intTypePromotion=1

Tư tưởng "bất vong bản" thể hiện cội nguồn đạo lý Á Đông đặc trưng của công tử Hường Thiết (khảo sát qua văn bia mộ Lục Khanh Hường Thiết)

Chia sẻ: ViShizuka2711 ViShizuka2711 | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:11

0
15
lượt xem
1
download

Tư tưởng "bất vong bản" thể hiện cội nguồn đạo lý Á Đông đặc trưng của công tử Hường Thiết (khảo sát qua văn bia mộ Lục Khanh Hường Thiết)

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Bài viết trình bày vài nét về lăng mộ hợp khoáng sinh phần và văn bia về Lục Khanh Hường Thiết, nguyên tác hán văn, phiên âm, dịch nghĩa văn bia mộ Hường Thiết, giá trị tư liệu của văn bia mộ Lục Khanh Hường Thiết: những nhận định bước đầu.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Tư tưởng "bất vong bản" thể hiện cội nguồn đạo lý Á Đông đặc trưng của công tử Hường Thiết (khảo sát qua văn bia mộ Lục Khanh Hường Thiết)

Nghiên cứu - Trao đổi<br /> <br /> <br /> <br /> <br /> TƯ TƯỞNG “BẤT VONG BẢN” THỂ HIỆN CỘI NGUỒN ĐẠO LÝ<br /> Á ĐÔNG ĐẶC TRƯNG CỦA CÔNG TỬ HƯỜNG THIẾT<br /> (khảo sát qua văn bia mộ Lục Khanh Hường Thiết)<br /> ? Võ Vinh Quang *<br /> <br /> <br /> <br /> <br /> 1. Dẫn đề<br /> Lục Khanh Hường Thiết là một trong những danh<br /> nhân văn hóa tiêu biểu của vùng đất Đế đô cuối thế<br /> kỷ XIX - đầu thế kỷ XX. Nguyễn Phúc Hường Thiết<br /> (1850 - 1937), con trai thứ 18 của Đức Ông Tuy Lý<br /> Vương Miên Trinh và bà Nguyên cơ Phạm Thị Thìn -<br /> sinh ngày 25 tháng 11 năm Kỷ Dậu, niêu hiệu Tự Đức<br /> thứ 2 (tức ngày 07.01.1850) tại Huế, tự Lục Khanh 彔<br /> 卿, hiệu Tiểu Thảo 小草, Liên Nghiệp Hiên 連業軒,<br /> pháp danh Thanh Thiện 倩善.1 Được sinh ra trong<br /> một gia đình Hoàng thân tiêu biểu với truyền thống<br /> thi thư lễ nhạc vẹn toàn, Hường Thiết đã kế thừa và<br /> phát triển tinh hoa giáo dục từ “nếp nhà” một cách<br /> cao đẹp nhất.<br /> Nếu công tử Hường Khẳng (phòng Tùng Thiện<br /> Vương) luôn thể hiện mình là một nhà nho đức cao<br /> vọng trọng, được nhiều người Pháp kính trọng và<br /> tôn xưng là “THẦY” (như ông Hyppolyte Le Breton khi<br /> viết về cuộc đời và sự nghiệp của Hường Khẳng, đăng<br /> trên BAVH - Những người bạn cố đô Huế - số 2 năm<br /> 1936) thì công tử Hường Thiết (phòng Tuy Lý Vương)<br /> Toàn cảnh văn bia (trong nhìn ra).<br /> lại là người am tường nhiều lĩnh vực của văn minh<br /> phương Tây, thường “cùng bàn luận về pháp luật tốt<br /> Yếu tố nền tảng Tây phương ấy là “cái để hành” với<br /> đẹp của các nước Âu - Mỹ, khiến cho các quan sứ Pháp<br /> đời. Còn, “cái ẩn tàng” chất chứa trong chính con tim<br /> khâm phục trình độ thông bác, càng thêm kính trọng”<br /> và trí tuệ của ông chính là đạo lý Á Đông, với tinh thần<br /> (văn bia mộ Lục Khanh Hường Thiết). Điều đó chứng<br /> cốt tủy “bất vong bản” (không quên gốc rễ, nguồn<br /> tỏ rằng các bậc thức giả người Việt đương thời như<br /> cội), đồng thời đó là đạo lý “xử gia vi thiện tối lạc”<br /> Hường Khẳng, Hường Thiết mỗi người một vẻ, và đều<br /> (dùng thiện hạnh theo đúng lễ để cư xử trong gia tộc<br /> là những nhân vật có tác động rất lớn đối với cách<br /> là tốt đẹp, vui hòa vô cùng). Đạo lý sống cốt yếu đó<br /> nhìn nhận đầy tôn trọng của người Pháp đối với nhân<br /> đều được thể hiện tại bài văn bia và hoành phi, câu<br /> sĩ, trí thức Việt khi đặt chân đến An Nam.<br /> đối trong khu mộ hợp khoáng sanh phần (mộ chung<br /> Lục Khanh công có những tri thức đáng kính nể được tạo dựng khi đang còn sống) của Lục Khanh<br /> đối với văn hóa, văn minh phương Tây lẫn Á Đông. Hường Thiết.<br /> *<br /> TS., Phân Viện Văn hóa Nghệ thuật Quốc gia Việt Nam tại Huế.<br /> <br /> Phaùt trieån Kinh teá - Xaõ hoäi<br /> Ñaø Naüng<br /> 53<br /> Nghiên cứu - Trao đổi<br /> <br /> <br /> 2. Vài nét về lăng mộ hợp khoáng sinh phần và<br /> văn bia về Lục Khanh Hường Thiết<br /> Khu lăng mộ của Tiểu Thảo tiên sinh hiện nằm<br /> trong khuôn viên khu lăng mộ của phòng Tuy Lý<br /> Vương cạnh chùa Thiên Hòa, phường Thủy Xuân,<br /> thành phố Huế (gần khu vực Bàu Vá). Đây là loại mộ<br /> sanh phần, được dựng vào năm Ất Sửu, niên hiệu<br /> Khải Định thứ 10 (1925). Lúc này, ông được 76 tuổi,<br /> vẫn còn rất minh mẫn khỏe mạnh. Dựng xong ngôi<br /> sanh phần này, tiến sĩ Nguyễn Văn Trình đã trực tiếp<br /> soạn bài văn bia, hiện đặt trước khuôn viên mộ.<br /> Toàn cảnh bức bình phong tiền trước mộ Hường Thiết.<br /> Mộ hợp khoáng sanh phần của Lục Khanh công<br /> mặc dù không lớn nhưng thanh nhã, địa thế khoáng số 3 (62) năm 2007 (trang 123 - 130). Tuy nhiên, khi<br /> đạt, mặt trước mộ hướng về lăng mộ của Tuy Lý Vương đối chiếu với nguyên bản Hán văn trên bia đá tại khu<br /> ở phường Đúc (cách tầm 1 km theo đường chim bay). mộ Lục Khanh công, chúng tôi thấy bản của hai nhà<br /> Trước ngôi mộ đặt một tấm bia đá ghi chép bài văn nghiên cứu cung cấp chưa chuẩn xác so với nguyên<br /> bia khái quát về cuộc đời, sự nghiệp và tư tưởng cốt tác tại bia đá. Chẳng hạn như phần âm bản của văn<br /> yếu trong quan niệm sống của công tử Hường Thiết. bia có đoạn ghi “đốc chí vi thi” 篤志為詩 (dốc chí vào<br /> Bia có tổng chiều cao - rộng - dày lần lượt là 165 x làm thơ) thì các tác giả lại nhầm thành “tả chí vi thi”<br /> 90 x 15 cm. Đế bia, dài - rộng - cao là 100 