intTypePromotion=1
zunia.vn Tuyển sinh 2023 dành cho Gen-Z zunia.vn zunia.vn
ADSENSE

Vai trò của đạo đức nghề nghiệp trong vấn đề đào tạo nguồn nhân lực hội nhập quốc tế ở Việt Nam hiện nay

Chia sẻ: _ _ | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:9

13
lượt xem
3
download
 
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Bài viết "Vai trò của đạo đức nghề nghiệp trong vấn đề đào tạo nguồn nhân lực hội nhập quốc tế ở Việt Nam hiện nay" nêu quan điểm cá nhân về phương án đào tạo trong tình hình hội nhập quốc tế hiện nay và đề xuất phương pháp quản lý, hoạch định, tổ chức, điều khiển, kiểm tra các vấn đề thuộc về chiến lược đào tạo theo phương pháp “tam giác đều đào tạo và sử dụng nguồn nhân lực”. Mời các bạn cùng tham khảo!

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Vai trò của đạo đức nghề nghiệp trong vấn đề đào tạo nguồn nhân lực hội nhập quốc tế ở Việt Nam hiện nay

  1. VAI TRÒ CỦA ĐẠO ĐỨC NGHỀ NGHIỆP TRONG VẤN ĐỀ ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN LỰC HