T TRƯỜNG TRÁI ĐT
1. La bàn
Lch s la bàn bắt đầu t hơn 1000 năm trước ng nguyên, lúc đó người Trung quốc khám
phá ra nguyên tắc dần dần phát triển thêm. Các sử sách y phương ghi lại la bàn từ
dùng kim nam châm được các nhà hàng hi Trung hoa dùng khoảng năm 1100 Tây lịch. c
thy th Anh, theo hc gi Alexander Neckam viết trong sách De Utensilibus (Về các dụng
cụ) vào năm 1190, đã dùng la bàn từ trong khi đi biển.
Người Arp bắt đầu dùng la bàn khoảng năm 1220 khoảng năm 1250 thì người Viking đã
biết dùng loại la bàn này. Thuở đó người ta dùng một thanh nam châm, đặt trên một miếng g
nh hay trên một cng sy rồi đặt vào một tô nước. Miếng g hay cộng sây giúp cho kim nam
châm nổi trên nước, làm triệt tiêu các lực ma sát. Nước giúp cho kim bớt chao đảo khi tàu lắc
nghiêng hay dọc.
Kim nam châm chất sắt từ tính thiên nhiên lấy
t trong đá mang tên lodestone (có chỗ viết
loadstone còn tên magnetite), ly t ch
lodestar - theo người đi biển ngôi sao chỉ đường -
sao Bắc đẩu (Polaris hay Pole star tiếng Anh Étoile
polaire tiếng Pháp). Người ta cũng sớm biết nếu để
cho mt thanh kim loi chạm vào đá nam châm thì
thanh kim loại cũng đặc tính như đá nam châm,
nghĩa là khuynh hướng ch v một phía tương đi
c định. t tính được truyền theo cách thức đó
th b mt dn theo thi gian. Do vy, các tàu dùng
la bàn t thời xa xưa vẫn phi mang theo một viên đá
nam châm loại tốt, để thể nam châm hoá hay t hóa
kim la bàn khi cần người ta đã biết đến s t hóa
vào khoảng thế k th 11.
Trung Quc được xem là nước đầu tiên dùng la bàn t trong ngành hàng hải. Trước khi phát
minh ra la bàn, thủy th định hướng bng v trí mặt Trời lúc ban ngày v trí của sao vào
ban đêm, ngoài ra họ cũng thường định hướng theo hướng gió mậu dch (Trade winds) theo
mùa. Người ta đã tìm đưc nhng bản đ thiên văn cho vị trí các chòm sao. Trong một bn
đồ thiên văn xưa của Trung quốc ta thể thấy chòm sao Thần nông (Scorpio hay Scorpion)
chòm sao Thiên ngưu (Taurus hay Taureau). Nhưng khi tri nhiều mây hoặc mưa thì
không thể định hướng được la bàn từ đã giúp giải quyết việc định hướng trong mọi hoàn
cnh thi tiết, k c việc định hướng của gió mậu dch.
La bàn từ 1 trong 4 phát minh ln nht ca Trung Hoa c đại. Người Trung Hoa c đại
(thời đại nhà Tần 221- 206 TCN) chế ra la bàn chỉ gm 1 chiếc thìa1 (làm t nam châm thiên
nhiên) đặt trên 1đế đồng (do đồng ko ảnh hưởng t trường), phn muỗng như trục, thể
quay xung quanh, sau khi cân bằng tĩnh, cán thìa ch v hướng Nam (do h quan niệm hướng
Nam hướng vua chúa,đất đai màu mỡ, phì nhiêu). La bàn còn được gọi kim chỉ nam
(ch ko phi kim ch Bắc) người Trung Quc tạo ra la bàn nhm mục đích mở rộng lãnh
th v phía Nam, h tô màu vào cực Nam ca nam châm (chứ ko phải tô màu đỏ vào cực Bc
như người châu Âu), ch huy đoàn quân đi theo hướng ca chiếc kim là đến nơi chiến đấu.