x 40 x 28 寫誌為詩 (bản dịch: “có sách về thơ ca?”), “Tự Đức<br /> cm, được đặt trang trọng trên ba cấp xi măng. Trán nhị niên thập nhất nguyệt sinh” 嗣德二年十一月生<br /> bia có hình thù như chiếc mũ cánh chuồn, được trang [ông Hường Thiết sinh vào tháng 11 năm Tự Đức thứ<br /> trí theo motif “lưỡng long chầu nhật” cách điệu, xung 2 (dương lịch: 07.01.1850)] thì trong bài lại viết “Tự<br /> quanh là hình những vầng mây bao bọc. Chiều dài Đức lục niên thập nhất nguyệt sinh” 嗣德六年十一月<br /> nhất (đế trán bia) là 100 cm, chiều cao trán bia là 45 生 [sinh vào tháng 11 năm Tự Đức thứ 6]; Hiệu của<br /> cm; diềm bia dày 7,5 cm trang trí bằng dây leo hoa công tử Hường Thiết là Liên Nghiệp Hiên 連業軒 [liên<br /> lá. Văn bia hai mặt. Mặt trước (dương bản, hướng đối 連 không có bộ thảo đầu] thì các tác giả lại viết Liên<br /> diện với ngôi mộ phần) có 28 dòng, dòng ít nhất 28 Nghiệp Hiên 蓮業軒 [liên 蓮 có bộ thảo đầu); Phần<br /> chữ, nhiều nhất là 37 chữ. Do để ngoài trời, không có dương bản cũng có nhiều nhầm lẫn như “Đường di<br /> nhà bia che chắn và trải qua gần 100 năm với nhiều lão minh đạt Lễ trúc cao khâu” 唐遺老明達禮築高邱<br /> biến động của thời tiết, chiến tranh nên bia đá hiện đã (các bậc di lão đời Đường thông tỏ Lễ, dựng gò cao)<br /> bị khuyết mất bốn mảnh, song cũng không tác động thì các tác giả lại đọc nhầm thành “Đường đạo lão,<br /> quá nhiều đến nội dung bia. Mặt sau (âm bản, cùng Minh đạt lễ, trúc cao khâu” 唐道老明達禮築高邱 (bản<br /> hướng xuống khu vực Bàu Vá) là biểu hiện của loại dịch: “đạo lão thời Đường, đạt lễ thời Minh. Ông đắp<br /> hình bia mộ đề tên chủ nhân ngôi mộ cùng vài dòng gò cao…?”); Nguyên tác Hán văn trên bia đá viết “bắc<br /> tóm lược về nguồn gốc xuất thân, quan điểm sống chiêm cung khuyết, đông hướng gia từ” 北瞻宮闕東向<br /> (sát bên góc phải), niên hiệu và người soạn văn bia 家祠 (phía bắc ngó về cung khuyết, phía đông hướng<br /> (sát mép bên trái văn bia). Ở khoảng giữa của dòng đến gia từ [từ đường gia tộc]) thì các tác giả viết “thác<br /> chữ lớn đề tên tuổi tước hiệu chức vụ của chủ nhân chiêm cung khuyết, đông hướng gia từ” 托瞻宮闕東<br /> ngôi mộ bằng đại tự và dòng niên hiệu ngày tháng 向家祠 (bản dịch: “dõi nhìn cung khuyết, phía đông<br /> năm, người soạn văn bia ở sát mép bên trái văn bia quay về nhà thờ gia tiên”)… Và trên hết, phần “hồn”<br /> có hai ô hình chữ nhật với các dòng chữ nhỏ hơn (có của văn bia - yếu tố chủ đạo đóng vai trò chi phối<br /> lẽ được khắc về sau) ghi bằng cấp hàm do vua thăng mọi yếu tố khác là tư tưởng “bất vong bản” và đạo<br /> cho ông vào các năm 1931, 1936, 1937. “xử gia vi thiện tối lạc” xuyên suốt trong ý niệm của<br /> Văn bia mộ ông Hường Thiết đã được hai tác giả công tử Hường Thiết chưa được thể hiện rõ tại bài viết<br /> Lê Nguyễn Lưu - Nguyễn Thị Quỳnh Trâm dịch thuật của hai tác giả.<br /> công bố trong bài viết “Bài văn bia mộ Lục Khanh Thời gian qua, chúng tôi tập trung nghiên cứu về<br /> Hường Thiết” trên tạp chí Nghiên cứu và Phát triển di sản tư liệu liên quan đến dòng tộc nhà Nguyễn. Với<br /> <br /> 54 Phaùt trieån Kinh teá - Xaõ hoäi<br /> Ñaø Naüng<br /> Nghiên cứu - Trao đổi<br /> <br /> <br /> công tử Hường Thiết, như một “cơ duyên” hội tụ, người 闕東向家祠西奉陵寢。曠然茁蘭芬庭班門彩尊譜<br /> viết đã may mắn có thêm phần hiểu biết về tài năng, 詳焉。今公年七十六乃營合壙生墳其前屏風題四<br /> nhân cách, đạo lý cốt yếu trong quan niệm sống của 大字云“四望周達”。乃清化領兵吳公曰臣女次<br /> ông. Đặc biệt, khi được tiếp cận văn bia trên khu mộ 室阮文氏乃端雄郡公阮文張曾孫女現男十六女十<br /> hợp khoáng của Hường Lục Khanh, cùng các đại tự 六。桂藩膺苹為洞臬蒙賜綵貨者纍次眾子。或為<br /> và đôi câu đối ở bình phong tiền trước mộ, chúng tôi 仕為農為工為賈天倫樂事殆未可量元配吳以侍郎<br /> thấy rằng tinh thần “bất vong bản” (không quên gốc 衘致事。今上光履鴻圖茂敡孝治。啟定萬萬年于<br /> rễ) được Lục Khanh công thể hiện rất rõ nét. Bởi vậy, 茲連逢大慶以子膺蓀為湯卿。五年寔授侍郎。六<br /> ở bài viết dưới đây, người viết xin được phiên dịch lại 年上請增皇派俸封事公議乃為同尊之義竟以熱誠<br /> và bước đầu tìm hiểu về những đạo lý tinh kết trong 善念見重。七年臚寺卿。十四年請回省祭。十八<br /> tư tưởng của vị Tiểu Thảo tiên sinh này. 年再補平順布政。維新元年改補工部侍郎。三年<br /> 陞光祿寺立醫院停工以便農轄民皆德之。十二年<br /> 3. Nguyên tác hán văn, phiên âm, dịch nghĩa<br /> 蒙賜金磬一面。十三年助辨火車陸路得力陞鴻獎<br /> văn bia mộ Hường Thiết<br /> 新使撑車披卑抵代常與談歐美列邦善政良法。貴<br /> Hán văn: 使服其通博倍加敬重公。乃商航路惟臬使出公正<br /> [石碑_陽本(前面)]: 第一紀 贊曰天上玉麟人 色指習兵曰“爾輩若動及臬堂手我即先斬”。爾<br /> 間仙鶴東平王之後處家為善最樂。星第一 八十壽 眾懼不敢犯以調得體嘉載米救饑民獲蘇息。十一<br /> 康一門貴顯為耆英韻事第一。因公近著寰宇第一 年陞領平順藩使。辰住使希些臬使阮廷聞失和住<br /> 編謹奉書為陸卿公詩禮淵源出於輔政親王第一以 使呼習兵令修書所以充檢辨。八月日陞領守護副<br /> 公子充史官第一南臬順藩政清人和為當代福。唐 使。八年佐理刑部。九年陞領廣南按察使商電柴<br /> 遺老明達禮築高邱將勒碑以傳眎。僕徵文僕再辭 棍輔導大臣兼充修書所總閱。裴相公文禩片奏察<br /> 弗獲乃曰噫聯題數語足知公矣遠覽少伸孺慕之忱 有知縣滿考侯補洪蔎頗有文學請按補。此誌乃 “<br /> 拜示不忘本前柱對聯云 清滿洲八旗軍號”對相。公嘆曰 “洵不愧賢王肖<br /> 子”。二年改授海陵知縣。六年正月日問公公避<br /> “元凱法中古聖人乃緣生營合壙 席對曰文長乃徐渭字[明]代人。又問八旗通誌所<br /> 司空是大 (小云)” 記何事在坐者久不…公又以編在內書籍。时輔政<br /> 大臣金江阮相公閱諸書籍。至文長集問“是何代<br /> 引此山雖高不及諸名山而東南枕御屏北瞻宮<br /> 人著眾皆默然”乃顧公有秤薦之也。三年破格充<br /> 國史館編修。吏部金江阮相公仲合舉之也。成泰<br /> 元年派檢尊純皇帝即正降諭準儘行開復。同慶元<br /> 年補翰林院檢討輯大南國彊界彙編。欽派黃祥黎<br /> 說弒逆。親王法春秋大義不與我逆同。朝攜眷避<br /> 地順汛祥_說誣以罪逮奉景歌均行世。嗣德三十三<br /> 年入國子監春秋覈冊竝平項。壬午鄉科中一場。<br /> 三十六年阮文國全圖大南歷代龍飛圖勸孝歌五洲<br /> 列國國名歌。又與家兄尚書洪茸著越史演義四字<br /> 忠孝最兒孫。今年近八十而精神明爽飲食視聽談<br /> 論文章不少衰。所著有連業軒集。大南器重之歷<br /> 揚中外二十餘年。天植公忠始終一節歸田後雅集<br /> 耆英放懷山水詩文怡情性。<br /> [石碑_陰本(後面)]:<br /> [中心] 大南皇朝工部侍郎洪陸卿竝夫人吳氏合<br /> 壙生墳<br /> [右邊]智識畫事間多切中學術精博有本篤志<br /> 為詩古文辭端重寡言而識遍时務。