còn trách nhiệm là hành động đáp ứng và đảm bảo cho tự do của
con người.
Xét vmặt giá trị, trách nhiệm tồn tại dưới hai hình thái cơ bản: hình thái tích
cực, tức là hình thái có trách nhiệm của con người; và hình thái tiêu cực, tức
là hình thái chịu trách nhiệm của con người.
Dưới hình thái tích cực, trách nhiệm thể hiện ở những hoạt động nhằm duy trì
và phát triển lợi ích xã hội, duy trì và phát triển trật tự xã hội, pháp chế, đạo
đức. Trong trường hợp này, trách nhiệm của con người là sự ý thức và kh
năng của họ trong việc thực hiện những đòi hi, những yêu cầu của người
khác, của cộng đồng và của xã hội. Con người có trách nhiệm là con người
thấy trước được những hậu quả của hành động, hành vi của mình, cgắng
ngăn chặn những tác hại có thể xảy ra đối với lợi ích của xã hội.
Dưới hình thái tiêu cực, trách nhiệm phát sinh ở những nơi lợi ích của xã hội
và của con người bị vi phạm. Cụ thể hơn, mỗi người (hoặc mỗi tổ chức, thiết
chế), trên cương vị của mình, có một trách nhiệm nhất định với người khác,
với xã hội. Khi không thực hiện trách nhiệm, hoặc thực hiện không đầy đủ
trách nhiệm mà không có lý do xác đáng thì người đó phải chịu trách nhiệm
về hoạt động, hành động của mình. Trong trường hợp đó, trách nhiệm mà con