1 Muỗng, muôi, vá …
Người Rp học được cách dùng la bàn từ trong khi buôn bán với Trung Hoa. Sau đó la bàn
t được đem qua Tây Âu vào cuối thế k th 12, rồi đến Bắc Âu vào thế k th 13. Trong
thời Đại Minh (1368-1644), la bàn Trung Quốc được chú ý đưa vào s dng nht bi v đô
đốc và tướng quân nổi tiếng, Trịnh Hòa (1371-1435). Theo lệnh Hoàng đế, Trịnh Hòa đã thực
hin 7 chuyến thám hiểm t năm 1405 năm 1433. Ông kh năng s dng chiếc la bàn
Trung Quốc này để xác định đường đi tới các vùng biển rập -út, Thái Lan, Đông Phi,
nhiu quc gia nh hơn khác.
T cui thế k th 15 cho tới đu thế k 16, những nhà hàng hải Âu châu đã đi thám hiểm
nhiều nơi, vẽ những đường đi mới, khám phá ra châu M đã thực hin nhng chuyến đi
vòng quanh thế gii. Nếu không la bàn từ thì khó thể thc hiện được c chuyến vin du
này.
Cu to chiếc la bàn
Những người đi biển ban đầu dùng "ch Nam", dùng sắt cắt hình con cá, rồi được t hóa.
Khi được th nước, "chỉ Nam" s lửng trong nước nằm theo trc Bắc Nam.
người ta vn phi t hóa "" khi nào từ tính của nó yếu đi như đã nói trên. Dần dn người
ta thay "" bng mt cây kim bằng sắt đã được chà sát trên một nam châm thiên nhiên. Khi
kim đã được độ t hóa cần thiết, kim s ch hướng Nam khi nằm trên một miếng g nh hay
mt cng sy, bnh bồng trong nước - đó là la bàn đầu tiên. Sau đó kim t hóa được gắn vào
một cái chén đã ghi phương hướng, thường là bốn phương chính Ðông, Tây, Nam, Bắc
bốn phương bàng: Ðông Nam, Ðông Bắc, Tây Nam Tây Bc. V sau, còn thêm tám
hướng ph nữa như Bắc Ðông Bắc, Tây Tây Nam ...
Lúc đầu mặt la bàn (còn gọi là Hoa gió, Compass Rose) được chia thành 32 khoảng, sau đó
khắc theo vòng tròn thành 360 độ. Trên bộ, quân đội các nước dùng la bàn từ chính xác hơn,
chia thành 6400 khắc. Ngành hàng không cũng dùng la bàn từ. Cho đến bây giờ, phn lớn các
phi trực thăng một s phi nhỏ vẫn còn được trang b la bàn từ để làm khí cụ định
hướng.
La bàn thế k 19
Khi s dụng trong ngành hàng hải, la bàn từ được dùng để ch hướng đi. Ðược trang b thêm
dng c đo hướng người ta dùng la bàn t để đo hướng đối chiếu t hai hay ba đi vật được
xác định theo bản đ hải hành (đỉnh hay mõm núi, đèn phao, hải đăng, các kiến trúc đặc bit
... để xác định v trí con tàu, từ đó tính được khoảng cách đã đi, vận tốc, hướng phải đi ...
có thể nghiệm thêm, qua các cách tính, có hay không có giòng nước ngm, sức gió ...
La bàn với hoa gió và các phương chính, phương bàng
Trong thi cận đại, la bàn được gn với hoa gió, có đường tim (lubber line đường tương ứng
vi trc theo chiều dài của con tàu) đặt trong bầu la bàn, mặt trên kiếng trong đèn
soi sáng. Bầu la bàn chứa mt cht lỏng mật độ (densité) rất gn vi trọng lượng chung
của hoa gió kim nam châm để triệt tiêu sc da ca phần này trên trục chu. Bầu la bàn
được treo trong h thống gimbals để lúc nào cũng giữ được mặt la bàn t theo v trí mặt
phẳng. Ðài để đặt la bàn (pinnacle) thường được gn rt vng chắc trên trc gia theo chiu
dài con tàu. Hai bên bầu la bàn từ hai trái cầu tròn bng kim loại thể xê dịch được.
Người ta di chuyển hai trái cầu này trên giá của chúng để kh ảnh hưởng lên trên nam châm
của la bàn do các kim loại trên tàu gây ra. Ngày nay người ta có th điều chỉnh la bàn từ bng
cách so sánh các hướng đo bằng la bàn từ với hướng đo bằng la bàn điện.
La bàn máy bay (trái), la bàn đi biển - hi bàn (phi) và la bàn quân sự (dưới)