intTypePromotion=1

Tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục và đào tạo, sự vận dụng của Đảng vào giáo dục đại học ở Việt Nam hiện nay

Chia sẻ: _ _ | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:9

0
10
lượt xem
2
download

Tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục và đào tạo, sự vận dụng của Đảng vào giáo dục đại học ở Việt Nam hiện nay

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Bài viết trình bày được các nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục, đồng thời làm rõ sự vận dụng của Đảng vào giáo dục đại học ở Việt Nam hiện nay.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục và đào tạo, sự vận dụng của Đảng vào giáo dục đại học ở Việt Nam hiện nay

  1. NGHIÊN CỨU KHOA HỌC Tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục và đào tạo, sự vận dụng của Đảng vào giáo dục đại học ở Việt Nam hiện nay Ho Chi Minh's thought about education and training, the application of the Party to Vietnamese higher education at present Nguyễn Thị Tình, Vũ Thị Lương, Phạm Thị Mai Email: tinh261086@gmail.com Trường Đại học Sao Đỏ Ngày nhận bài: 27/4/2018 Ngày nhận bài sửa sau phản biện: 10/6/2019 Ngày chấp nhận đăng: 28/6/2019 Tóm tắt Giáo dục và đào tạo có vai trò quan trọng trong việc đào tạo ra nguồn nhân lực chất lượng cao, đây là lực lượng cần thiết thúc đẩy sự phát triển của mỗi quốc gia. Vì vậy, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đưa ra nhiều quan điểm về giáo dục và đào tạo có giá trị to lớn như: mục đích của giáo dục và đào tạo, nội dung giáo dục và đào tạo, phương pháp giáo dục và phải đào tạo được đội ngũ giáo viên có năng lực cho nền giáo dục mới. Những nội dung đó đã được Đảng vận dụng vào nền giáo dục đào tạo của nước ta hiện nay, đặc biệt ở các trường đại học. Sự vận dụng đó đã đạt được một số thành tựu quan trọng góp phần nâng cao chất lượng giáo dục của Việt Nam, bên cạnh đó vẫn còn một số hạn chế cần khắc phục. Bài báo đã trình bày được các nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục, đồng thời làm rõ sự vận dụng của Đảng vào giáo dục đại học ở Việt Nam hiện nay. Từ khóa: Tư tưởng Hồ Chí Minh; tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục và đào tạo; giáo dục đại học; giáo dục đại học ở Việt Nam. Abstract Education and training play an important role in training high quality human resources, which is an essential force to promote the development of each nation. Therefore, President Ho Chi Minh gave many views on education and training of great value such as the purpose of education and training, the content of education and training, as well as the methods of education and training to create well qualified teachers for new education. Those contents have been applied by the Party to our country's education and training today, especially in universities to improve the quality. That application has gained some important achievements that contribute to improving the quality of education in Vietnam, besides there are still some limitations to overcome. The article presented the basic contents of Ho Chi Minh’s thought about education, and clarified the Party's application to the current higher education in Vietnam. Keyword: Ho Chi Minh’s thought; Ho Chi Minh’s thought about education and training; higher education; higher education in Vietnam. 1. ĐẶT VẤN ĐỀ phát triển của đất nước. Tư tưởng về giáo dục Chủ tịch Hồ Chí Minh là nhà hoạt động chính trị lỗi và đào tạo của Hồ Chí Minh luôn thể hiện sự lạc, lãnh tụ vĩ đại của cách mạng Việt Nam, đồng quan tâm đặc biệt đến con người và coi trọng con thời là nhà giáo dục, nhà văn hoá lớn của thế giới. người. Những năm qua, tiếp thu và vận dụng tư Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục và đào tạo, Đảng việc mở mang dân trí, chăm lo cho sự nghiệp giáo và Nhà nước luôn khẳng định vai trò hết sức quan dục. Với nhiệm vụ trọng đại là nâng cao dân đức, trọng của giáo dục, nhất là giáo dục đại học trong mở mang dân trí, đào tạo nhân lực và bồi dưỡng việc đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao. Sự nhân tài thì nền giáo dục mới chính là động lực vận dụng đó đã đạt được những thành tựu quan trọng, góp phần xây dựng và phát triển con người Việt Nam, xã hội Việt Nam. Người phản biện: 1. PGS.TS. Đoàn Ngọc Hải 2. TS. Phạm Thị Hồng Hoa Việc tìm hiểu tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục và 120 Tạp chí Nghiên cứu khoa học - Đại học Sao Đỏ, ISSN 1859-4190 Số 2(65).2019
