intTypePromotion=3

Tuần Báo TIN HỌC-Công Nghệ Thông Tin part 39

Chia sẻ: Qdqwdqwfnmrilhgenrilf Fmreilhenmrilbnfri | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:6

0
34
lượt xem
2
download

Tuần Báo TIN HỌC-Công Nghệ Thông Tin part 39

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Tham khảo tài liệu 'tuần báo tin học-công nghệ thông tin part 39', công nghệ thông tin, quản trị mạng phục vụ nhu cầu học tập, nghiên cứu và làm việc hiệu quả

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Tuần Báo TIN HỌC-Công Nghệ Thông Tin part 39

  1. - Nhấn lên đồng hồ, chọn Date and Time Settings. - Chọn thẻ Additional Clocks. Thêm một hoặc 2 đồng hồ tùy ý lên khay hệ thống. - Chọn múi giờ phù hợp cho các đồng hồ. THANH TRỰC Xem ảnh số theo kiểu 3D với SP 360 Video TTO - SP 360 Video sẽ “đặt” bạn vào trung tâm của tấm ảnh số để có Error! thể xem ảnh theo kiểu 3D vô cùng lạ mắt và thú vị. Duyệt ảnh theo Chương trình này cũng có khả năng chơi các file video dạng AVI với phong các hiệu ứng gương cầu hết sức độc đáo. cách 3D thú vị với Với SP 360 Video (tên đầy đủ là “360 Spherical Video Viewer”), bạn 360 sẽ có cảm giác rằng ảnh số hoặc video clip (dạng AVI) của bạn đã được Spherical “trải đều” lên một khối cầu trong suốt để bạn có thể ngắm nghía mọi chi Video tiết trong ảnh số với dạng tương tự như 3D. Viewer. Bằng các công cụ chuyên biệt, bạn có thể xoay khối cầu ảnh số theo đủ mọi hướng để ngắm với những góc độ hết sức lạ mắt. Ngoài ra, SP 360 Video cũng trang bị cho bạn một số công cụ để thực hiện một số hiệu ứng lạ mắt cho tấm ảnh số hoặc đoạn video mà mình đang xem. Cách sử dụng SP 360 Video cũng khá dễ dàng, bạn chỉ cần nhấn vào nút “Load” để tìm đến file ảnh cần xem, mở nó ra trên giao diện chính, hiệu ứng 3D dạng gương cầu sẽ tự động trình diễn ngay lập tức. Mọi chi tiết trong ảnh số sẽ được từ từ “diễu hành” tương tự như một đoạn phim ngắn. Hiệu ứng mặc định này đặc biệt hấp dẫn khi bạn xem các hình phong cảnh. Bạn có thể click chuột trực tiếp trên màn ảnh trình diễn để xoay ảnh số theo bất kỳ góc độ nào mà mình muốn xem; nhấn vào các mũi tên phải - trái - lên - xuống để điều chỉnh chiều trình diễn của tấm ảnh hoặc nhấn vào các nút có dấu cộng hoặc trừ để phóng to thu nhỏ phần ảnh đang xem. Nếu muốn thêm một số hiệu ứng lạ mắt thì bạn có thể nhấn vào các nút chức năng như: Inverse Control, Noise Control, Fog Control, Soften Effect, Sharpen Effect, Quality Mode… Các hiệu ứng gương cầu cũng tạo cho bạn cảm giác thích thú khi xem video clip dạng AVI, nhưng nếu bạn chỉnh góc độ xem không khéo thì hình ảnh trình chiếu đôi khi sẽ là một mớ hỗn độn vô nghĩa. Ngoài ra, SP 360 Video cũng chỉ tương thích duy nhất với định dạng ảnh số JPG.
  2. Công ty Spherical Panorama đang bán ra bản “360 Spherical Video Viewer 4.02” với giá là 25 USD. Bạn đọc quan tâm có thể vào đây (http://sp.zdt.ru/download.php) để tải về bản dùng thử với dung lượng khoảng 3,5 MB. THIÊN TRANG Âm thanh vòm và thời gian TTO - Bắt đầu từ khi âm thanh Stereo trở thành phổ thông trong thập Error! niên 50, các nhà sản xuất đã chạy đua với nhau để tạo ra những đỉnh SoundMax cao cuối cùng của công nghệ thưởng thức âm thanh. Hero 5.1: Ngay cả vào thập niên 40, Walt Disney đã kết hợp kỹ thuật âm thanh Một trong vòm vào bộ phim hoạt hình Fantasia, hầu để đưa khán giả đi vào những những sản cảm giác bao la của hình ảnh và âm thanh trong bộ phim. phẩm đạt Mặc dầu những kỹ thuật trong Fantasia không thể nào lập lại ở trong chất lượng nhà của khán giả, tuy nhiên các kỹ sư âm thanh trong cả lĩnh vực âm về âm nhạc và phim ảnh đã không ngừng tìm kiếm và phát triển những thanh lẫn phương pháp mới. Dần dần những công nghệ này đã trở thành hệ thống thiết kế. âm thanh vòm mà chúng ta thưởng thức trong rạp hát trên thế giới ngày hôm nay. Âm thanh mono Âm thanh monophonic chỉ có một kênh, xuất phát từ một phương hướng. Nó chỉ dùng một amplifier và một loa để phát lại. Đối với thính giác của bạn, tất cả những chi tiết của âm nhạc, như là giọng hát, những nhạc cụ v.v hình như được phát ra từ một điểm trong không gian. Nếu bạn gắn hai loa vào vào một nguồn monophonic, âm thanh bây giờ giống như là nó được phát ra từ một điểm ở chính giữa hai loa, tạo ra một kênh ảo (phantom channel). Âm thanh Stereophonic Đây là kỹ thuật thông thường nhất của những âm thanh được tái tạo lại. Mặc dầu nó không phải là hoàn toàn giống như thật, âm thanh stereophonic cho phép người nghe hình dung rõ ràng vị trí của những nhạc cụ trên sân khấu. Stereophonic process Điểm chính yếu của âm thanh Stereophonic là sự phân chia của âm thanh ra hai kênh. Âm thanh thâu được đã được pha trộn để cho một vài phần tử được chuyển về kênh trái, những phân tử khác được chuyển về bên phải. Một điều thú vị của âm thanh Stereo là người nghe có thể cảm giác được vị trí của những nhạc cụ trong một dàn nhạc giao hưởng, trong đó âm thanh từ những nhạc cụ được xuất phát từ những điểm khác nhau trên sân khấu. Tuy nhiên, yếu tố monophonic cũng được cộng vào ở đây. Bằng cách mix âm thanh của người ca sĩ vào trong cả hai kêng, giọng ca sĩ giống như là đang đứng ở kênh giữa của loa trái và loa phải.
  3. Giới hạn của âm thanh Stereo Âm thanh Stereo mặc dầu rất là phổ thông trong những năm 50 và 60, nhưng nó có sự giới hạn. Nhiều bản thâu có hiện tượng "ping-pong". Bởi vì khi mix-down người ta đã nhấn mạnh đến sự khác nhau giữa kênh trái và phải mà không chú ý đến kênh ảo ở chính giữa. Hơn nữa, mặc dầu âm thanh bây giờ đã được tái tạo lại giống như thật hơn, nó vẫn còn thiếu những thông tin về không gian (ambience). Stereophonic làm cho người nghe có cảm giác như tất cả mọi thứ đều nằm ở "phía trước" và nó thiếu đi những âm hưởng tự nhiên, như sự vang dội ở phía sau do những bức tường, hay là những yếu tố khác của âm hưởng. Âm thanh bốn-kênh-rời và Quadraphonic Vào cuối thập niên 60 và vào đầu của thập niên 70, có hai sự phát triển trong âm thanh mà nó cố gắng giải đáp những giới hạn của âm thanh Stereo. Đó là bốn- kênh-rời và Quadraphonic. Khó khăn với bốn-kênh-rời Trong hệ thống bốn-kênh-rời, cần phải có bốn amplifier giống nhau, và nó rất là đắt tiền. Đây là những năm tháng của Bóng đèn và Transistors, không phải là IC như ngày hôm nay. Hơn nữa, bốn-kênh-rời chỉ có thể thể hiện qua những máy đắt tiền 4-kênh reel-to- reel. Vào những năm đó, đĩa than (LP) chỉ có thể phát ra hai kênh. Quadraphonic - tiến gần hơn đến âm thanh vòng Kỹ thuật Quad cho phép chúng ta một dạng âm thanh thật hơn và rẽ tiền hơn bốn- kênh-rời. Nguyên tắc của Quad là nó mã hóa những thông tin từ 4 kênh để thâu lại xuống 2 kênh. Kết quả thiết thực là những chi tiết về không gian (ambience) hay là những hiệu ứng âm thanh có thể được gắn vào (embeded) một bản thâu chỉ có hai kênh. Những thông tin này được gọi lại và giải mã bằng một bộ giải mã Quad. Thực chất, Quad là tiền thân của Dolby Surround ngày hôm nay. Nhưng mặc dầu Quad có nhiều hứa hẹn là nó có thể đem âm thanh vòm đến cho rạp hát gia đình, người tiêu dùng cần phải mua amplifier mới, với bộ giải mã mới, và cả nhiều loa hơn. Cuối cùng bởi vì nó thiếu một sự nhất trí giữa các nhà sản xuất phần cứng và phần mềm, Quad đã chết yểu trước khi nó có cơ hội để trưởng thành. Sự xuất hiện của Dolby Surround Error! Trong những năm giữa thập niên 70, sự thành công của Dolby trong Mô hình những phim như là Star Wars, Tommy, mở màn cho một phương pháp âm thanh mới để giải mã âm thanh vòm. vòm Hơn nữa, sự tiến hóa về kỹ thuật của HiFi Stereo VCR trong thập niên Dolby 80, tạo nên một hướng đi để âm thanh vòng có thể phát triển: đó là rạp Surround. hát ở nhà. Âm thanh Dolby - Thiết thực cho gia đình
  4. Bây giờ thì các nhà sản xuất phần cứng và phần mềm có thể mã hóa những dữ kiện trong phim vào trong hai kênh. Điều này đã khuyến khích sự ra đời của những linh kiện rẽ tiền cho âm thanh vòng. Khách hàng với Stereo có thể mua những hộp giải mã Dolby để nghe âm thanh vòng. Sự việc này càng ngày càng trở nên phổ thông, giá thành của amplifier đã tích hợp với bộ giải mã Dolby càng ngày càng thấp xuống, và cuối cùng là Âm thanh vòng trở nên một bộ phận vỉnh viễn trong hệ thống Giải trí ở nhà. Cơ bản của âm thanh Dolby Phương pháp âm thanh vòng Dolby bao gồm việc mã hoá bốn kênh của tin tức - Front Left, Center, Front Right, và kênh Rear vào trong hai kênh tín hiệu. Một IC giải mã sau đó sẽ chuyển tín hiệu này đến nơi thích hợp như là kênh trái, kênh phải, kênh sau và kênh giữa. (kênh giữa là do tích hợp giữa hai kênh trái và phải). Hiệu quả của Dolby Surround là một môi trường nghe cân bằng. Trong đó những âm thanh chính được phát ra từ kênh trái và kênh phải. Lời ca hay là lời đối thoại được phát ra từ kênh giữa, và không khí của âm nhạc (ambience) được phát ra từ sau lưng người nghe. Trong kỹ thuật thâu âm, khi âm thanh được giải mã với quy trình này, nó cho ta cảm giác tự nhiên hơn, và với nhiều dấu hiệu hơn về chiều sâu của căn phòng. Trong âm thanh của phim, cảm giác của âm thanh đi từ trước ra sau và đi từ trái sang phải cộng thêm vào sự hiện thực của kinh nghiện nghe/nhìn bằng cách để người nghe có cảm tưởng như họ đang ở trong những hành động đang xãy ra. Dolby surround rất là dễ dàng sử dụng trong cả âm nhạc hay là âm thanh của phim. Sự hạn chế của Dolby Surround Dolby surround vẫn còn những sự hạn chế. Những kênh phía sau vẫn là thụ động, nó vẫn thiếu những phương hướng về âm thanh một cách chính xác. Hơn nữa sự phân biệt giữa các kênh ít hơn là trong Stereo. Dolby Pro Logic Dolby Pro Logic vượt qua những giới hạn của Dolby Surround thông thường bằng cách gắn thêm