王公大人多富<br /> Câu đối 1: “Nguyên Khải pháp trung, cổ thánh nhân nãi duyên 榮人前左軍信武侯范公文典女以嗣德二年十一月<br /> sanh doanh hợp khoáng”<br /> Câu đối 2: “Tư không thị đại, Đường di lão minh đạt lễ trúc 生。幼岐嶷聰穎至性孝友長有洪陸卿公。傳公諱<br /> cao khâu” 洪蔎字陸卿號連業軒。綏理王第十八子。母王元<br /> <br /> Phaùt trieån Kinh teá - Xaõ hoäi<br /> Ñaø Naüng<br /> 55<br /> Nghiên cứu - Trao đổi<br /> <br /> <br /> 姬范氏<br /> [左邊_壹_上] 吏部為錄給事本月日西一千九百<br /> 三十一年十一月十七日。機密院商定原工部侍郎<br /> 休致洪蔎貴職特格陞授禮部參知衘仍休致等。因<br /> 輒此錄給祇奉須至錄給者。右錄給。禮部參知休<br /> 致洪…貴職執炤。保大陸年拾月初捌日<br /> [左邊_壹_下] 保大十一年八月二十七日蒙準陞<br /> 授資善大夫尚書衘仍舊致事。 保大十二年四月初<br /> 三日蒙準追授榮祿大夫協佐大學士<br /> [左邊_貳] 啟定十年己丑夏五吉旦。戊戌科同進士<br /> 國史館署參知石室阮文珵_六光謹識 (2) Ảnh đặc tả 4 đại tự “Tứ vọng chu đạt”trên bình phong tiền.<br /> <br /> Dịch nghĩa:<br /> Lý Tư không12 là việc lớn, [các bậc di lão đời Đường<br /> [Dương bản (mặt trước)] thông đạt lễ mà kiến dựng gò cao])<br /> Kỷ thứ nhất, lời tán rằng: Lời dẫn: “Núi này tuy không cao bằng các danh sơn<br /> “Ngọc lân ở tận trời cao của Đế đô, nhưng phía đông nam gối núi Ngự Bình, phía<br /> bắc rõ xem cung khuyết, phía đông hướng về gia từ (từ<br /> Người tiên cưỡi hạc hòa vào nhân gian”3 đường gia tộc), phía tây chầu hầu lăng tẩm. Khoáng<br /> Ngày sau có đấng Đông Bằng [Bình]4 đạt thay! cả một vùng cỏ lan xanh non thơm ngát, rực<br /> rỡ sân đình, tôn phổ đã chép tường tận vậy”.<br /> Xử gia tối lạc thiện căn nhất đời".<br /> Nay ông đến tuổi 76, bèn mưu làm sanh phần<br /> [Ông Hường Thiết] 80 tuổi thọ, khỏe mạnh an hợp khoáng, bình phong trước [mộ] đề bốn đại tự<br /> khang, cả nhà quý hiển, là một trong những bậc kỳ “Tứ vọng chu đạt”.13 Bèn có người họ Ngô giữ chức<br /> lão phúc lành. Nhân gần đây ông biên soạn cuốn Lãnh binh Thanh Hóa nói rằng: con gái của tôi [vợ<br /> sách về hoàn cầu5 dưới kính cẩn đề tên là Lục Khanh. ông Hường Thiết] do bà vợ thứ họ Nguyễn - cháu<br /> Ông uyên thâm Thi - Lễ, là một trong những người gái 4 đời của Đoan Hùng quận công Nguyễn Văn<br /> con của ngài Phụ chánh thân vương [Tuy Lý vương Trương14 - sinh ra, hiện sinh được 16 người con trai,<br /> Miên Trinh], lấy danh nghĩa là Công tử sung vào chức 16 người con gái. [Trong đó] Quế Phiên Ưng Bình làm<br /> Sử quan. Trải nhiều chức vụ như Niết sứ Quảng Nam, Niết sứ Động Hải (Quảng Bình), được ân ban tiền của,<br /> Phiên sứ Bình Thuận. Ông thi hành chính sự trong lụa là các loại cho con cháu [của Ưng Bình]. Những<br /> sạch khiến dân vui hòa, ấy là phúc phận cho đời người [con ông Hường Thiết] còn lại hoặc làm quan,<br /> nay. Là bậc di lão của đời Đường6, thông tỏ mọi việc làm nông, làm công, buôn bán… Gia đình vui vẻ<br /> theo đúng lễ7, tạo dựng gò cao8, [Lục Khanh công] chan hòa15 - hạnh phúc ấy không thể đo lường hết<br /> bèn muốn khắc vào bia đá để truyền dạy lại cho hậu được. Nguyên phối họ Ngô [của ông Hường Thiết]<br /> thế. Kẻ hèn này xem lời văn của ông, mớm lời từ chối được ân ban hàm Thị lang trí sự. Nay, Hoàng thượng<br /> chẳng được, bèn nói rằng: “Ôi, đối liễn đề các lời ấy thì đương lúc xán lạn cơ đồ, bèn xiển dương hiếu trị.<br /> đã đủ rõ thâm ý của ngài rồi. Ngài nhìn xa trông rộng, Trong niên hiệu Khải Định muôn năm, gặp nhiều kỳ<br /> ý lời kết tinh, con cháu biết ơn, bái lĩnh với lời dạy “bất đại khánh, bèn lấy con là Ưng Tôn làm Thang khanh.<br /> vong bản” (Không quên nguồn cội).9 Đối liễn ở bình Năm [Thành Thái]16 thứ 5 [1893], ông được lên chức<br /> phong tiền viết rằng: Thực thụ Thị lang. Năm thứ 6 [1894], [Tôn Nhân phủ]<br /> “Nguyên Khải pháp trung10, cổ thánh nhân nãi dâng lời thỉnh [lên hoàng thượng] xin tăng bổng lộc<br /> duyên sanh doanh hợp khoáng. thêm cho Hoàng phái. Ông Hường Thiết luận bàn xin<br /> lấy nghĩa “đồng tôn” (cùng dòng dõi tông thất nhà<br /> Tư không thị đại, [Đường di lão minh đạt lễ trúc cao<br /> Nguyễn), ấy là tấm lòng nhiệt thành tốt đẹp rất đáng<br /> khâu]”.11<br /> trân trọng vậy. Năm thứ 7 [1895] được thăng [Hồng]<br /> (Theo Di lệnh của Nguyên Khải [Đỗ Dự], bậc thánh Lô tự khanh (chánh tứ phẩm). Năm thứ 14 [1902] xin<br /> nhân xưa tùy cơ duyên mà tạo mộ hợp khoáng) quay về tỉnh để tế lễ.17 Năm thứ 14, ông lại được bổ<br /> <br /> 56 Phaùt trieån Kinh teá - Xaõ hoäi<br /> Ñaø Naüng<br /> Nghiên cứu - Trao đổi<br /> <br /> <br /> làm chức Bố chánh Bình Thuận. Năm Duy Tân nguyên là tên tự của Từ Vị23, người đời Minh”. Lại hỏi: “Bát kỳ<br /> niên [1907], đổi bổ ông làm Thị lang bộ Công. Năm thông chí”24 ghi chép việc gì? Người chủ tọa lâu (mất<br /> Duy Tân thứ 3 [1909] thăng lên chức Quang Lộc tự, chữ)… Ông lại biên chép vào trong sách vở. Lúc bấy<br /> lập Thái Y viện, dừng mọi việc lao công để vụ nông giờ, Phụ chính Đại thần Kim Giang Nguyễn tướng<br /> thuận tiện, nhân dân đều được hưởng công đức đó công25 duyệt tuyển các thư tịch. Đến bản Văn Trường<br /> vậy. Năm thứ 1218 ông được ân ban một chiếc kim tập26, hỏi: “người ở đời nào trước tác những bài uyên áo<br /> khánh (khánh bằng vàng). Năm thứ 13, hết lòng giúp trong tập sách này?”. Bèn có ông là người xứng đáng<br /> biện biệt việc lợi hại của chuyện làm đường xe lửa, được tiến cử vậy. Năm thứ 3, ông được phá cách sung<br /> ông được tưởng thưởng rất hậu, mới khiến cho chiếc vào làm chức Biên tu Quốc Sử quán, chính do Lại bộ<br /> xe có mui (mái che) để làm phương tiện thay dùng. Kim Giang Nguyễn Trọng Hợp tướng công đề cử vậy.<br /> Ông thường cùng bàn luận về pháp luật tốt đẹp của Năm Thành Thái nguyên niên [1889] vua thay Cảnh<br /> các nước Âu - Mỹ, khiến cho các quan sứ Pháp khâm Tôn Thuần Hoàng Đế [vua Đồng Khánh] lên ngôi, ban<br /> phục trình độ thông bác, càng thêm kính trọng ông. dụ khôi phục lại tất cả các chức cũ. Năm Đồng Khánh<br /> Trên con đường của bọn thuyền buôn, có quan Niết nguyên niên [1885], ông được bổ làm Hàn Lâm viện<br /> sứ tiến ra, ông nghiêm sắc mặt chỉ vào bọn quân binh Kiểm thảo, biên tập Đại Nam quốc cương giới vựng<br /> rằng: “các ngươi, ai dám động đến quan Niết đường, ta biên. Bọn Hoàng Tường - Lê Thuyết27 ngạo ngược giết<br /> tức thì chém trước”. Bọn quân binh sợ mà không dám vua, Thân vương [Tuy Lý Vương Miên Trinh] theo phép<br /> mạo phạm. Sự lường tính ấy vừa giữ được thể thống, đại nghĩa thời Xuân Thu, không theo cùng những kẻ<br /> vừa khiến cho việc chuyên chở gạo cứu dân đói, dẹp đại nghịch ấy, sớm đem gia quyến chạy trốn về vùng<br /> tô thuế được tốt đẹp. Năm [Thành Thái] thứ 11 [1899], cửa biển Thuận An. Tường - Thuyết làm điều xằng bậy<br /> ông được thăng lĩnh Phiên sứ Bình Thuận. Lúc bấy giờ, phải chịu tội, Vương bèn phụng mệnh quay về theo<br /> Quan Trú sứ (người Pháp) có điều khinh miệt, Niết sứ những ngày thái hòa của đất nước. Năm Tự Đức thứ<br /> Nguyễn Đình Văn có thái độ không hòa hợp với viên 33 [1880], ông [Hường Thiết] vào học Quốc Tử Giám,<br /> Trú sứ19, bèn hô tập hợp binh lực, lệnh sửa chữa văn bài văn sách khảo hạch ở hai kỳ xuân thu của ông<br /> thư, sở dĩ để sung vào kiểm duyệt. Tháng 8 năm đó đều dự hạng Bình. Năm Nhâm Ngọ [1882], thi Hương<br /> [1899], ông được Thăng lãnh chức Thủ hộ Phó sứ. Năm trúng nhất trường. Năm Tự Đức thứ 36, ông tham gia<br /> thứ 820, giữ chức Tá lý bộ Hình. Năm thứ 9, thăng lãnh soạn Nguyễn Văn quốc toàn đồ, Đại Nam lịch đại long<br /> Án sát sứ Quảng Nam, Thương điện Sài Côn (Gòn), Phụ phi đồ, Khuyến hiếu ca, Ngũ châu liệt quốc quốc danh<br /> đạo Đại thần kiêm chức Tổng duyệt sở Tu Thư. Bùi tướng ca. Lại cùng anh ruột là Thượng thư Hường Nhung<br /> công Văn Dị21 dâng phiến tấu trình [hoàng thượng] về soạn [trứ] cuốn Việt sử diễn nghĩa tứ tự, Trung hiếu trợ<br /> việc xét rằng đã có Tri huyện hoàn thành quá trình nhi tôn. Nay tuổi gần 80 mà tinh thần tinh anh, khoái<br /> khảo khóa hậu bổ, Hường Thiết lại có trình độ văn sảng, ăn uống - nghe nhìn - nói năng - văn chương…<br /> học, xin xét cho bổ nhiệm. Ở phần ghi rằng: “Bát kỳ đều không hề suy suyển. Ông có trước thuật tập Liên<br /> Quân hiệu22 của dân tộc Mãn Châu nhà Thanh” - đối Nghiệp Hiên. Là bậc đức cao khí trọng của nước Đại<br /> đáp lại, ông thán rằng: “thực chẳng sợ con cái không Nam, dương danh cùng trong ngoài lãnh thổ trải hơn<br /> giống bậc hiền vương”. Năm thứ 2, ông được đổi bổ 20 năm, như trời đất hội tụ lòng trung trinh nơi ông,<br /> nhiệm làm Tri huyện Hải Lăng. Tháng giêng năm thứ 6, thủy chung tiết nghĩa, sau khi quay về với vườn tược,<br /> hỏi ông, ông rời khỏi chiếu mà đáp rằng: “Văn Trường ông vui thú thanh tao, anh tú lão kỳ, phóng khoáng<br /> nỗi niềm cùng sông núi, lấy thi văn hòa nhịp tính tình.<br /> [Âm bản (Mặt sau)]<br /> [Phần trung tâm]: Khu mộ hợp khoáng sinh phần<br /> của ông Hường Lục Khanh giữ chức Thị lang bộ Công<br /> của Hoàng triều Đại Nam cùng Phu nhân họ Ngô.<br /> [Phần bên phải - hướng từ ngoài nhìn vào]: Bậc trí<br /> thức mưu tính việc ở đời, biết chọn lựa những thứ<br /> tinh túy giữa muôn vàn sự việc, học thuật tinh tấn,<br /> uyên bác có gốc rễ, nền tảng. Dốc chí vào thơ ca, văn<br /> Hình dạng trán bia được đặt tả. học, thông hiểu mọi giềng mối quan trọng song rất<br /> <br /> Phaùt trieån Kinh teá - Xaõ hoäi<br /> Ñaø Naüng<br /> 57<br /> Nghiên cứu - Trao đổi<br /> <br /> <br /> kiệm lời nhưng nhanh chóng nắm vững thực tế của<br /> cuộc sống. Vương công Đại nhân [Hường Thiết] do<br /> con gái của Tín Vũ hầu Phạm Văn Điển28 người Phú<br /> Vang sinh ra vào tháng 11 năm Tự Đức thứ hai. Thuở<br /> nhỏ đã thông minh xuất chúng29, chí hiếu chí tình, khi<br /> lớn lên thì xưng [tên tự] là Hường Lục Khanh. Theo<br /> sách vở truyền lại, ông có tên húy Hường Thiết, tên<br /> tự Lục Khanh, hiệu Liên Nghiệp Hiên, con thứ 18 của<br /> Tuy Lý vương [Miên Trinh], mẹ là bà vợ thứ [của Tuy Lý<br /> vương] họ Phạm<br /> [Bên trái - phần trên] Bộ Lại cấp Văn bằng. Sự việc<br /> là: trong tháng này tức ngày 17 tháng 11 năm 1931 Toàn cảnh khu lăng mộ chính.<br /> Tây lịch, Viện Cơ mật cùng bàn định và thống nhất<br /> cho ông Hường [Thiết] nguyên giữ chức Thị lang Bộ Đó là tinh thần “bất vong bản”, tức không được phép<br /> Công hưu trí được đặc cách thăng hàm Tham tri bộ vì nguyên cớ nào mà bỏ quên gốc gác, cội nguồn của<br /> Lễ, vẫn hưu trí. Nhân đó, [Bộ Lại] soạn Văn bằng ban chính mỗi con người, mỗi dân tộc. Và, chính những ý<br /> cấp ngay cho ông. Đây là bằng cấp. Ông Tham tri bộ nghĩa cô đọng, súc tích, ít lời nhiều ý ấy là lời “di huấn”<br /> Lễ hưu trí là Hường [Thiết] nhận lĩnh và chiếu theo. đầy sâu sắc của ông Hường Thiết để lại cho cháu con<br /> [Văn bằng cấp] Ngày mồng 8 tháng 10 năm Bảo Đại muôn đời sau.<br /> thứ 6 [1931]. Nguyễn Phúc Hường Thiết sinh ra và lớn lên trong<br /> [Bên trái - phần dưới] Ngày 27 tháng 8 năm Bảo bối cảnh lịch sử Việt Nam đầy biến động, văn hóa<br /> Đại thứ 11 [1936] ông Hường Thiết được chuẩn thăng phương Tây đang ồ ạt tiến vào (trong đó có những<br /> chức Tư Thiện Đại Phu, hàm Thượng thư, vẫn hưu trí. văn hóa tốt đẹp, song lại chứa đựng không ít mảng<br /> Ngày 03 tháng 4 năm Bảo Đại thứ 12 [1937] được cho màu văn hóa không phù hợp với người Á Đông, thậm<br /> chuẩn truy thụ Vinh Lộc Đại Phu, Hiệp tá Đại Học sĩ. chí là những luồng văn hóa không hề tốt đẹp tí nào<br /> đối với nền văn hóa truyền thống Việt Nam) khiến<br /> [Bên trái - sát mép văn bia] Ngày tốt tháng 5 năm<br /> cho những nền tảng văn hóa truyền thống của làng<br /> Khải Định thứ 10 [1925] Thạch Thất Nguyễn Văn Trình,<br /> xã, đất nước Việt Nam thời bấy giờ đang “đối diện” với<br /> tự Lục Quang, Đồng Tiến sĩ khoa Mậu Tuất [1898] giữ<br /> tình thế lung lay đến tận gốc rễ. Chữ Nho dần bị thay<br /> chức Thự Quốc Sử Quán Tham tri kính ghi.<br /> thế bằng chữ Quốc ngữ, Nho học ngày một lụi tàn. Kẻ<br /> 3. Giá trị tư liệu của văn bia mộ Lục Khanh sĩ phân hóa thành nhiều thành phần, trong đó có một<br /> Hường Thiết: những nhận định bước đầu bộ phận người phủ nhận sạch trơn nền tảng văn hóa<br /> của ông cha ta từ ngàn xưa để lại. Chứng kiến điều đó,<br /> Văn bia mộ Lục Khanh Hường Thiết kể khái lược<br /> hẳn trong tâm can ông Hường Thiết dấy lên không ít<br /> về cuộc đời, sự nghiệp, quan niệm sống cũng như<br /> phần lo lắng. Và, nỗi lo lớn nhất chính là “vong bản”<br /> những tư tưởng trọng yếu trong tâm thức của chủ<br /> (mất gốc)! Bởi thế, về cuối đời, khi làm khu mộ ‘hợp<br /> nhân Tiểu Thảo viên. Với ngòi bút điêu luyện, tiến sĩ<br /> khoáng sanh phần’ cho ông và phu nhân, Hường Lục<br /> Nguyễn Văn Trình đã chuyển tải gần như đầy đủ nhất<br /> Khanh công đã tỏ rõ đạo lý trọng yếu “bất vong bản”<br /> về quan niệm sống - chết (nhất là quan niệm về hợp<br /> trên các câu đối, đại tự ở bình phong tiền. Điều mong<br /> khoáng sinh phần của Lục Khanh công), về đạo lý<br /> mỏi đó tiếp tục được khắc ghi một lần nữa trên văn<br /> “xử gia vi thiện tối lạc” kết tinh trong 4 đại tự “tứ<br /> bia do tiến sĩ Nguyễn Văn Trình biên soạn, khắc vào<br /> vọng chu đạt” và hai câu đối tại bình phong tiền ở<br /> tấm đá dựng trước ngôi sinh phần của ông bà.<br /> khu mộ Tiểu Thảo Hường Thiết. Có thể nói, khi nắm<br /> rõ ý nghĩa của hai câu đối “Nguyên Khải pháp trung, Văn bia trên còn là tư liệu chân thực nhất cho ta<br /> cổ thánh nhân nãi duyên sanh doanh hợp khoáng - Tư thấy rõ mối quan hệ thâm tình giữa Tiểu Thảo Hường<br /> không thị đại, Đường di lão minh đạt lễ trúc cao khâu” thiết và Tiến sĩ Nguyễn Văn Trình. Nguyễn Văn Trình<br /> cùng 4 đại tự ở bức bình phong trước mộ, hậu thế đã 阮文珵 (1872 - 1949), tự Lục Quang, hiệu Thạch Thất,<br /> phần nào thông đạt ý nghĩa cốt yếu trong quan niệm Thốc Sơn, quê xã Kiệt Thạch (nay là xã Thanh Lộc,<br /> sống của vị công tử thứ 18 của Đức Tuy Lý vương này. huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh). Là một danh thần triều<br /> <br /> 58 Phaùt trieån Kinh teá - Xaõ hoäi<br /> Ñaø Naüng<br /> Nghiên cứu - Trao đổi<br /> <br /> <br /> Nguyễn, cuộc đời ông trải nhiều biến động thăng danh nhân văn hóa tiêu biểu trong lịch sử Việt Nam<br /> trầm với chức quan của mình. Thường người ta biết những năm cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX.<br /> đến ông thông qua loạt bài về Quốc Tử Giám đăng<br /> Trên phương diện văn học, bản bia ký về cuộc đời,<br /> trên BAVH, đứng tên cùng Nguyễn Phúc Ưng Trình<br /> sự nghiệp của Hường Lục Khanh do tiến sĩ Nguyễn Văn<br /> phòng Tuy Lý vương (con trai đầu của Lạc Tịnh viên<br /> Trình soạn thảo là một tác phẩm văn chương khá lý thú,<br /> chủ nhân Nguyễn Phúc Hường Khẳng). Đến nay,<br /> góp phần bổ sung thêm tư liệu cho giới nghiên cứu<br /> thông qua văn bia về Lục Khanh Hường Thiết và văn<br /> tiếp cận về một loại hình văn bản đặc sắc đương thời.<br /> bia Tiền quân Võ Văn Kiêm, chúng ta thấy mối quan<br /> hệ thâm giao giữa ông và một số vị quan lại trong V.V.Q.<br /> triều, hoàng thân quốc thích thực đáng được quan<br /> tâm hơn nữa. Có lẽ, Nguyễn Văn Trình và Tiểu Thảo<br /> tiên sinh là hai người bạn vong niên tâm đầu ý hợp<br /> (Tiểu Thảo Hường Thiết lớn hơn Nguyễn Văn Trình 23<br /> tuổi). Bởi, nếu không thông tỏ sâu rộng về nhau, rất<br /> khó để vị hậu bối Thạch Thất Nguyễn Văn Trình có thể<br /> đặt bút soạn bài bi văn đầy giá trị, thể hiện rõ nét tinh<br /> thần cốt tủy trong tư tưởng của Lục Khanh công.<br /> Văn bia về Lục Khanh Hường Thiết cũng cho độc<br /> giả thấy rõ trình độ uyên thâm của cả người soạn<br /> (tiến sĩ Nguyễn Văn Trình) lẫn chủ nhân của ngôi sanh<br /> phần (công tử Hường Thiết) thông qua hệ thống<br /> điển tích điển cố đặc trưng hàm súc với lời văn uyển<br /> chuyển nhịp nhàng. Hai ông thực xứng đáng là các Tổng thể khu lăng mộ Lục Khanh Hường Thiết.<br /> <br /> <br /> <br /> <br /> Văn bia mộ Hường Thiết, phần dương bản (mặt trước) được Văn bia mộ Hường Thiết, phần âm bản (mặt sau) được phủ<br /> phủ bột để đối chiếu. bột để đối chiếu.