  2. LIÊN NGÀNH TRIẾT HỌC - XÃ HỘI HỌC - CHÍNH TRỊ HỌC đào tạo không những góp phần làm sáng tỏ thêm sẽ thống nhất hành động. Giáo dục chính trị tư tư tưởng của Người mà còn có giá trị rất lớn đối tưởng sẽ giúp khắc phục tư tưởng lạc hậu, nâng với việc nâng cao chất lượng giáo dục đại học Việt cao tinh thần tự giác, tính tích cực của người học. Nam hiện nay. Đào tạo con người xã hội chủ nghĩa thì trước hết phải có tư tưởng xã hội chủ nghĩa. Chính trị tư 2. TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ GIÁO DỤC VÀ tưởng làm cho người học tin tưởng vào Đảng, vào ĐÀO TẠO nhân dân, vào tương lai tươi sáng của cách mạng. 2.1. Mục đích của giáo dục đào tạo là xây dựng Giáo dục đạo đức cách mạng, Người khẳng định: con người mới “Đạo đức cách mạng không phải trên trời sa xuống. Mục đích trọng tâm và xuyên suốt trong tư tưởng Nó do đấu tranh rèn luyện bền bỉ hằng ngày mà về giáo dục và đào tạo của Hồ Chí Minh là vì con phát triển và củng cố. Cũng như ngọc càng mài người, cho con người, xây dựng con người mới càng sáng, vàng càng luyện càng trong” [7]. Trong và đào tạo ra những con người biết làm chủ nước giáo dục, Hồ Chí Minh thường nhắc nhở rèn luyện nhà. Trong thời kỳ xây dựng xã hội chủ nghĩa ở đạo đức là phải yêu Tổ quốc, yêu nhân dân, yêu Việt Nam hiện nay cần đào tạo được những con chủ nghĩa xã hội, yêu khoa học, yêu lao động, người xã hội chủ nghĩa và phải biết chú trọng thật thà, dũng cảm, sẵn sàng tham gia lao động nhiệm vụ học tập. Giáo dục nhằm đào tạo lớp và bảo vệ Tổ quốc. Thầy và trò phải yêu nước người có đức, có tài, kế tục sự nghiệp cách mạng thương nòi, có ý chí tự lập tự cường, quyết không của nước nhà. Một nền giáo dục mới là phải thực chịu thua kém ai, quyết không chịu làm nô lệ. Mọi hiện dạy và học theo hướng phục vụ Tổ quốc và người phải có tinh thần chất phác, hăng hái, cần nhân dân. Học để làm việc, làm người, làm cán kiệm, xóa bỏ những vết tích nô lệ trong tư tưởng bộ. Học để sửa chữa tư tưởng. Học để tu dưỡng và hành động; tẩy sạch óc kiêu ngạo, tự phụ... đạo đức cách mạng. Học để tin tưởng. Học để Giáo dục văn hóa, chuyên môn, Hồ Chí Minh rất hành. Giáo dục để đào tạo con người mới và cán quan tâm đến văn hóa ứng xử trong nhà trường. bộ mới. Chất lượng và hiệu quả giáo dục không Đó là cách ứng xử giữa thầy và trò, giữa thầy và phải ở chỗ học nhiều, học vẹt, học thuộc lòng từng thầy, giữa trò và trò, giữa thầy và trò với người câu từng chữ, mà là giáo dục người học trở thành quản lý. Cùng với giáo dục văn hóa là giáo dục những người công dân hữu ích cho đất nước, một chuyên môn về khoa học tự nhiên, khoa học xã nền giáo dục làm phát triển hoàn toàn những năng hội và các nghiệp vụ khác. Người chỉ rõ đối với đại lực sẵn có của những người trẻ tuổi. Đây là một học thì chú ý cần kết hợp lý luận khoa học với nhiệm vụ vừa cơ bản, vừa lâu dài, vừa cấp bách thực hành, ra sức học tập lý luận và khoa học tiên đối với Việt Nam. Giáo dục là yếu tố quyết định tiến của các nước bạn, kết hợp với thực tiễn của trực tiếp nâng cao trình độ học vấn và giúp người Việt Nam, để thiết thực giúp ích cho công cuộc xây học có kiến thức về lịch sử, văn hóa của dân tộc dựng nước nhà. Việt Nam, thế giới. Để thực hiện được mục đích Các nội dung trên được Chủ tịch Hồ Chí Minh đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định nền giáo dục khái quát lại trong hai chữ “tài” và “đức”. Theo Hồ mới phải có nội dung toàn diện. Chí Minh, mục tiêu của nền giáo dục Việt Nam là 2.2. Nội dung giáo dục phải toàn diện và đào phải đào tạo ra những con người vừa hồng, vừa tạo ra những con người vừa “hồng”, vừa chuyên, vừa có đức, vừa có tài: “Trong giáo dục “chuyên” không những phải có tri thức phổ thông mà phải có đạo đức cách mạng. Có tài phải có đức...” [4]. Trong giáo dục cần tránh tình trạng học lệch về Hồ Chí Minh cũng nhấn mạnh những nội dung cốt một mặt nào đó, nặng về chuyên môn, xem nhẹ yếu trong quá trình giảng dạy và học tập của mỗi quan điểm tư tưởng, nặng lý thuyết, xem nhẹ thực người là: “Dạy cũng như học phải biết chú trọng hành. Hồ Chí Minh luôn quan tâm đến tính toàn cả tài lẫn đức. Đức là đạo đức cách mạng. Đó là diện, cả năng lực và phẩm chất của người học. cái gốc, rất là quan trọng. Nếu không có đạo đức Theo Người, sản phẩm của giáo dục phải là những cách mạng thì có tài cũng vô dụng. Đạo đức cách con người “hoàn toàn” vừa “hồng” vừa “chuyên”. mạng là triệt để trung thành với cách mạng, một Trước hết phải giáo dục chính trị tư tưởng, theo lòng, một dạ phục vụ nhân dân” [12]. Bên cạnh Hồ Chí Minh, chính trị là linh hồn, chuyên môn là đó, Người cũng lưu ý nội dung giáo dục được đưa cái xác. Có chuyên môn mà không có chính trị thì vào giảng dạy phải theo nguyên tắc “Quý hồ tinh chỉ còn cái xác không hồn. Phải có chính trị trước bất quý hồ đa” (quý ở chất lượng, không quý ở rồi có chuyên môn. Thống nhất chính trị tư tưởng số lượng). Tạp chí Nghiên cứu khoa học - Đại học Sao Đỏ, ISSN 1859-4190 Số 2(65).2019 121