vào phần cứng và phần mềm trong trong IC giải mã bằng cách nhấn mạnh những tín hiệu quan trọng về phương hướng trong âm thanh của phim. Nói một cách khác, bộ giải mã sẽ nhấn mạnh vào sự định vị của âm thanh bằng cách tăng biên độ của các âm này trong các kênh tương ứng. Qui trình này, mặc dầu không quan trọng trong sự thâu âm của âm nhạc, nhưng rất là có hiệu quả trong phim. Nó làm cho những sound effects như là tiếng bom nỗ, phi cơ bay ngang đầu… được thể hiện rõ ràng hơn. Âm thanh có sự phân biệt rõ ràng giữa các kênh. Thêm vào đó, Dolby Prologic trích ra một kênh chuyên dùng là kênh Center, dùng để đặt những lời đối thoại vào giữa. Sự hạn chế của Dolby Pro-logic Mặc dầu Dolby Pro-Logic là một sự cải tiến ưu tú nhất của Dolby Surround. Hiệu ứng của nó chỉ có thể nhìn nhận được chỉ trong phương diện tái tạo lại. Và mặc dù
  5. có hai loa ở đằng sau, chúng vẫn là tín hiệu mono, giới hạn đi những âm thanh có hướng di động từ đằng sau lưng đến trước mặt, và từ bên cạnh đến trước mặt. Dolby Digital Dolby digital thông thường được gọi là hệ thống 5.1 kênh. Cần phải nói rằng cụm từ "Dolby Digital" ám chỉ đến sự mà hoá của tín hiệu âm thanh, không phải là bao nhiêu kênh mà nó có. Dolby digital có thể là Mono, 2-kênh, 4-kênh, 5.1 kênh hay 6.1 kênh. Trong những ứng dụng thông thường, Dolby Digital 5.1 va 6.1 thường được gọi tắt là Doby Digital. Những lợi ích của Dolby Digital 5.1 có cả hai thuộc tính: chính xác và linh động bằng cách cộng thêm hai kênh stereo ở phía sau, làm cho cảm tưởng như âm thanh được phát ra từ nhiều phương hướng hơn. Và hơn nữa, có một kênh chuyên dụng để nhấn mạnh về những tần số trầm. Không giống như Dolby Prologic, trong đó những kênh phía sau chỉ ở một cường độ nhỏ, và tần số đáp ứng chỉ có giới hạn, Dolby Digital cho ra cường độ lớn như những kênh chính. Sự mã hóa của Dolby Digital trên DVDs, Laserdiscs thì rất là phổ thông trên thị trường. Âm thanh vòm dành cho âm nhạc Những công nghệ như là Dolby Digital chỉ dược thiết kế chủ yếu là để xem phim. Chưa có một phương pháp hiệu quả nào để tạo âm thanh vòm cho nghe nhạc. Thực tế, nhiều tay audiophiles đã từ chối âm thanh vòm, thay vào đó là bộ loa stereo truyền thống để nghe nhạc. Những nhà sản xuất như là Yamaha đã cho ra đời công nghệ làm nổi bật âm thanh (sound enhancement) mà nó có thể đưa nguồn âm thanh vào một môi trường ảo, như là jazz club, concert hall, hay là sân vận động. Nhưng nó không thể nào "chuyển đổi" giữa 2 kênh và dạng thức 5.1 . DTS (Digital Theater Systems) và SRS Labs Không phải chỉ có một mình Dolby labs trên thị trường âm thanh vòm cho gia đình. DTS (Digital theater Systems) cũng có công nghệ riêng cho âm thanh vòm. DTS cơ bản cũng giống như Dolby Digital 5.1, nhưng bởi vì DTS không áp dụng kỹ thuật nén nhiều trong quá trình mã hóa, nhiều người nghĩ rằng âm thanh của nó hay hơn. Hơn nữa, trong khi Dolby Digital được sử dụng chính yếu trong soundtrack của phim, DTS thì được dùng trong Âm nhạc. Một vài CD player bây giờ có DTS ở đầu ra, cho phép DTS amplifier giải mã tín hiệu DTS đã được "in" trong những DTS-CD. Error! Mô hình SRS: Tru-
  6. Sound.

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản