intTypePromotion=1

Ứng dụng phương pháp công tác xã hội nhóm trong giáo dục kĩ năng sống cho trẻ em mồ côi tại làng trẻ em SOS Hà Nội

Chia sẻ: Tuong Vi Danh | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:5

0
119
lượt xem
6
download

Ứng dụng phương pháp công tác xã hội nhóm trong giáo dục kĩ năng sống cho trẻ em mồ côi tại làng trẻ em SOS Hà Nội

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Bài viết đề cập tới các khía cạnh như: khái niệm liên quan tới công tác xã hội nhóm đối với trẻ em mồ côi, các yếu tố ảnh hưởng tới hoạt động công tác xã hội nhóm đối với trẻ em mồ côi, ứng dụng phương pháp công tác xã hội nhóm đối với trẻ em mồ côi tại Làng trẻ em SOS Hà Nội.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Ứng dụng phương pháp công tác xã hội nhóm trong giáo dục kĩ năng sống cho trẻ em mồ côi tại làng trẻ em SOS Hà Nội

VJE<br /> <br /> Tạp chí Giáo dục, Số đặc biệt Kì 2 tháng 5/2018, tr 122-126<br /> <br /> ỨNG DỤNG PHƯƠNG PHÁP CÔNG TÁC XÃ HỘI NHÓM<br /> TRONG GIÁO DỤC KĨ NĂNG SỐNG CHO TRẺ EM MỒ CÔI<br /> TẠI LÀNG TRẺ EM SOS HÀ NỘI<br /> Nguyễn Thị Liên - Trường Đại học Hùng Vương<br /> Ngày nhận bài: 19/05/2018; ngày sửa chữa: 20/05/2018; ngày duyệt đăng: 28/05/2018.<br /> Abstract: The social group with groups is an approach to assisting groups with common problems<br /> in their lives. At present, orphan care facilities have been using assistive methods for orphans.<br /> However, the social work with groups has not been implemented universally and effectively. The<br /> article deals with aspects of this method such as the concepts related to social work with groups<br /> for orphans; factors affecting social work for orphans; application of the method of social work<br /> with groups for orphans at the SOS children’s village in Hanoi.<br /> Keywords: Orphans, social work with groups, life skills education.<br /> 1. Mở đầu<br /> Trẻ em luôn là đối tượng cần được quan tâm đặc biệt.<br /> Chính vì vậy, ngay trong lời mở đầu, Công ước của Liên<br /> Hợp quốc về Quyền trẻ em (Việt Nam phê chuẩn ngày<br /> 20/02/1990) khẳng định: “... để phát triển đầy đủ và hài<br /> hòa nhân cách của mình, trẻ em cần được lớn lên trong<br /> môi trường gia đình, trong bầu không khí hạnh phúc, yêu<br /> thương và cảm thông” [1].<br /> Trong những năm gần đây, Việt Nam đã có những<br /> chính sách quan tâm, hỗ trợ, đầu tư nhằm đáp ứng nhu<br /> cầu chăm sóc cho trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt (HCĐB).<br /> Với con số là 1,4 triệu trẻ em có HCĐB (trong đó có trẻ<br /> em mồ côi (TEMC)) đang là thách thức lớn đối với Nhà<br /> nước, các cơ quan, ban ngành. Nhằm hướng tới hạn chế<br /> những khó khăn, thách thức trong hoạt động chăm sóc,<br /> giáo dục trẻ em có HCĐB, đã có các chính sách nhằm<br /> đón đầu trước những năm tiếp theo khi số lượng TEMC<br /> không có xu hướng giảm. Ước tính, số lượng trẻ em có<br /> HCĐB ở nước ta đến năm 2020 sẽ là 223.000 TEMC; trẻ<br /> em nhiễm HIV/AIDS khoảng 27.000; trẻ em khuyết tật<br /> nặng; trẻ em là nạn nhân của chất độc hoá học khoảng<br /> 265.000; trẻ em bị ảnh hưởng bởi thiên tai, thảm họa<br /> khoảng 140.000; trẻ em bị tự kỉ, bị down, bị thiểu năng<br /> trí tuệ khoảng 545.000.<br /> Xuất phát từ thực tế đó, công tác xã hội (CTXH) đã<br /> ra đời và phát huy vai trò của mình trong trợ giúp cho các<br /> nhóm đối tượng yếu, nhất là TEMC. Tuy nhiên, hiện nay<br /> việc ứng dụng phương pháp CTXH trong trợ giúp cho<br /> các nhóm đối tượng yếu thế chỉ dừng lại ở phương pháp<br /> CTXH cá nhân, trong khi phương pháp CTXH nhóm<br /> chưa được ứng dụng phổ biến và chưa được thực hiện<br /> một cách hiệu quả.<br /> Để can thiệp, trợ giúp cho các nhóm TEMC có chung<br /> vấn đề cần tới rất nhiều yếu tố, trong đó không thể thiếu<br /> <br /> phương pháp CTXH nhóm đối với TEMC. Bài viết này<br /> đề cập tới một số khía cạnh về khái niệm liên quan tới<br /> TEMC, CTXH nhóm với TEMC và ứng dụng tiến trình<br /> can thiệp CTXH nhóm đối với TEMC tại Làng trẻ em<br /> SOS Hà Nội.<br /> 2. Nội dung nghiên cứu<br /> 2.1. Một số khái niệm cơ bản<br /> 2.1.1. Khái niệm “trẻ em mồ côi”<br /> Tại Namibia, TEMC là một đứa trẻ dưới 18 tuổi đã<br /> mất mẹ, cha, hoặc cả hai - hoặc người chăm sóc chính do tử vong, hoặc một đứa trẻ cần được chăm sóc; còn tại<br /> Ethiopia thì TEMC là một đứa trẻ dưới 18 tuổi đã mất cả<br /> hai bố mẹ, bất kể họ đã chết như thế nào [2; tr 3].<br /> Theo Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em<br /> (sửa đổi năm 2004) thì TEMC không nơi nương tựa, trẻ<br /> em bị bỏ rơi được hiểu là những trẻ em có hoàn cảnh<br /> như sau:<br /> - Mồ côi cả cha lẫn mẹ hoặc bị bỏ rơi, bị mất nguồn<br /> nuôi dưỡng và không còn người thân thích ruột thịt (ông,<br /> bà nội, ngoại; bố, mẹ nuôi hợp pháp; anh, chị, em) để<br /> nương tựa.<br /> - Mồ côi cha hoặc mẹ nhưng người còn lại (mẹ hoặc<br /> cha) mất tích theo quy định của Bộ luật Dân sự hoặc<br /> không đủ năng lực, khả năng để nuôi dưỡng (như tàn tật<br /> nặng, đang trong thời gian chấp hành án phạt tù tại trại<br /> cải tạo), không có nguồn nuôi dưỡng và không có người<br /> thân thích để nương tựa.<br /> Như vậy, TEMC được hiểu là những trẻ không còn<br /> bố mẹ hoặc một trong hai người đã mất, người còn lại<br /> không xác định được hay đang trong quá trình thụ án...<br /> 2.1.2. Khái niệm công tác xã hội nhóm với trẻ em mồ côi<br /> CTXH nhóm là phương pháp thực hành CTXH liên<br /> quan tới làm việc theo nhóm, đề cập đến một phương<br /> <br /> 122<br /> <br /> VJE<br /> <br /> Tạp chí Giáo dục, Số đặc biệt Kì 2 tháng 5/2018, tr 122-126<br /> <br /> pháp thực hành CTXH liên quan đến việc công nhận và<br /> sử dụng các quá trình xảy ra khi có từ 3 người trở lên làm<br /> việc cùng nhau theo một mục đích chung. Thuật ngữ làm<br /> việc nhóm cũng được sử dụng để mô tả một ngữ cảnh<br /> cho thực tiễn, nơi thực hành CTXH được tiến hành theo<br /> nhóm [3; tr 82].<br /> CTXH nhóm là một phương pháp với cách thức thực<br /> hiện theo tiến trình các bước và mang tính khoa học.<br /> Được thực hiện bởi những người điều phối là các nhân<br /> viên CTXH, người có kiến thức, kĩ năng, thái độ phù hợp.<br /> CTXH hướng tới hỗ trợ cho những nhóm người có chung<br /> vấn đề, chung mục đích và các đặc điểm tương đồng khác<br /> như: độ tuổi, giới tính...<br /> CTXH nhóm với TEMC là quá trình nhân viên xã hội<br /> sử dụng phương pháp CTXH nhóm tác động đến nhóm<br /> đối tượng là TEMC. Thông qua tiến trình trợ giúp mà<br /> trong đó các thành viên nhóm là TEMC (có đặc điểm,<br /> vấn đề và nhu cầu giống nhau) được tạo cơ hội và môi<br /> trường có hoạt động tương tác lẫn nhau, chia sẻ những<br /> mối quan tâm hay những vấn đề chung, tham gia vào các<br /> hoạt động nhóm và hướng đến giúp đỡ nhóm và từng cá<br /> nhân tăng cường khả năng tự giải quyết vấn đề nhằm thỏa<br /> mãn nhu cầu”.<br /> CTXH nhóm đối với TEMC là một quá trình mà<br /> nhân viên xã hội vận dụng các kiến thức chuyên môn, kĩ<br /> năng nghề nghiệp cùng với thái độ tích cực và kinh<br /> nghiệm làm việc vào hoạt động can thiệp, hỗ trợ cho một<br /> nhóm TEMC (có chung vấn đề, có những đặc điểm<br /> tương đồng và có nhu cầu cần được trợ giúp) thông qua<br /> các vai trò như điều phối, kết nối, tham vấn,... và tạo một<br /> bầu không khí làm việc nhóm cởi mở, giúp các thành<br /> viên trong nhóm tương tác, chia sẻ những khó khăn và<br /> cùng nhau lên kế hoạch tháo gỡ.<br /> 2.1.3. Khái niệm giáo dục kĩ năng sống<br /> Giáo dục kĩ năng sống là một quá trình với những<br /> hoạt động giáo dục cụ thể nhằm tổ chức, điều khiển để<br /> biết cách chuyển dịch kiến thức và thái độ, giá trị thành<br /> hành động thực tế một cách tích cực và mang tính chất<br /> xây dựng [4; tr 22].<br /> Giáo dục kĩ năng sống chính là quá trình tổ chức các<br /> hoạt động, cung cấp các kiến thức, kĩ năng giúp đối<br /> tượng tham gia có thể xây dựng được những hành vi, kĩ<br /> năng, thái độ tích cực và vận dụng vào trong cuộc sống.<br /> 2.2. Ứng dụng phương pháp can thiệp công tác xã hội<br /> nhóm đối với nhóm trẻ em mồ tại Làng trẻ em SOS<br /> Hà Nội<br /> 2.2.1. Vài nét về nhóm can thiệp tại Làng trẻ em SOS<br /> Hà Nội<br /> Nhóm gồm 7 thành viên (từ 14-16 tuổi, gồm 3 nam<br /> và 4 nữ). Các thành viên trong nhóm đều có chung vấn<br /> <br /> đề hạn chế về kĩ năng sống, luôn mặc cảm, tự ti, nhút<br /> nhát và đều là TEMC đang sống tại Làng trẻ em SOS Hà<br /> Nội. Các em gặp khó khăn trong việc xác định được điểm<br /> mạnh, năng lực của bản thân; không xác định được giá<br /> trị bản thân, không có kĩ năng ra quyết định cũng như các<br /> kĩ năng liên quan tới xác định vấn đề, xác định mục tiêu<br /> trong cuộc sống. Bên cạnh đó, một số thành viên trong<br /> nhóm luôn tỏ ra khó bảo và khó tuân theo kỉ luật của<br /> Làng trẻ.<br /> 2.2.2. Mục tiêu can thiệp:<br /> - Giúp trẻ xác định giá trị bản thân (khám phá điểm<br /> mạnh, điểm hạn chế của mình) trong thời gian 10 tuần.<br /> - Giúp các em xác định được vấn đề, mục tiêu và có<br /> được những kĩ năng giao tiếp mới, tự tin, hòa đồng với<br /> các bạn; mạnh dạn tham gia các hoạt động trong học tập<br /> và ngoại khóa sau thời gian 10 tuần.<br /> 2.2.3. Thời gian, địa điểm và kế hoạch can thiệp:<br /> - Thời gian thực hiện tiến trình CTXH nhóm từ ngày<br /> 5/01/2017 tới ngày 27/7/2017. Thời gian thực hiện 1<br /> buổi/1 tuần vào các buổi tối thứ 6 hàng tuần. Tuy nhiên,<br /> ngoài thời gian cố định đó, nhóm có thể có các buổi hoạt<br /> động vào các ngày khác trong tuần, tùy vào lịch học của<br /> các thành viên trong nhóm.<br /> - Địa điểm là tại sân và phòng hoạt động chung của<br /> Làng trẻ em SOS.<br /> - Kế hoạch can thiệp được thực hiện theo 3 mục tiêu<br /> ở trên.<br /> 2.2.4. Hoạt động can thiệp<br /> Qua quá trình khảo sát, tìm hiểu và lập kế hoạch can<br /> thiệp. Chúng tôi đã ứng dụng tiến trình can thiệp CTXH<br /> nhóm với TEMC cho nhóm trẻ từ 14-16 tuổi tại Làng trẻ<br /> em SOS Hà Nội.<br /> 2.2.4.1. Giai đoạn chuẩn bị và thành lập nhóm:<br /> - Tuyển chọn thành viên nhóm: Nhóm của chúng tôi<br /> gồm 7 thành viên, đa số các em là những trẻ nhút nhát,<br /> tự ti, ngại giao tiếp, hạn chế trong kĩ năng sống, hay khép<br /> mình.<br /> - Thông tin về các thành viên trong nhóm:<br /> <br /> 123<br /> <br /> STT<br /> <br /> Họ và tên<br /> <br /> Thông tin cá nhân<br /> <br /> 1<br /> <br /> N.T.Lu<br /> <br /> Tuổi: 15; Giới tính: Nữ<br /> <br /> 2<br /> <br /> N.V.Li<br /> <br /> Tuổi: 14; Giới tính: Nam<br /> <br /> 3<br /> <br /> N.S.Q<br /> <br /> Tuổi: 14; Giới tính: Nam<br /> <br /> 4<br /> <br /> Đ.T.M<br /> <br /> Tuổi: 16; Giới tính: Nữ<br /> <br /> 5<br /> <br /> T.G.B<br /> <br /> Tuổi: 15; Giới tính: Nam<br /> <br /> 6<br /> <br /> T.L.P<br /> <br /> Tuổi: 16; Giới tính: Nữ<br /> <br /> 7<br /> <br /> C.D.L<br /> <br /> Tuổi: 16; Giới tính: Nữ<br /> <br /> VJE<br /> <br /> Tạp chí Giáo dục, Số đặc biệt Kì 2 tháng 5/2018, tr 122-126<br /> <br /> - Những điểm mạnh và hạn chế của nhóm:<br /> Điểm mạnh<br /> <br /> Hạn chế<br /> <br /> - Các thành viên trong<br /> nhóm có độ tuổi tương<br /> đồng, nên dễ dàng tổ<br /> chức các hoạt động.<br /> - Bên cạnh việc giúp<br /> trẻ giảm mặc cảm tự ti,<br /> kĩ năng sống,... nhóm<br /> luôn đan xen các hoạt<br /> động giải trí. Chính<br /> điều đó là động lực<br /> giúp cho các thành<br /> viên trong nhóm tích<br /> cực tham gia.<br /> - Các thành viên trong<br /> nhóm cùng độ tuổi<br /> nên trong quá trình<br /> trao đổi, chia sẻ sẽ dễ<br /> dàng thấu hiểu với<br /> nhau hơn.<br /> - Các thành viên trong<br /> nhóm chủ động tham<br /> gia chứ không phải ép<br /> buộc.<br /> <br /> - Các thành viên trong nhóm<br /> đang trong giai đoạn dậy thì,<br /> tâm - sinh lí chưa được ổn<br /> định, các em dễ nổi nóng,<br /> cáu gắt và thích thể hiện cái<br /> tôi, khó chấp nhận quan<br /> điểm của người khác.<br /> - Vì cái tôi cao nên trong quá<br /> trình sinh hoạt nhóm có thể<br /> có nhiều mâu thuẫn liên<br /> quan tới những bất đồng về<br /> quan điểm.<br /> - Các em đang trong độ tuổi<br /> khám phá những cái mới<br /> nên việc tập trung vào các<br /> hoạt động sẽ không được<br /> như ý muốn vì tính hiếu<br /> động.<br /> - Hoạt động nhóm sẽ có<br /> những quy tắc riêng và việc<br /> thực hiện những quy tắc đó<br /> gặp khó khăn do độ tuổi này<br /> không thích bị gò bó vào<br /> khuôn khổ.<br /> <br /> - Hoạt động 1: Vận dụng cửa sổ Johari nhằm giúp<br /> các thành viên khám phá ra điểm mạnh của bản thân<br /> (trong 5 buổi).<br /> Với hoạt động này, chúng tôi đã sử dụng 7 tờ giấy A0<br /> cho 7 thành viên trong nhóm. Các thành viên viết tên của<br /> mình lên cửa sổ và phác họa các ô trong của sổ Johari<br /> theo sự hướng dẫn của nhân viên xã hội. Mỗi thành viên<br /> viết lên ô “Mở” những điểm mạnh của bản thân mà người<br /> khác không biết và chia sẻ những điểm mạnh của bản<br /> thân cho những người bạn xung quanh chưa biết về mình<br /> ở ô “Ẩn”. Tiếp theo, các thành viên hoán đổi tờ giấy A0<br /> cho nhau để các thành viên trong nhóm cùng ghi những<br /> điểm mạnh của bạn lên cửa sổ ô “Mù”, nơi mà người<br /> khác biết được những điểm mạnh của bạn, nhưng bạn<br /> chưa khám phá ra. Và cứ thế lần lượt thực hiện tất cả các<br /> ô với từng thành viên trong nhóm.<br /> <br /> - Đánh giá hiệu quả quá trình can thiệp CTXH nhóm:<br /> Kết thúc mỗi buổi làm việc nhóm cũng như kết thúc một<br /> mục tiêu, nhân viên xã hội hướng dẫn các thành viên<br /> trong nhóm tự đánh giá sự hài lòng với các hoạt động<br /> thông qua hình thức gắn hình vào bảng. Nếu hài lòng, các<br /> em gắn hình sao, nếu chưa hài lòng thì gắn hình tròn và<br /> cảm thấy bình thường thì gắn cả hai hình lên bảng.<br /> Hứng thú<br /> (hài lòng)<br /> <br /> Không<br /> hứng thú<br /> (không<br /> hài lòng)<br /> <br /> Bình thường<br /> <br /> Kết thúc hoạt động 1, các thành viên trong nhóm<br /> cùng treo kết quả lên tường và thảo luận, chia sẻ về<br /> những kết quả cũng như giải mã một số khía cạnh trẻ<br /> chưa rõ.<br /> Cửa sổ của em Đ.T.M đã thể hiện rõ những điểm<br /> mạnh do em tự khám phá và do các thành viên trong<br /> nhóm khám phá ra: - M có khả năng hát hay; - M có nụ<br /> cười duyên; - M học biết vẽ.<br /> Trong khi đó, bạn N.S.Q cũng đã khám phá ra điểm<br /> mạnh của bản thân và được các bạn khác trong nhóm chỉ<br /> ra các điểm mạnh như: - Q đá bóng giỏi; - Q nói to; - Q<br /> học được môn thể dục; - Q biết kể chuyện cười.<br /> Sau cùng là tổng hợp, đánh giá của cả nhóm về những<br /> điểm mạnh, hạn chế của các thành viên trong nhóm.<br /> - Hoạt động 2: Tổ chức cuộc thi khám phá tài năng<br /> giúp trẻ xác định điểm mạnh của bản thân (5 buổi).<br /> <br /> 2.2.4.2. Giai đoạn thực hiện<br /> Thực hiện mục tiêu 1: Giúp trẻ xác định giá trị bản<br /> thân thông qua hoạt động khám phá điểm mạnh bằng<br /> cửa sổ Johari trong thời gian 10 tuần.<br /> <br /> Mỗi thành viên chuẩn bị một phần thi có thể là: hát,<br /> múa, vẽ tranh, đọc thơ, kể chuyện, làm MC,... để thể hiện<br /> điểm mạnh của mình. Mỗi thành viên có thời gian 5-10<br /> phút để thực hiện phần thi. Kết thúc mỗi phần thi, các<br /> thành viên tự cho điểm và cho điểm chéo bằng hình thức<br /> <br /> 124<br /> <br /> VJE<br /> <br /> Tạp chí Giáo dục, Số đặc biệt Kì 2 tháng 5/2018, tr 122-126<br /> <br /> dán sao vào tên của thành viên đó trên bảng. Thành viên<br /> nào được nhiều sao nhất sẽ là người chiến thắng.<br /> Kết thúc phần thi, đa số các thành viên trong nhóm<br /> đều đã thể hiện được một tài năng riêng của mình và tài<br /> năng đó chính là điểm mạnh của các em. Tuy các phần<br /> thể hiện tài năng chưa thực sự được tự nhiên và xuất sắc<br /> nhưng nó đã phần nào thể hiện sự nỗ lực, cố gắng của các<br /> thành viên.<br /> Thành viên chiến thắng trong phần thi này là em<br /> N.T.Lu với phần thi múa dân gian. Trong phần thi này,<br /> em đã múa bài Em dắt trâu ra đồng trong thời gian gần<br /> 4 phút. Phần thể hiện tài năng của em Lu đã được các bạn<br /> trong nhóm rất thích thú với số điểm cao nhất là 7 sao.<br /> Lượng giá mục tiêu 1:<br /> STT<br /> <br /> Kết quả mong đợi<br /> <br /> Kết quả đạt được<br /> <br /> 1<br /> <br /> Các em khám phá<br /> được điểm mạnh của<br /> bản thân.<br /> <br /> Tất cả các thành viên<br /> trong nhóm nhận ra<br /> được điểm mạnh của<br /> bản thân.<br /> <br /> 2<br /> <br /> Các thành viên tham<br /> gia nhiệt tình vào<br /> phần thi “Khám phá<br /> tài năng”.<br /> <br /> Tất cả các thành viên<br /> tham gia nhiệt tình<br /> vào phần thi “Khám<br /> phá tài năng” và có<br /> những kết quả rất tốt.<br /> <br /> bên cạnh em có mất một cái bút, mà hôm đó em cũng mới<br /> được tặng 1 cái bút giống như của bạn H. Sau khi tìm<br /> khắp nơi không thấy, bạn ấy đổ cho em lấy cắp, em đã<br /> giải thích nhưng bạn không nghe. Sau đó, em đã nhờ bạn<br /> K là bạn thân của em làm chứng cho việc em được tặng<br /> cái bút đó hôm sinh nhật, có bạn ấy chứng kiến. Khi đó,<br /> bạn H mới tin lời em nói và không đổ cho em ăn cắp bút<br /> của bạn ấy nữa.<br /> Thứ tư, mỗi thành viên viết lên giấy một vấn đề khó<br /> khăn trong học tập, và cuộc sống, sau đó dán lên bảng.<br /> Thứ năm, nhóm cùng nhau thảo luận về những khó<br /> khăn của từng thành viên, mỗi người sẽ đưa ra cách giải<br /> quyết cho một vấn đề. Bên cạnh đó, các thành viên cũng<br /> phải đưa ra những tình huống có thể phát sinh và hướng<br /> xử lí.<br /> Thứ sáu, thực hành xác định vấn đề và tìm cách giải<br /> quyết.<br /> - Hoạt động 2: Tổ chức thảo luận nhóm “Xác định 2<br /> mục tiêu cần hoàn thành trong thời gian 1 tháng”<br /> (4 buổi).<br /> Thứ nhất, nhân viên xã hội và các thành viên trong<br /> nhóm thảo luận xem mục tiêu là gì?<br /> <br /> Thực hiện mục tiêu 2: Giúp các em xác định được<br /> vấn đề, mục tiêu và có được những kĩ năng giao tiếp mới,<br /> tự tin, hòa đồng với các bạn; mạnh dạn tham gia các hoạt<br /> động trong học tập và ngoại khóa sau thời gian 10 tuần.<br /> Trong mục tiêu này, nhóm thực hiện một số hoạt<br /> động như:<br /> - Hoạt động 1: Tổ chức trò chơi “Khám phá khó<br /> khăn” (4 buổi).<br /> Thứ nhất, Các thành viên nghe theo sự điều phối của<br /> nhóm trưởng và nhân viên xã hội. Mỗi thành viên tham<br /> gia trò chơi sẽ có 1 tờ giấy màu được cắt thành các hình<br /> thù ngộ nghĩnh, đáng yêu.<br /> Thứ hai, nhóm tiến hành thảo luận về một số khía<br /> cạnh: - Vấn đề là gì?; - Khi nào xuất hiện vấn đề?; - Vấn<br /> đề có tác động như thế nào tới chúng ta?; - Khi gặp phải<br /> một vấn đề khó khăn chúng ta cần phải làm gì?...<br /> Thứ ba, các thành viên trong nhóm đã có những buổi<br /> thảo luận và chia sẻ về những tình huống có thật trong<br /> cuộc sống và cách giải quyết với những khó khăn đó,<br /> cũng như những kinh nghiệm khi giải quyết được các<br /> khó khăn.<br /> Em T.L.P đã chia sẻ về một tình huống có thật trong<br /> cuộc sống mà em gặp phải và cách em giải quyết tình<br /> huống đó: Năm ngoái, trong một buổi học, bạn H ngồi<br /> <br /> Thứ hai, nhân viên xã hội chiếu 2 đoạn video liên<br /> quan tới hoàn thành mục tiêu.<br /> Thứ ba, các thành viên trong nhóm cùng đặt các câu<br /> hỏi, thắc mắc liên quan tới mục tiêu. Nhân viên xã hội<br /> giải thích rõ, mục tiêu là cái đích cuối cùng mà chúng ta<br /> muốn đạt được trong một thời gian nhất định. Mục tiêu<br /> cần phải cụ thể, rõ ràng, khả thi, có thể đo lường được.<br /> Thứ tư, thực hành: mỗi thành viên đưa ra 1 mục tiêu,<br /> sau đó cả nhóm cùng bàn luận về các mục tiêu đó, phân<br /> tích các mục tiêu tốt và mục tiêu cần chỉnh sửa.<br /> Trong phần thực hành, em Đ.T.M đã đề ra các mục<br /> tiêu sau: 1) Em phấn đấu môn Văn được 7,5; 2) Em phấn<br /> đấu ăn kiêng giảm 1 kg.<br /> Với 2 mục tiêu trên, nhóm đã khen ngợi và đóng góp<br /> ý kiến để mục tiêu của M được chuẩn hơn như sau:<br /> 1) Kết thúc học kì này em phấn đấu môn Văn được 7,5;<br /> 2) Trong vòng 1 tháng em phấn đấu ăn kiêng giảm 1 kg.<br /> Cuối cùng, mỗi thành viên đưa ra 2 mục tiêu và thực<br /> hiện các mục tiêu đó trong vòng 1 tháng. Kết thúc 1<br /> tháng, các thành viên báo cáo kết quả thực hiện 2 mục<br /> tiêu trên. Sau 1 tháng, các thành viên trong nhóm báo<br /> cáo kết quả thực hiện những mục tiêu đã đề ra. Đa số các<br /> thành viên đã thực hiện tốt những mục tiêu này. Tuy<br /> nhiên, vẫn còn 3 thành viên chưa hoàn thành đủ 2<br /> mục tiêu.<br /> <br /> 125<br /> <br /> VJE<br /> <br /> Tạp chí Giáo dục, Số đặc biệt Kì 2 tháng 5/2018, tr 122-126<br /> <br /> - Hoạt động 3: Tổ chức các buổi thảo luận nhóm giúp<br /> các thành viên chia sẻ những khó khăn trong quá trình<br /> giao tiếp (2 buổi).<br /> Thứ nhất, trong hoạt động này, nhân viên xã hội chiếu<br /> bộ phim hoạt hình “Bài học giao tiếp quà tặng cuộc<br /> sống: Câu hỏi quan trọng nhất”. Sau khi kết thúc bộ<br /> phim, thành viên trong nhóm cùng nhau thảo luận về các<br /> nhân vật và phân tích tình huống trong bộ phim để nhận<br /> ra được yêu cầu của quá trình giao tiếp cũng như mấu<br /> chốt cho sự thành công trong các buổi giao tiếp.<br /> Thứ hai, các thành viên trong nhóm cùng nhau thảo<br /> luận và xử lí một tình huống giao tiếp liên quan tới những<br /> vấn đề trong học đường do nhân viên xã hội đưa ra. Các<br /> thành viên sắm vai và xử lí tình huống đó trong vòng 710 phút. Kết thúc phần xử lí, các em đã biết ứng dụng<br /> những nguyên tắc cơ bản trong giao tiếp vào trong quá<br /> trình xử lí tình huống. Điều đó thể hiện được phần nào<br /> sự nỗ lực và cố gắng của các em.<br /> Thứ ba, tổ chức trò chơi đan xem trong các buổi liên<br /> quan tới xử lí tình huống giao tiếp. Trong đó, tiêu biểu là<br /> trò chơi “Truyền tai nhau về một câu nói: Lúa nếp là lúa<br /> nếp làng, lúa lên lơm lớp cả làng thêm no”. Kết thúc<br /> phần thi, các thành viên cuối cùng viết lại câu nói đó lên<br /> bảng nhưng không được chính xác vì sai một từ<br /> “nơm nớp”.<br /> Thông qua trò chơi, các thành viên được rèn luyện kĩ<br /> năng lắng nghe, biết cách lắng nghe hiệu quả và tăng<br /> thêm sự đoàn kết, gắn kết và hợp tác.<br /> Lượng giá mục tiêu 2:<br /> STT<br /> <br /> Kết quả mong đợi<br /> <br /> Kết quả đạt được<br /> <br /> 1<br /> <br /> Các em biết cách xác<br /> định, phân tích, đối<br /> diện với vấn đề.<br /> <br /> Tất cả các em biết<br /> cách xác định, phân<br /> tích, đối diện với vấn<br /> đề.<br /> <br /> 2<br /> <br /> Các em biết cách xác<br /> định, mục tiêu.<br /> <br /> Tất cả các thành viên<br /> đã hiểu mục tiêu là gì,<br /> biết cách xây dựng và<br /> thực hiện mục tiêu.<br /> <br /> 3<br /> <br /> Các em rèn luyện<br /> được kĩ năng giao<br /> tiếp.<br /> <br /> Tất cả các thành viên<br /> mạnh dạn, tự tin<br /> trong giao tiếp.<br /> <br /> 2.2.5. Lượng giá<br /> Trải qua thời gian 10 tuần với những hoạt động, mục<br /> tiêu khác nhau, tuy ban đầu các thành viên còn e dè, chưa<br /> tham gia nhiệt tình trong những buổi chia sẻ, giới thiệu<br /> về bản thân nhưng vào những buổi sau, các em đã mạnh<br /> dạn chia sẻ cũng như hợp tác cùng nhau thực hiện nhiệm<br /> vụ chung của nhóm.<br /> <br /> Sau khi kết thúc quá trình can thiệp cho nhóm TEMC<br /> tại Làng trẻ em SOS Hà Nội, chúng tôi nhận thấy nhóm<br /> đã hoàn thành đúng các mục tiêu và kế hoạch ban đầu và<br /> đạt được những kết quả như mong muốn.<br /> 2.2.6. Đánh giá kết quả<br /> Những kết quả đạt được sau quá trình can thiệp cho<br /> nhóm TEMC thể hiện cụ thể như sau: - Các em đã biết<br /> làm việc nhóm, biết chia sẻ và hợp tác; - Biết khám phá<br /> ra những điểm mạnh, hạn chế của bản thân; - Biết phát<br /> huy điểm mạnh của bản thân; - Các em đã mạnh dạn, tự<br /> tin hơn; - Kĩ năng giao tiếp của các em được cải thiện<br /> phần nào, thể hiện thông qua cách trình bày vấn đề cũng<br /> như khi trao đổi, trò chuyện với mọi người xung quanh...<br /> 3. Kết luận<br /> TEMC là đối tượng gặp nhiều khó khăn trong học tập<br /> và cuộc sống, các em cũng là đối tượng chịu nhiều thiệt<br /> thòi do thiếu sự yêu thương, quan tâm, chăm sóc của cha<br /> mẹ. Trong quá trình sống tại các cơ sở chăm sóc trẻ em,<br /> đa số các em gặp phải những khó khăn về tâm lí, tình<br /> cảm, sự tự ti, mặc cảm, thiếu kĩ năng sống... Chính vì<br /> vậy, hơn bao giờ hết, nhân viên xã hội cần thực hiện tốt<br /> vai trò của mình trong việc vận dụng phương pháp<br /> CTXH nhóm trong trợ giúp cho TEMC, giúp các em<br /> vượt qua khó khăn và tự vươn lên trong cuộc sống.<br /> Tài liệu tham khảo<br /> [1] Đại Hội đồng Liên hợp quốc (1989). Công ước của<br /> Liên hợp quốc về Quyền trẻ em.<br /> [2] Rose Smart. (2003). Policies for Orphans and<br /> Vulnerable Children: A Framework for Moving<br /> Ahead. POLICY, U.S. Agency for International<br /> Development (USAID).<br /> [3] Tsegaye A. (2013). A Comparative Study of<br /> Psychological Wellbeing between Orphan and Nonorphan Children in Addis Ababa: The Case of Three<br /> Selected Schools in Yeka Sub-city. M.A. thesis,<br /> Addis Ababa University.<br /> [4] Phan Thanh Vân (2011). Giáo dục kĩ năng sống cho<br /> học sinh trung học phổ thông thông qua hoạt động giáo<br /> dục ngoài giờ lên lớp. Luận án tiến sĩ Giáo dục học,<br /> Trường Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên.<br /> [5] Quốc hội (2016). Luật Trẻ em, số 102/2016/QH13<br /> ban hành ngày 05/04/2016.<br /> [6] Nguyễn Hữu Hùng (2017). Kĩ năng công tác xã hội<br /> cá nhân với trẻ em mồ côi của cán bộ xã hội. Luận<br /> án tiến sĩ Tâm lí học, Học viện Khoa học xã hội.<br /> [7] Phạm Văn Hảo (2016). Trợ giúp trẻ khuyết tật hòa<br /> nhập cộng đồng tiếp cận dưới góc độ công tác xã hội.<br /> Tạp chí Giáo dục, số đặc biệt tháng 9, tr 139-142.<br /> <br /> 126<br /> <br />
ADSENSE
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2