  3. NGHIÊN CỨU KHOA HỌC Với nội dung giáo dục toàn diện như trên, đã góp Nếu người ta cần nhiều xe mà mình làm ra nhiều phần đào tạo những con người phát triển cả phẩm bình tích thì hàng ế. Giáo dục cũng phải căn cứ chất và tài năng của con người mới - con người vào trình độ văn hóa, thói quen sinh hoạt, trình xã hội chủ nghĩa. độ giác ngộ, kinh nghiệm tranh đấu, lòng ham, ý muốn, tình hình thiết thực của quần chúng. Vì vậy, 2.3. Giáo dục đào tạo phải có phương pháp cần có tài liệu thích hợp với từng đối tượng, nếu phù hợp tài liệu không thích hợp thì học không có lợi gì [5]. Chủ tịch Hồ Chí Minh rất coi trọng phương pháp Như vậy, để chuyển tải nội dung giáo dục một giáo dục. Người nhấn mạnh, muốn học tập có kết cách có hiệu quả nhất, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã quả tốt thì phải có phương pháp giáo dục đúng đưa ra những phương pháp hết sức sinh động đắn. Từ đó, Hồ Chí Minh đã đưa ra một số phương và thiết thực. Tất cả những phương pháp đó luôn pháp như sau: mang tính linh hoạt, mềm dẻo, ứng phó kịp thời Thứ nhất, kết hợp học với hành, lý luận gắn với với mọi tình huống trong giáo dục. Để thực hiện thực tiễn. Tầm quan trọng của lý luận và sự cần được những phương pháp giáo dục đó cần phải thiết phải học tập lý luận được Hồ Chí Minh khẳng xây dựng được đội ngũ giáo viên có đủ phẩm chất định trong nhiều bài nói, bài viết. Người nghiêm và năng lực. khắc phê phán bệnh coi thường lý luận, tình trạng 2.4. Xây dựng đội ngũ giáo viên có đủ phẩm kém và thiếu lý luận, lý luận suông, chỉ học thuộc chất và năng lực chuyên môn lòng để đem lòe thiên hạ. Người cũng lưu ý, lý luận phải đem ra thực hành, thực hành phải theo Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đánh giá cao vai trò của lý luận : “ Lý luận rất cần thiết, nhưng nếu cách học thầy, cô giáo đối với xã hội. Người nhấn mạnh: tập không đúng thì sẽ không có kết quả. Do đó, "Có gì vẻ vang hơn là nghề đào tạo những thế hệ trong lúc học tập lý luận, chúng ta cần nhấn mạnh: sau này tích cực góp phần xây dựng chủ nghĩa lý luận phải liên hệ với thực tế” [8]. Và “Học phải xã hội và chủ nghĩa cộng sản? Người thầy giáo suy nghĩ, học phải liên hệ với thực tế, phải có thí tốt - thầy giáo xứng đáng là thầy giáo - là người vẻ nghiệm và thực hành. Học với hành phải kết hợp vang nhất..., những người thầy giáo tốt là những với nhau” [12]. anh hùng vô danh... Nếu không có thầy giáo dạy dỗ cho con em nhân dân, thì làm sao mà xây dựng Thứ hai, dạy học phải phù hợp với trình độ người chủ nghĩa xã hội được? Vì vậy, nghề thầy giáo rất học, phù hợp với lứa tuổi. Theo Hồ Chí Minh, khả là quan trọng, rất là vẻ vang" [11] . năng nhận thức của mỗi người là khác nhau, hoàn cảnh, điều kiện và tính cách cũng khác nhau. Do Ðể làm tròn sứ mệnh vẻ vang ấy, người thầy giáo đó, muốn thực hiện tốt phương pháp này, giáo phải có chuyên môn vững và phẩm chất tốt. Bác viên và người tổ chức phải có khả năng hiểu biết nhắc nhở: "Giáo viên phải chú ý cả tài, cả đức, tài và nắm vững đặc điểm, tâm lí của đối tượng giáo là văn hóa, chuyên môn, đức là chính trị. Muốn dục, đồng thời phải căn cứ vào nhu cầu của người cho học sinh có đức thì giáo viên phải có đức... học trong quá trình giáo dục. Cho nên thầy giáo, cô giáo phải gương mẫu, nhất là đối với trẻ con" [9]. Với quan điểm như vậy, Thứ ba, học tập phải liên tục và suốt đời. Hồ Chí trong quá trình giáo dục, người giáo viên phải luôn Minh nhấn mạnh học tập là một việc phải thực hiện ý thức trau dồi đạo đức cách mạng, không ngừng suốt đời: “học hỏi là một việc phải tiếp tục suốt rèn luyện chuyên môn, phải là tấm gương sáng để đời… Không ai có thể tự cho mình đã biết đủ rồi, học sinh noi theo, phải gương mẫu từ lời nói đến biết hết rồi, thế giới ngày nay đổi mới, nhân dân ta việc làm, phải thương yêu chăm sóc học sinh như ngày càng tiến bộ. Cho nên chúng ta phải tiếp tục con em ruột thịt của mình, phải thật sự yêu nghề, học và hành để tiến kịp nhân dân” [6]. Người cũng yêu trường, không ngừng học hỏi để tiến bộ mãi. là một tấm gương học tập suốt đời bền bỉ và khiêm tốn, theo Người còn sống là còn phải học. Bên cạnh đó, mỗi giáo viên còn phải tự hình thành cho mình những năng lực sư phạm khác như: Thứ tư, sửa đổi triệt để chương trình, sách giáo năng lực dạy học, năng lực ngôn ngữ, năng lực tổ khoa cho phù hợp với từng giai đoạn và nhiệm vụ chức, năng lực giao tiếp,… của cách mạng như kháng chiến, kiến quốc, khôi phục kinh tế, củng cố quốc phòng, xây dựng chủ Như vậy, tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục đã nghĩa xã hội, đấu tranh thống nhất nước nhà,... vạch ra phương hướng cơ bản cho chiến lược con Người nói: Giáo dục như người làm ra hàng. Làm người, chiến lược phát triển giáo dục ở Việt Nam ra hàng phải đúng với nhu cầu của người tiêu thụ. trong suốt mấy chục năm qua và cả thời gian sắp 122 Tạp chí Nghiên cứu khoa học - Đại học Sao Đỏ, ISSN 1859-4190 Số 2(65).2019