<br /> <br /> Phaùt trieån Kinh teá - Xaõ hoäi<br /> Ñaø Naüng<br /> 59<br /> Nghiên cứu - Trao đổi<br /> <br /> <br /> CHÚ THÍCH điều đắc thể, gia tái mễ cứu cơ dân, hoạch tô tức. Thập nhất<br /> 1<br /> Những thông tin trên do ông Nguyễn Phước Vĩnh niên, thăng lĩnh Bình Thuận phiên sứ. Thời, trú sứ hi ta Niết sứ<br /> Khánh (cháu nội cụ Ưng Tôn, tức cháu cố cụ Hường Thiết) Nguyễn Đình Văn thất hòa trú sứ, hô tập binh, lệnh tu thư, sở<br /> thu thập và biên soạn ở bài Cụ Nguyễn Phúc Hường Thiết (tài dĩ sung kiểm biện. Bát nguyệt nhật, thăng lĩnh Thủ hộ Phó sứ.<br /> liệu lưu hành nội bộ) đã cung cấp cho chúng tôi. Nhân đây, Bát niên, Tá lí Hình bộ. Cửu niên, thăng lãnh Quảng Nam Án<br /> chúng tôi xin trân trọng cảm ơn ông Vĩnh Khánh đã cung sát sứ, Thương điện Sài Côn, Phụ đạo Đại thần kiêm sung Tu<br /> cấp tư liệu quan trọng này. Thư sở Tổng duyệt. Bùi tướng công Văn Dị (Tự) phiến tấu, sát<br /> hữu Tri huyện mãn khảo hậu bổ, Hường Thiết pha hữu văn<br /> 2<br /> Do văn bia khá dài nên chúng tôi xin đưa phần phiên<br /> học thỉnh án bổ. Thử chí nãi “Thanh - Mãn Châu bát kì quân<br /> âm vào mục chú thích để giới hạn lại số trang chính văn.<br /> hiệu” đối tương, công thán viết: “tuân bất quý hiền vương tiếu<br /> Phiên âm: [Thạch bi dương bản (tiền diện)]: tử”. Nhị niên, cải thụ Hải Lăng tri huyện. Lục niên chánh nguyệt<br /> Đệ nhất kỷ, tán viết:“Thiên thượng ngọc lân; Nhân gian nhật, vấn công, công tị tịch đối viết: “Văn Trường nãi Từ Vị tự,<br /> tiên hạc; Đông Bình vương chi hậu, xử gia vi thiện tối lạc”. Tinh [Minh] đại nhân”. Hựu vấn: “bát kì thông chí sở kí hà sự tại?”<br /> đệ nhất: bát thập thọ khang, nhất môn quý hiển, vi kỳ anh Tọa giả cửu bất… công hựu dĩ biên tại nội thư tịch. Thời, Phụ<br /> vận sự đệ nhất: nhân công cận trứ hoàn vũ đệ nhất biên, cẩn chánh Đại thần Kim Giang Nguyễn tướng công duyệt chư thư<br /> phụng thư vi Lục Khanh công. Thi lễ uyên nguyên, xuất vu Phụ tịch, chí Văn Trường tập, vấn:“thị hà đại nhân trứ chúng giai<br /> chánh Thân vương đệ nhất, dĩ công tử sung Sử quan đệ nhất; mặc nhiên”. Nãi cố công hữu xứng tiến chi dã. Tam niên, phá<br /> Nam niết, Thuận phiên, chính thanh nhân hòa, vi đương đại cách sung Quốc Sử quán Biên tu, Lại bộ Kim Giang Nguyễn<br /> phúc. “Đường di lão, minh đạt lễ, trúc cao khâu”, tương lặc tướng công Trọng Hợp cử chi dã. Thành Thái nguyên niên,<br /> bi dĩ truyền thị. Bộc trưng văn, bộc tái từ phất hoạch. Nãi viết: phái kiểm tôn Thuần Hoàng Đế tức chánh hàng dụ chuẩn tẫn<br /> “Y! liễn đề sổ ngữ, túc tri công hĩ. Viễn lãm thiểu thân, nhụ mộ hành khai phục. Đồng Khánh nguyên niên, bổ Hàn Lâm viện<br /> chi thầm bái thị bất vong bản”. Tiền trụ đối liên vân: Kiểm thảo, tập “Đại Nam quốc cương giới vựng biên”. Khâm<br /> phái Hoàng Tường, Lê Thuyết thí nghịch, Thân vương pháp<br /> “Nguyên Khải pháp trung, cổ thánh nhân nãi duyên sinh<br /> Xuân Thu đại nghĩa, bất dữ ngã nghịch, đồng triều huề quyến<br /> doanh hợp khoáng<br /> tị địa Thuận tấn. Tường - Thuyết vu dĩ tội, đãi phụng cảnh ca<br /> Tư không thị đại tiểu vân”. quân hành thế.<br /> Dẫn: thử sơn tuy cao bất cập chư danh sơn, nhi đông nam Tự Đức tam thập tam niên nhập Quốc Tử Giám, xuân thu<br /> chẩm Ngự Bình, bắc chiêm cung khuyết, đông hướng gia từ, hạch sách tịnh bình hạng. Nhâm Ngọ, Hương khoa trúng Nhất<br /> tây phụng lăng tẩm. Khoáng nhiên truất lan phân, đình ban trường. Tam thập lục niên,“Nguyễn văn quốc toàn đồ”,“Đại<br /> môn thải, tôn phổ tường yên. Kim, công niên thất thập lục, Nam lịch đại long phi đồ”, “Khuyến hiếu ca”, “Ngũ châu liệt<br /> nãi doanh hợp khoáng sanh phần. Kì tiền bình phong đề tứ quốc quốc danh ca”; hựu dữ gia huynh - Thượng thư Hường<br /> đại tự vân “Tứ vọng chu đạt”. Nãi, Thanh Hóa Lãnh binh Ngô Nhung trứ “Việt sử diễn nghĩa tứ tự”, “Trung hiếu tối nhi tôn”.<br /> công viết: thần nữ thứ thất Nguyễn Văn thị nãi Đoan Hùng<br /> Kim niên, cận bát thập nhi tinh thần minh sảng, ẩm thực<br /> quận công Nguyễn Văn Trương tằng tôn nữ, hiện nam thập<br /> thị thính, đàm luận văn chương bất thiểu suy. Sở trứ hữu “Liên<br /> lục nữ thập lục. Quế Phiên Ưng Bình vi Động niết, mông tứ<br /> Nghiệp Hiên tập”. Đại Nam khí trọng chi, lịch dương trung<br /> thải hóa giả, lũy thứ chúng tử, hoặc vi sĩ - vi nông - vi công<br /> ngoại nhị thập dư niên. Thiên thực công trung, thủy chung<br /> - vi cổ. Thiên luân lạc sự, đãi vị khả lượng. Nguyên phối Ngô<br /> nhất tiết, quy điền hậu nhã tập kì anh phóng hoài san thủy<br /> dĩ Thị lang hàm trí sự. Kim, Thượng quang lí hồng đồ, mậu<br /> dương hiếu trị. Khải Định vạn vạn niên vu tư liên phùng đại thi văn di tình tính.<br /> khánh, dĩ tử Ưng Tôn vi Thang khanh. Ngũ niên, thực thụ Thị [Thạch bi âm bản (hậu diện)]:<br /> lang. Lục niên, thướng thỉnh tăng hoàng phái bổng phong sự, [Trung tâm]: Đại Nam Hoàng triều Công bộ Thị lang Hường<br /> công nghị nãi vi đồng tôn chi nghĩa, cánh dĩ nhiệt thành, thiện Lục Khanh tịnh phu nhân Ngô thị hợp khoáng sanh phần.<br /> niệm kiến trọng. Thất niên, Lô Tự khanh. Thập tứ niên, thỉnh<br /> hồi tỉnh, tế. Thập bát niên, tái bổ Bình Thuận Bố chánh. Duy [Hữu biên]: Trí thức hoạch sự, gian đa thiết trung, học<br /> Tân nguyên niên, cải bổ Công bộ Thị lang. Tam niên, thăng thuật tinh bác, hữu bản đốc chí vi thi cổ văn từ đoan trọng quả<br /> Quang Lộc tự, lập y viện, đình công, dĩ tiện nông hạt, dân giai ngôn nhi thức biến thời vụ. Vương công đại nhân đa Phú Vang<br /> đức chi. Thập nhị niên, mông tứ kim khánh nhất diện. Thập nhân, tiền Tả quân Tín Vũ hầu Phạm công Văn Điển nữ, dĩ Tự<br /> tam niên, trợ biện hỏa xa lục lộ, đắc lực thăng hồng tưởng, Đức nhị niên thập nhất nguyệt sanh. Ấu kì ngực thông dĩnh,<br /> tân sử sanh Xa-phi ti để đại, thường dữ đàm Âu Mỹ liệt bang chí tính hiếu hữu, trưởng hữu Hường Lục Khanh công. Truyền,<br /> thiện chánh lương pháp. Quý sứ phục kì thông bác, bội gia công húy Hường Thiết, tự Lục Khanh, hiệu Liên Nghiệp Hiên,<br /> kính trọng công. Nãi thương hàng lộ duy Niết sứ xuất, công Tuy Lý vương đệ thập bát tử. Mẫu Vương Nguyên cơ Phạm thị.<br /> chính sắc chỉ tập binh viết: “nhĩ bối nhược động cập Niết [Tả biên - Nhất - thượng]: Lại bộ vi lục cấp sự: bổn nguyệt<br /> đường thủ, ngã tức tiên trảm”. Nhĩ chúng cụ bất cảm phạm, dĩ nhật; Tây: nhất thiên cửu bách tam thập nhất niên thập nhất<br /> <br /> 60 Phaùt trieån Kinh teá - Xaõ hoäi<br /> Ñaø Naüng<br /> Nghiên cứu - Trao đổi<br /> <br /> <br /> nguyệt thập thất nhật, Cơ Mật viện thương định: nguyên Công 4. Đông Bình Vương, Bắc Tống Đại tướng Cao Hoài Đức 東<br /> bộ Thị lang hưu trí Hường Thiết quý chức, đặc cách thăng thụ 平王 北宋大将 高懷德 (926 - 982)…<br /> Lễ bộ Tham tri hàm, nhưng hưu trí đẳng. Nhân triếp thử lục Ở đây, Đông Bình Vương gắn liền với “xử gia vi thiện tối<br /> cấp kì phụng tu chí lục cấp giả. Hữu lục cấp. Lễ bộ Tham tri lạc” là Đông Bình Hiến vương, Phiêu Kỵ tướng quân Lưu<br /> hưu trí Hường… quý chức chấp chiếu. Thương 東平憲王驃騎將軍劉蒼. Sách Hậu Hán thư 後漢<br /> Bảo Đại lục niên thập nguyệt sơ bát nhật 書, Liệt truyện 35 列傳第三十五, mục Quang Vũ thập vương<br /> liệt truyện 光武十王列傳, chuyện về Đông Bình Hiến<br /> [Tả biên - nhất - hạ]: Bảo Đại thập nhất niên bát nguyệt<br /> Vương Thương 東平憲王蒼 có đoạn rằng: “Nhật giả, vấn<br /> nhị thập thất nhật, mông chuẩn thăng thụ Tư Thiện đại phu,<br /> Đông Bình Vương: “Xử gia hà đẳng tối lạc”? Vương ngôn: Vi<br /> Thượng thư hàm, nhưng cựu trí sự. Bảo Đại thập nhị niên tứ<br /> thiện tối lạc, kỳ ngôn thậm đại, phó thị yếu phúc hỹ” 日者問<br /> nguyệt sơ tam nhật, mông chuẩn truy thụ Vinh Lộc đại phu,<br /> 東平王處家何等最樂,王言為善最樂,其言甚大,副是<br /> Hiệp tá Đại Học sĩ.<br /> 要腹矣) (Nghĩa là: có hôm, [Quang Vũ Đế Lưu Tú] hỏi Đông<br /> [Tả biên - nhị] Khải Định thập niên, Kỷ Sửu hạ, ngũ, cát Bình Vương làm sao để cư xử với gia đình tốt đẹp - vui hòa<br /> đán. nhất? Đông Bình Vương trả lời rằng: lấy thiện pháp (phương<br /> Mậu Tuất khoa Đồng Tiến sĩ, Quốc Sử Quán thự Tham tri, pháp giáo dục tốt lành, hiếu hảo) để cư xử mọi việc trong nhà<br /> Thạch Thất Nguyễn Văn Trình - Lục Quang cẩn chí. thì tốt đẹp nhất, lời nói ấy thật sâu sắc, bao hàm tình ý cốt<br /> tủy trong lòng vậy). Từ đó về sau, điển tích “xử gia vi thiện<br /> 3<br /> Dịch từ “Thiên thượng ngọc lân, nhân gian tiên hạc”.<br /> tối lạc” được người đời truyền tụng, xem là kinh điển của<br /> Thiên thượng ngọc lân 天上玉麟 (Con Kỳ lân châu ngọc việc cư xử ở gia đình.<br /> trên trời): cũng gọi là Thiên thượng kỳ lân 天上麒麟; Thiên 5<br /> Theo thông tin từ ông Vĩnh Khánh - Phòng Tuy Lý<br /> thượng thạch lân 天上石麟: thành ngữ dùng để xưng tụng Vương thì cụ Hường Thiết có soạn bản “Ngũ Châu Liệt quốc”<br /> những người có tài năng xuất chúng về văn học. Thành ngữ (Các nước ở năm châu - thế giới) bằng Hán văn. Tuy nhiên,<br /> này xuất xứ từ chuyện Từ Lăng 徐陵 (theo Trần thư 陳書, sách ấy hiện đã thất lạc chưa tìm thấy.<br /> quyển 26 卷二十六, Từ Lăng liệt truyện 徐陵列傳): ông sống<br /> Dịch từ “Đường di lão” 唐遺老: Di lão 遺老: bậc lão<br /> 6<br /> vào thời Trần (giai đoạn Nam - Bắc Triều). Tương truyền khi<br /> thành có tài năng điêu luyện, lịch duyệt. Liễu Tông Nguyên<br /> hoài thai, mẹ ông từng nằm mộng thấy đám mây ngũ sắc<br /> đời Đường trong tác phẩm Hạ tru Truy Thanh nghịch tặc Lí<br /> biến thành chim phụng, bay xuống đậu trên vai trái của bà.<br /> Sư Đạo trạng 賀誅淄青逆賊李師道狀 (Tờ Trạng biểu kính<br /> Tỉnh dậy bà liền sinh ra ông. Từ Lăng tướng mạo tuấn mỹ, cử<br /> mừng [triều đình] đã diệt được nghịch tặc Lý Sư Đạo đất<br /> chỉ nghiêm trang. Khi còn nhỏ, lúc người nhà dẫn Từ Lăng đi<br /> Truy Thanh [tức đất Bình Lỗ, nay thuộc Sơn Đông- Trung<br /> thăm vị cao tăng rất nổi tiếng là Bảo Chí 宝志, vị cao tăng ấy<br /> Quốc] có câu: “Toại sử thùy bạch di lão, tái phùng đại bảo chi<br /> sờ đỉnh đầu Từ Lăng và nói rằng: “Đứa bé này quả là kì lân đá<br /> an” 遂使垂白遺老,再逢大寶之安” (Nghĩa là: [Những năm<br /> trên trời”. Một vị pháp sư khác là Huệ Vân 惠云 cũng thường<br /> chiến đấu] Đã thành bậc lão niên xuất chúng [của tiền triều]<br /> ví Từ Lăng với Nhan Hồi 颜回, một học trò rất giỏi của Khổng<br /> lưu danh sử sách, [nhờ công lao ấy] đất nước lại gặp khi yên<br /> Tử 孔子. Quả nhiên Từ Lăng tài trí siêu phàm: 8 tuổi biết viết<br /> ổn quý báu…) (trích: Toàn Đường văn, quyển 572, mục Liễu<br /> văn, 13 tuổi có thể đọc hiểu những trứ tác của Trang Tử, Lão<br /> Tông Nguyên 4). Như vậy, Đường di lão 唐遺老 ở đây nghĩa<br /> Tử. Sau khi trưởng thành được mọi người tôn là “nhất đại văn là bậc lão thành có tài năng xuất chúng đời Đường.<br /> tông” 一代文宗;<br /> 7<br /> Dịch từ “minh đạt lễ” 明達禮: minh đạt 明達 là thông tỏ<br /> Nhân gian tiên hạc 人間仙鶴: chim hạc do người tiên mọi điều. Minh đạt lễ 明達禮: thông tỏ mọi việc theo đúng<br /> cưỡi xuống ở nhân gian. Ý của câu tán “Thiên thượng ngọc “lễ”. Lễ ở đây chính là những khuôn thước, mẫu mực cần<br /> lân, nhân gian tiên hạc” là dùng ca tụng văn tài xuất chúng noi theo.<br /> [thiên thượng ngọc lân], phong thái tiên nhân [nhân gian 8<br /> Dịch từ “Trúc cao khâu” 築高邱: Trong văn cảnh này,<br /> tiên hạc] của ông Lục Khanh Hường Thiết.<br /> trúc cao khâu là cách nói rút gọn của Trúc mộ phần tại cao<br /> 4<br /> Đông Bình Vương 東平王: Trong lịch sử Trung Hoa, khâu 築墓墳在高邱 nghĩa là dựng phần mộ ở gò cao.<br /> tước hiệu Đông Bình Vương có khá nhiều. Chẳng hạn:<br />  Câu văn “Đường di lão, minh đạt lễ, trúc cao khâu”<br /> 1. Đông Bình Vương Lưu Vũ 東平王劉宇 (? - 20 TCN), con là đoạn được trích trong câu thứ hai của vế đối ở trụ biểu<br /> của Hán Tuyên Đế Lưu Tuân (91 - 48 TCN); bình phong trên nấm mộ sinh phần hợp khoáng của cụ<br /> 2. Đông Hán Đông Bình Vương Phiêu Kỵ tướng quân Lưu Lục Khanh Hường Thiết và Phu nhân họ Ngô. Câu đối được<br /> Thương 東漢東平王驃騎將軍劉蒼 (? - 83); chính tiến sĩ Nguyễn Văn Trình ghi chép ngay ở dưới của<br /> văn bia là:<br /> 3. Đông Bình Vương Chu Năng 东平王朱能 (1370 - 1406)<br /> con trai của Minh Thành tổ Chu Lệ, cháu nội của Minh Thái Nguyên Khải pháp trung,<br /> tổ Chu Nguyên Chương, là danh tướng nổi tiếng thời Minh; cổ thánh nhân nãi duyên sanh doanh hợp khoáng<br /> <br /> Phaùt trieån Kinh teá - Xaõ hoäi<br /> Ñaø Naüng<br /> 61<br /> Nghiên cứu - Trao đổi<br /> <br /> <br /> Tư không thị đại, phương mênh mông thông thoáng [四望周達 tứ vọng chu<br /> đường di lão minh đạt lễ trúc cao khâu đạt], các ngọn núi liền nhau theo hướng chính Nam - Bắc, hơi<br /> lệch hướng Đông Bắc, huyệt mộ hướng về Thành Tân Trịnh 新<br /> Hai câu đối này kết hợp với 4 đại tự ở giữa bình phong 鄭城, ý rằng “không quên gốc rễ” (不忘本 bất vong bản) vậy.<br /> “tứ vọng chu đạt” rõ ràng đã thể hiện ý niệm cốt tủy “bất<br /> vong bản” của chủ nhân ngôi hợp khoáng sanh phần<br /> 11<br /> Nguyên tác dùng chữ Tiểu vân 小云 (chữ nhỏ) ở dòng<br /> (Hường Thiết). thứ 6 (bên phải qua) của văn bia. Chữ này ý nói rằng: phần<br /> còn lại ở dưới (phần nhỏ) thì đã trình bày rõ ở đoạn trên.<br /> 9<br /> Dịch từ “bất vong bản” 不忘本: không quên gốc rễ, Tức, tiểu vân dùng để chỉ câu “Đường di lão minh đạt lễ trúc<br /> nguồn cội. Cụm từ này bao hàm đạo lý xuyên suốt, tư tưởng cao khâu” mà Tiến sĩ Nguyễn Văn Trình đã dẫn ở đoạn đầu.<br /> căn bản làm nền tảng chi phối mọi quan niệm trong cuộc<br /> sống của dòng tộc Công tử Hường Thiết nói riêng và con<br /> 12<br /> Tư Không 司空: một trong những chòm sao Tư Mệnh<br /> người Việt Nam xưa nay nói chung. Tinh thần “bất vong bản” (vì sao được xem là vị thần cai quản sinh mệnh của mỗi<br /> gắn liền với điển tích về Di lệnh của Đỗ Dự - vị Danh tướng con người). Sách Sử ký 史記, mục Thiên Quan thư 天官書 có<br /> nhà Tây Tấn trong lịch sử Trung Hoa. câu rằng: “Nguy Đông lục tinh, lưỡng lưỡng tương tỷ, viết: tư<br /> không”「危東六星兩兩相比曰司空」(sáu sao Nguy Đông<br /> 10<br /> Nguyên Khải 元凱: tên tự của Đỗ Dự 杜預 (222 - 285), [thuộc nhị thập bát tú] cùng hội tụ, tương giao cạnh nhau,<br /> là tướng nhà Tây Tấn trong lịch sử Trung Quốc, người Đỗ gọi là sao Tư Không). Vậy, sao Tư Không cũng còn được gọi<br /> Lăng 杜陵, Kinh Triệu 京兆 (nay là phía đông nam Tây An, là sao Tư Mệnh, chủ về sinh mệnh của con người. (xét trong<br /> Thiểm Tây, Trung Quốc). Đỗ Dự là cháu nội của Đỗ Kỳ 杜 ngữ cảnh này, Tư Không chẳng phải là chức quan tư không)<br /> 畿 - làm chức Thượng thư Bộc xạ nhà Tào Nguỵ thời Tam<br /> Quốc. Cha Đỗ Dự là Đỗ Thứ 杜恕 từng giữ chức thứ sử U<br /> 13<br /> Tứ vọng chu đạt 四望周達: vọng bốn phía mênh mông<br /> châu (Bắc Kinh ngày nay). Ông là người có tài văn võ kiêm thoáng đạt. Cụm từ này xuất từ điển tích Di lệnh của Đỗ Dự<br /> toàn, ngoài công lao bình định nước Đông Ngô, chấm dứt (xem chú thích về Đỗ Dự).<br /> cục diện Tam Quốc được nhiều người biết đến trong tiểu 14<br /> Đoan Hùng quận công Nguyễn Văn Trương (1740 -<br /> thuyết Tam Quốc Diễn Nghĩa. Đỗ Dự đương thời còn là một 1810): người xã An Lý, tổng Châu Đức Trung (nay là thôn<br /> vị quan văn giỏi hoạch định chính sách, một nhà kinh tế có An Lý, xã Bình Phú, huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam).<br /> nhiều kế sách giúp nhà Tấn giàu mạnh. Ông là một trong những danh tướng tài năng của Nguyễn<br /> Nguyên Khải pháp trung 元凱法中: tức Di lệnh 遺令 của Vương Phúc Ánh (vua Gia Long sau này). Nguyễn Văn<br /> Đỗ Dự (tự Nguyên Khải). Trương chủ về thủy chiến, là người đóng góp công lao to<br /> lớn trong cuộc chiến với quân Tây Sơn, thu giang sơn về<br /> Sách Tấn thư, Quyển 34, Liệt truyện 4, Truyện Đỗ Dự có đoạn một mối. Sau khi lên ngôi, vua Gia Long cử ông làm Tổng<br /> (Hán văn): “預先為遺令曰:「古不合葬,明於終始之理, trấn Gia Định vào năm Gia Long thứ tư (1805). Năm Gia<br /> 同於無有也。中古聖人改而合之,蓋以別合無在,更緣 Long thứ 7 (1808), ông được triệu về kinh đảm nhiệm chức<br /> 生以示教也。自此以來,大人君子或合或否,未能知 vụ khác. Năm Gia Long thứ 9 (1810), Nguyễn Văn Trương<br /> 生,安能知死,故各以己意所欲也。吾往為台郎,嘗以 mất tại chức, thọ 71 tuổi, được tặng hàm Thái bảo Quận<br /> 公事使過密縣之邢山。山上有塚,問耕父,雲是鄭大夫 công, thụy Trung Dũng. Năm Gia Long thứ 14 (1815), được<br /> 祭仲,或雲子產之塚也,遂率從者祭而觀焉。其造塚居 liệt vào thờ miếu Trung Hưng công thần. Năm Minh Mệnh<br /> 山之頂,四望周達,連山體南北之正而邪東北,向新鄭 thứ 5 (1824), được ban ân dự thờ vào Thế Miếu, truy tặng<br /> 城,意不忘本也”
ADSENSE
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2