  4. LIÊN NGÀNH TRIẾT HỌC - XÃ HỘI HỌC - CHÍNH TRỊ HỌC tới. Quán triệt tư tưởng của Người, Đảng và Nhà 1.753.174 sinh viên, năm học 2016-2017 tăng lên nước Việt Nam hết sức quan tâm đến giáo dục và 1.767.679 sinh viên, trong đó có 1.524.904 sinh khẳng định vai trò quan trọng của giáo dục đối với viên học hệ công lập, 64.798 sinh viên học hệ sự phát triển của Việt Nam, đặc biệt là giáo dục ngoài công lập. Đến năm 2018-2019, sinh viên đại đại học. học chính quy gồm 1.443.000. Với quy mô như vậy đã giúp cho việc đào tạo nguồn nhân lực chất 3. VẬN DỤNG VÀO GIÁO DỤC ĐẠI HỌC Ở VIỆT lượng cao của Việt Nam có thể đáp ứng được nhu NAM HIỆN NAY cầu của thời đại, góp phần xây dựng đất nước. Hiện nay, cuộc cách mạng khoa học, công nghệ Nghiên cứu khoa học là hoạt động được sinh viên trên thế giới cùng với quá trình toàn cầu hóa và tích cực tham gia để vận dụng kiến thức đã học hội nhập kinh tế quốc tế đang phát triển mạnh mẽ. vào giải quyết những vấn đề thực tiễn trong cuộc Trong xu thế đó, Việt Nam tiến hành công nghiệp sống. Năm 2018, giải thưởng nghiên cứu khoa hóa, hiện đại hóa đất nước, xây dựng nền kinh học của sinh viên đã thu hút được tổng số 389 đề tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và chủ tài với tổng số sinh viên tham gia là 982. Đây là động hội nhập kinh tế quốc tế. Bối cảnh đó đã đặt những đề tài xuất sắc nhất được lựa chọn từ hàng ra yêu cầu đối với Việt Nam là phải xây dựng được nghìn đề tài nghiên cứu khoa học của sinh viên nguồn nhân lực chất lượng cao. Vì vậy, Đảng luôn ở 88 trường đại học, học viện trong cả nước. Kết chú trọng việc tiếp thu và vận dụng tư tưởng Hồ quả, Hội đồng chung khảo đã xét chọn được 9 đề Chí Minh về giáo dục vào công tác giáo dục nói tài đạt giải Nhất như: đề tài “Xây dựng sách ảnh chung và giáo dục đại học nói riêng. Đảng Cộng minh họa kiến thức Tâm lý học đại cương dành sản Việt Nam đã có nhiều chủ trương đúng đắn cho sinh viên các khoa không chuyên Trường Đại để lãnh đạo, phát triển giáo dục - đào tạo đáp ứng học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh” của nhóm yêu cầu, nhiệm vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa sinh viên: Nguyễn Hải Uyên, Vũ Thị Yến Nhi, Trần đất nước. Quá trình vận dụng này đã đạt được Thị Thu Trang, khoa Tâm lý học, Trường Đại học một số kết quả nhất định. Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh; 96 đề tài đạt 3.1. Kết quả của giáo dục đại học ở Việt Nam giải Ba, 137 đề tài giải Khuyến khích. Tổng số có hiện nay 249 đề tài đạt giải do 698 sinh viên thực hiện [14]. Quy mô các trường đại học ở Việt Nam tăng lên Với những kết quả trên đã góp phần thực hiện nhanh chóng. Theo thống kê của Bộ Giáo dục và được mục đích của giáo dục đại học Việt Nam hiện Đào tạo, tháng 9 năm 2009 chỉ có 150 trường đại nay là đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn học, trong đó có 44 trường tư thục. Nhưng đến diện, có đạo đức, tri thức, sức khỏe, thẩm mỹ và năm 2018, hệ thống giáo dục Việt Nam hiện có nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập dân 235 trường đại học, học viện, tăng gấp 1,57 lần so tộc và chủ nghĩa xã hội; hình thành và bồi dưỡng với năm 2009 (bao gồm 170 trường công lập, 60 nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân, trường tư thục và dân lập, 5 trường có 100% vốn đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo nước ngoài), 37 viện nghiên cứu khoa học được vệ Tổ quốc. Xây dựng những con người mới xã giao nhiệm vụ đào tạo trình độ tiến sĩ, phân bố ở hội chủ nghĩa, chủ động tích lũy kiến thức cũng hầu hết khắp các vùng trên cả nước. như rèn luyện phẩm chất đạo đức. Từ quy mô như trên chúng ta có thể khẳng định, Tuy nhiên, một bộ phận sinh viên chưa đáp ứng công tác xã hội hoá giáo dục ngày càng được đẩy được yêu cầu của xã hội trong quá trình hội nhập mạnh, nguồn lực trong xã hội đầu tư cho giáo dục quốc tế, khả năng ngoại ngữ và kỹ năng mềm được huy động ngày càng nhiều. Sự phân bố các còn yếu. Các trường đại học Việt Nam hiện nay cơ sở giáo dục đại học đã dần rộng khắp trên chưa đào tạo được lực lượng lao động có trình phạm vi cả nước. Điều này là hết sức quan trọng độ chuyên môn cao tương ứng với nhịp độ tăng trong việc đào tạo nguồn nhân lực tại chỗ có chất trưởng kinh tế và hội nhập quốc tế. Việc đào tạo lượng nhằm đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công ồ ạt dẫn đến nghịch lý là số lượng sinh viên đông nghiệp hóa, hiện đại hóa của từng địa phương và nhưng chất lượng chưa tương xứng đã khiến cả nước và đạt được mục đích của giáo dục. các cử nhân sau khi ra trường khó có thể tìm cho mình một công việc thích hợp. Sinh viên khó có Cũng theo kết quả thống kê của Bộ Giáo dục và khả năng tiếp cận thị trường lao động do kỹ năng Đào tạo, quy mô sinh viên của các trường đại mềm còn hạn chế. Nhiều cử nhân khi làm việc tại học năm học 2016-2017 tăng 0,84% so với năm các doanh nghiệp thì vẫn phải đào tạo lại. Hạn 2015-2016, năm học 2015-2016 trên cả nước có chế nữa lớn nhất với sinh viên Việt Nam là khả Tạp chí Nghiên cứu khoa học - Đại học Sao Đỏ, ISSN 1859-4190 Số 2(65).2019 123
  5. NGHIÊN CỨU KHOA HỌC năng ngoại ngữ, nhất là trong thời kỳ hội nhập thì nâng cao trình độ chuyên môn cho sinh viên từ đó thực sự là rào cản lớn. Vì vậy, hằng năm có khi còn học trong nhà trường. Đó là nâng cao kỹ khoảng 72 nghìn sinh viên không có việc làm sau năng, kỹ xảo đặc biệt cho sinh viên thông qua quá khi tốt nghiệp 12 tháng là điều đáng lo ngại [13]. trình đào tạo hoặc tích lũy kinh nghiệm thực tế, Vì vậy, Đại hội XII của Đảng đã vận dụng quan đảm nhiệm được những công việc rất phức tạp, điểm của Hồ Chí Minh khẳng định phải hoàn thiện đáp ứng được các yêu cầu phát triển của kỹ thuật hệ thống giáo dục quốc dân theo hướng hệ thống công nghệ. Các trường đại học phải trang bị cho giáo dục mở, học tập suốt đời và xây dựng xã hội sinh viên hệ thống các tri thức về khoa học cơ bản, học tập; quy hoạch lại mạng lưới cơ sở giáo dục chuyên ngành; phải hướng các tri thức đó theo nghề nghiệp, giáo dục đại học gắn với quy hoạch mục tiêu xác định của nhà trường và nhu cầu của phát triển kinh tế-xã hội, quy hoạch phát triển xã hội. Đồng thời Nhà trường cần phải có quy trình nguồn nhân lực. rèn luyện cụ thể về hệ thống kỹ năng, kỹ xảo liên quan đến ngành, nghề của sinh viên từ mức độ 3.2. Nội dung giáo dục đại học ở Việt Nam thấp đến cao. Phần lớn sinh viên ra trường hiện hiện nay nay đều có trình độ chuyên môn, có thể chuyển Đảng đã đưa ra quan điểm về giáo dục đào tạo giao được tiến bộ khoa học kỹ thuật vào quá trình là phải giáo dục chính trị, tư tưởng, giáo dục chủ học tập và trong cuộc sống. nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan Tuy nhiên, trước những biến động phức tạp của điểm, đường lối của Đảng, giáo dục đạo đức, lối tình hình chính trị - kinh tế thế giới, sự tác động từ sống và nâng cao trình độ chuyên môn là những mặt trái của cơ chế thị trường, âm mưu "diễn biến nội dung quan trọng trong giáo dục đại học. hoà bình" của các thế lực thù địch, một bộ phận Công tác giáo dục chính trị tư tưởng, văn hóa, đạo sinh viên bị mất phương hướng, dao động. Một đức trong các trường đại học rất được chú trọng. bộ phận sinh viên ngại học tập chính trị, xa rời lý Các môn học về chủ nghĩa Mác - Lênin, Tư tưởng tưởng của cộng đồng, có lối sống thực dụng, ích Hồ Chí Minh, Đường lối cách mạng của Đảng kỷ, mưu cầu danh lợi. Đây thực sự là một thực Cộng sản Việt Nam là những học phần bắt buộc trạng đáng báo động. Để nâng cao nội dung giáo trong chương trình giảng dạy. Các chuyên đề dục đại học, Đại hội XII của Đảng khẳng định “Phát về pháp luật, đạo đức cũng được lồng ghép vào triển giáo dục đại học theo hướng hình thành cơ trong quá trình học tập của sinh viên. Vì vậy, đa số sở giáo dục đại học định hướng nghiên cứu, cơ sở sinh viên chấp hành tốt mọi nội quy, quy chế của giáo dục đại học định hướng ứng dụng và cơ sở nhà trường, pháp luật của Nhà nước, thực hiện giáo dục đại học định hướng thực hành” [2]. nghiêm chỉnh quy chế dân chủ ở cơ sở, tạo ra sự đồng thuận và đoàn kết trong sinh viên. Nhiều sinh 3.3. Phương pháp giáo dục ở đại học Việt Nam viên còn tham gia vào các đội tự quản, bảo đảm hiện nay an ninh trật tự, kỷ cương nề nếp trong học đường, Trong Luật Giáo dục có quy định phương pháp phòng chống tệ nạn xã hội và tội phạm trong nhà giáo dục phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ trường và ngoài xã hội. Sinh viên cũng tham gia động, tư duy sáng tạo của người học; bồi dưỡng tích cực vào sinh hoạt đoàn thể như hưởng ứng, cho người học năng lực tự học và hợp tác, khả tham gia phong trào "Đền ơn đáp nghĩa, uống năng thực hành, lòng say mê học tập và ý chí nước nhớ nguồn"; chăm sóc các gia đình thương vươn lên. Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng xác định binh liệt sĩ, bà mẹ Việt Nam anh hùng. Hội sinh phải đa dạng hóa phương pháp giảng dạy. Ở bậc viên đã tích cực phối hợp với Đoàn thanh niên đại học, sinh viên đã có nhận thức nhất định nên phát động và tổ chức sâu rộng phong trào “Học giảng viên không chỉ là người cung cấp thông tin tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, đơn thuần mà phải là người vận dụng các công Sinh viên tình nguyện với các hoạt động xã hội nghệ, phương pháp hiện đại để hướng dẫn cho nhân đạo, tiếp sức mùa thi; xung kích giữ gìn trật các sinh viên tự chủ động học tập, nghiên cứu tài tự an toàn giao thông; xung kích phát triển kinh liệu và các vấn đề trong cuộc sống. tế-xã hội, xung kích trong hội nhập kinh tế quốc tế. Từ đó, các giảng viên cần phải kết hợp các phương Lao động có chuyên môn kỹ thuật cao là nhu cầu pháp giảng dạy truyền thống (phương pháp thuyết tất yếu phổ biến cho mọi thời đại, nhất là trong thời trình) với hiện đại. Phương pháp thuyết trình là kỳ khoa học công nghệ phát triển nhanh chóng một phương pháp cơ bản, dễ dàng áp dụng để như hiện nay. Để có thể đào tạo được lực lượng truyền đạt kiến thức, cung cấp thông tin trên mọi lao động này thì các trường đại học cần chú trọng lĩnh vực và đối với các ngành nghề khác nhau. 124 Tạp chí Nghiên cứu khoa học - Đại học Sao Đỏ, ISSN 1859-4190 Số 2(65).2019
  6. LIÊN NGÀNH TRIẾT HỌC - XÃ HỘI HỌC - CHÍNH TRỊ HỌC Trong một thời gian ngắn, phương pháp thuyết Từ đó, quá trình hiểu biết và năng lực tiếp cận tri trình có thể cung cấp một khối lượng thông tin, thức mới của sinh viên được nâng cao. kiến thức lớn cho một số lượng người nghe đông Tuy nhiên, phương pháp giảng dạy truyền thống (lớp học đông), đây là ưu điểm nổi bật mà các thụ động như thuyết trình, truyền thụ tri thức một phương pháp giảng dạy khác rất khó mà có được. chiều vẫn là phương pháp chủ đạo của một số Do đó, khi giảng dạy giảng viên nên kết hợp sử giảng viên. Mặc dù trong những năm gần đây, các dụng phương pháp thuyết trình truyền thống với trường đại học đã ứng dụng phương pháp giảng các phương pháp giảng dạy hiện đại khác (như dạy theo học chế tín chỉ, nhưng tính chủ động các phương pháp làm việc nhóm, tình huống, trải của sinh viên vẫn chưa cao. Dạy học vẫn nặng nghiệm, thực tập…). về truyền thụ kiến thức, kỹ năng giải quyết các Sự kết hợp giữa phương pháp thuyết trình và tình huống thực tiễn cho sinh viên thông qua khả phương pháp làm việc nhóm sẽ kích thích vai trò năng vận dụng tri thức tổng hợp chưa thực sự đạt chủ động của người học. Sinh viên là người chủ hiệu quả. Từ đó, Đại hội XII của Đảng khẳng định động tìm tòi, suy nghĩ, nhận định, phân tích, tổng phải đổi mới phương pháp giáo dục kỹ thuật, đào hợp, đánh giá… đề tài của nhóm mình và cả đề tạo nghề và giáo dục đại học theo hướng giảm tài của các nhóm khác. Phương pháp thuyết trình thời lượng dạy lý thuyết, tăng thời lượng thảo luận kết hợp với phương pháp sử dụng tình huống giúp và thực hành; gắn đào tạo với nghiên cứu khoa sinh viên tham gia vào quá trình ra quyết định mà học; chuyển quá trình đào tạo thành quá trình tự người ta phải thực sự đương đầu trong một tổ đào tạo; chú trọng rèn luyện năng lực tự học, tự chức thật, có quyền sở hữu, cảm giác được áp nghiên cứu, kỹ năng nghề nghiệp, kỹ năng làm lực, nhận rủi ro và trình bày ý tưởng của mình với việc nhóm. người khác giúp buổi học có sự trao đổi thông tin Nội dung chương trình giáo dục đại học Việt Nam đa chiều. Các tình huống giúp sinh viên phát triển vẫn còn bất cập. Nội dung kiến thức đào tạo còn lòng tự tin, khả năng suy nghĩ độc lập và hợp tác nặng về lý thuyết, nhẹ về thực hành, chưa tạo được trong công việc với đồng nghiệp. Phương pháp sự thống nhất gắn mục tiêu giáo dục với mục tiêu thuyết trình kết hợp với phương pháp trải nghiệm, tìm kiếm việc làm đối với người học. Chương trình thực tập giúp sinh viên gắn lý thuyết với thực đào tạo thiếu thực tiễn, các trường đại học khối tiễn. Thực hiện phương châm này, ngoài những ngành kỹ thuật dù theo hướng hàn lâm nghiên đợt thực tập chính trong chương trình đào tạo của cứu hay thực hành vẫn đang chạy chương trình sinh viên, ở từng môn học giảng viên có thể kết giống nhau. Thời gian học nhiều nên người học hợp phương pháp thuyết trình với phương pháp khó tránh khỏi việc rơi vào trạng thái luôn bị áp trải nghiệm tại doanh nghiệp, giao đề tài và yêu lực hoàn thành các chương trình môn học, ít có cầu các nhóm sinh viên thực hiện và nộp báo cáo thời gian để tự học, tự nghiên cứu hoặc tham gia cho giảng viên hoặc trình bày kết quả trước lớp. các hoạt động xã hội khác. Nhìn chung, trong bối Việc kết hợp các phương pháp giảng dạy phải tùy cảnh hội nhập quốc tế, chương trình giáo dục đại thuộc vào mục tiêu, nội dung, đối tượng giảng dạy học tại Việt Nam hiện nay tỏ ra bất cập và chưa và các điều kiện học tập của từng trường, từng hiệu quả. Về chương trình đào tạo đại học của các ngành học. trường đại học thường xây dựng chưa được công Thực hiện đổi mới phương pháp giáo dục, phương phu, chưa đáp ứng nhu cầu của người sử dụng pháp giảng dạy, gắn lý luận với thực tiễn các lao động, chưa xuất phát từ điều kiện thực tiễn trường đại học ở Việt Nam đã từng bước phát huy của nền kinh tế có nhiều biến động. Thông thường được tính tích cực, tự giác, chủ động của sinh viên xây dựng chương trình đào tạo còn mang tính chủ trong học tập và nghiên cứu. Nhiều giảng viên đã quan, chưa thông qua kết quả khảo sát, nghiên vận dụng linh hoạt phương phương pháp chung cứu của các chuyên gia và doanh nghiệp. Đại hội với phương pháp đặc thù của từng môn học trong XII đưa ra quan điểm về đổi mới chương trình phải quá trình lên lớp. Chính điều đó đã thúc đẩy tinh chuyển sang cách tiếp cận năng lực, chú trọng thần ham học hỏi, ham hiểu biết của nhiều sinh đến mục tiêu phát triển các phẩm chất của học viên. Bên cạnh đó, tùy vào mục tiêu, nội dung, đối sinh; không chỉ đòi hỏi học sinh nắm vững những tượng và điều kiện cụ thể mà nhiều giảng viên đã kiến thức, kỹ năng cơ bản mà còn chú trọng yêu tổ chức nhiều hình thức dạy và học khác nhau cầu vận dụng kiến thức, kỹ năng vào thực hành, như: thảo luận nhóm, trải nghiệm thực tế, trò chơi. giải quyết các tình huống trong học tập và cuộc Tạp chí Nghiên cứu khoa học - Đại học Sao Đỏ, ISSN 1859-4190 Số 2(65).2019 125
  7. NGHIÊN CỨU KHOA HỌC sống. Nội dung các môn học cần lựa chọn những Trong đó: gì cần thiết cho việc phát triển phẩm chất và năng Số lượng giảng viên có trình độ tiến sĩ là 16.514 lực người học; những tri thức thiết thực, gần gũi, người (chiếm khoảng 23%); gắn với đời sống và có thể vận dụng tốt trong thực tế. Trình độ thạc sĩ là 43.127 người (chiếm khoảng 60%); 3.4. Chất lượng đội ngũ giảng viên Trình độ đại học và cao đẳng là 12.519 người Chất lượng đội ngũ giảng viên là yếu tố then chốt, (chiếm khoảng 17%). có vai trò quyết định nâng cao chất lượng giáo dục trong các trường học. Để đào tạo ra được Tuy nhiên, đội ngũ giảng viên hiện nay vẫn còn những con người vừa hồng vừa chuyên, trước một số hạn chế. Sự phân bố chưa hợp lý đội ngũ hết, phải có những giảng viên vừa có phẩm chất, giảng viên có trình độ chuyên môn cao. Giáo sư vừa có trình độ chuyên môn. Vì vậy, văn kiện Đại và phó giáo sư đang trực tiếp giảng dạy tại các hội XII của Đảng khẳng định yêu cầu phải phát trường đại học và cao đẳng, tập trung chủ yếu triển đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý, đáp ứng vẫn ở một số trường đại học lớn tại Hà Nội và yêu cầu đổi mới giáo dục và đào tạo. Thực hiện Thành phố Hồ Chí Minh. Chính sự mất cân đối chuẩn hóa đội ngũ nhà giáo theo cấp học và trình này đã gây nên sự chênh lệch về trình độ đào độ đào tạo. tạo, sự cục bộ địa phương làm ảnh hưởng không nhỏ đến công tác nghiên cứu khoa học giữa Các trường đại học luôn quan tâm, tạo điều kiện các trường đại học và đội ngũ cán bộ khoa học cho giảng viên được học tập nâng cao trình độ chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp. Đồng thời, trong cả nước. Bên cạnh đó, chất lượng đội ngũ động viên, khuyến khích giảng viên thực hiện giảng viên chưa được nâng cao khi một số cán công tác nghiên cứu khoa học, làm đề tài khoa bộ giảng viên không có đề tài nghiên cứu, chưa học, viết báo khoa học, đăng tải các ấn phẩm khoa có bài báo đăng trên tạp chí khoa học trong nước học. Các sản phẩm khoa học công nghệ của sinh và nước ngoài, trình độ ngoại ngữ và ứng dụng viên, giảng viên được áp dụng vào công tác giảng công nghệ thông tin trong giảng dạy còn hạn chế. dạy, nghiên cứu, sản xuất, thể hiện năng lực nghề Cả nước còn khoảng 13.000 giảng viên trình độ nghiệp chuyên sâu của đội ngũ giảng viên, khả đại học nhưng vẫn tham gia giảng dạy đại học. năng ứng dụng kiến thức vào thực tiễn sản xuất. Tại Nghị quyết số 29-NQ/TW của Đảng về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo đã Hiện nay, các giảng viên đại học của Việt Nam đã nêu rõ: “Giảng viên cao đẳng, đại học phải có có những bước tiến cả về phẩm chất chính trị, đạo trình độ từ thạc sĩ trở lên và phải được đào tạo, đức nghề nghiệp lẫn số lượng, trình độ và năng lực chuyên môn. Theo thống kê của Bộ Giáo dục bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm” [1]. và Đào tạo, năm học 2016-2017, số lượng giảng Để phát huy các thành tựu và khắc phục được viên trong các cơ sở giáo dục đại học là 72.792 những hạn chế trên cần phải có những giải pháp người (công lập: 57.634 người; ngoài công lập: phù hợp, trên cơ sở vận dụng tư tưởng Hồ Chí 15.158 người), tăng 3.201 người so với năm học Minh về giáo dục nhằm nâng cao kết quả giảng 2015-2016. dạy của giảng viên và học tập của sinh viên là việc làm cần thiết đối với giáo dục đại học ở Việt Nam. Đây là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân mà nòng cốt là đội ngũ giáo viên và cán bộ giáo dục phải tiếp tục đổi mới mạnh mẽ và nâng cao chất lượng giáo dục đại học toàn diện. Phải đặc biệt chú trọng giáo dục tư tưởng - chính trị, nhân cách, đạo đức, lối sống cho sinh viên. Đổi mới nội dung, chương trình, phương pháp giáo dục theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, đảm bảo nguyên tắc thống nhất giữa lý luận với thực tiễn, học đi đôi với hành. 17% ĐH-CĐ 23% Tiến sĩ 60% Thạc sĩ Đồng thời, phải tăng cường giáo dục tư duy sáng Biểu đồ 1: Trình độ giảng viên năm học 2016 - 2017 tạo, tăng năng lực tự học, tự tu dưỡng, tự tạo việc (Nguồn: Bộ Giáo dục và Đào tạo) làm cho sinh viên. 126 Tạp chí Nghiên cứu khoa học - Đại học Sao Đỏ, ISSN 1859-4190 Số 2(65).2019
  8. LIÊN NGÀNH TRIẾT HỌC - XÃ HỘI HỌC - CHÍNH TRỊ HỌC 4. KẾT LUẬN TÀI LIỆU THAM KHẢO Mặc dù ra đời cách đây nhiều thập kỷ, nhưng tư [1] Đảng Cộng sản Việt Nam (2016), Văn kiện Đại tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục vẫn có ý nghĩa rất hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Cục Xuất bản, lớn đối với sự phát triển giáo dục ở Việt Nam hiện in và phát hành, Bộ Thông tin và Truyền thông, tr. 296. nay. Tư tưởng Hồ Chí Minh về vai trò, mục đích, nội dung, phương pháp, phương châm giáo dục [2] Hồ Chí Minh toàn tập (2011) tập 1, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr. 35. con người luôn soi sáng sự nghiệp trồng người ở Việt Nam. Tư tưởng đó là cơ sở lý luận cho [3] Hồ Chí Minh toàn tập (2011) tập 10, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr. 345. việc xác định chiến lược đào tạo con người, chủ trương, đường lối chỉ đạo phát triển nền giáo dục [4] Hồ Chí Minh toàn tập (2011) tập 10, Nhà xuất Việt Nam của Đảng qua các thời kỳ cách mạng. bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr. 591. Quán triệt tư tưởng của Người, Đảng hết sức [5] Hồ Chí Minh toàn tập (2011), tập 10, Nhà xuất quan tâm đến giáo dục, coi giáo dục là quốc sách bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr. 377. hàng đầu, là nền tảng và động lực của sự nghiệp [6] Hồ Chí Minh toàn tập (2011), tập 11, Nhà xuất công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Đảng đã bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr. 612. vận dụng và khẳng định mục tiêu của giáo dục [7] Hồ Chí Minh toàn tập (2011), tập 11, Nhà xuất nói chung và giáo dục đại học nói riêng là đào tạo bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr. 94. con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo [8] Hồ Chí Minh toàn tập (2011), tập 12, Nhà xuất đức, tri thức, sức khoẻ, thẩm mỹ và nghề nghiệp. bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr. 612. Sự vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục [9] Hồ Chí Minh toàn tập (2011), tập 14, Nhà xuất của Đảng vào quá trình giáo dục đại học đã đạt bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr. 402. được nhiều thành tựu quan trọng. Tuy nhiên, một [10] Hồ Chí Minh toàn tập (2011), tập 14, Nhà xuất số hạn chế vẫn tồn tại đã đặt ra những yêu cầu đối bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr. 402-403. với nền giáo dục đại học của Việt Nam cần phải [11] Hồ Chí Minh toàn tập (2011), tập 14, Nhà xuất khắc phục để xây dựng được đội ngũ nhân lực bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr. 400. chất lượng cao góp phần xây dựng đất nước Việt [12] Mạnh Xuân (2017), Giải pháp nâng cao chất Nam ngày càng giàu mạnh. lượng giáo dục đại học, 07/02/2017. [13] https://huemed-univ.edu.vn/le-trao-giai-thuong- sinh-vien-nghien-cuu-khoa-hoc-va-khoa-hoc- cong-nghe-danh-cho-giang-vien-tre-nam-2018- scnw-c69, cập nhật ngày 27/10/2018. THÔNG TIN VỀ TÁC GIẢ Nguyễn Thị Tình - Tóm tắt quá trình đào tạo, nghiên cứu (thời điểm tốt nghiệp và chương trình đào tạo, nghiên cứu): + Năm 2009: Tốt nghiệp Đại học Ban Lịch sử Đảng và Tư tưởng Hồ Chí Minh, chuyên ngành Sư phạm Giáo dục Chính trị, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội + Năm 2013: Tốt nghiệp Thạc sĩ ngành Lịch sử Trung tâm Đào tạo và Bồi dưỡng giảng viên Lý luận chính trị, Trường Đại học Quốc gia Hà Nội - Tóm tắt công việc hiện tại: Giảng viên, khoa Giáo dục Chính trị và Thể chất, Trường Đại học Sao Đỏ - Lĩnh vực quan tâm: Đường lối cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam, Tư tưởng Hồ Chí Minh - Email: tinh261086@gmail.com - Điện thoại: 0984327750 Tạp chí Nghiên cứu khoa học - Đại học Sao Đỏ, ISSN 1859-4190 Số 2(65).2019 127
  9. NGHIÊN CỨU KHOA HỌC Vũ Thị Lương - Tóm tắt quá trình đào tạo, nghiên cứu (thời điểm tốt nghiệp và chương trình đào tạo, nghiên cứu): + Năm 2001: Tốt nghiệp Đại học chuyên ngành Tiếng Anh, Trường Đại học Ngoại ngữ, Đại học Quốc gia Hà Nội + Năm 2011: Tốt nghiệp Thạc sĩ ngành Tiếng Anh, Trường Đại học Ngoại ngữ, Đại học quốc gia Hà Nội - Tóm tắt công việc hiện tại (chức vụ, cơ quan): Phó Trưởng khoa, khoa Du lịch và Ngoại ngữ, Trường Đại học Sao Đỏ - Lĩnh vực quan tâm: Tiếng Anh, Phương pháp giảng dạy Tiếng Anh - Email: luongnn78@gmail.com - Điện thoại: 0989670521 Phạm Thị Mai - Tóm tắt quá trình đào tạo, nghiên cứu (thời điểm tốt nghiệp và chương trình đào tạo, nghiên cứu); + Năm 2005: Tốt nghiệp Đại học chuyên ngành Luật Dân sự, Trường Đại học Luật Hà Nội + Năm 2014: Tốt nghiệp Thạc sĩ ngành Luật học khoa Luật, Trường Đại học Quốc gia Hà Nội - Tóm tắt công việc hiện tại (chức vụ, cơ quan): Giảng viên, khoa Giáo dục Chính trị và Thể chất, Trường Đại học Sao Đỏ - Lĩnh vực quan tâm: Pháp luật - Email: ngocmaisdcl@gmail.com - Điện thoại: 0978370438 128 Tạp chí Nghiên cứu khoa học - Đại học Sao Đỏ, ISSN 1859-4190 Số 2(65).2019
ADSENSE
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2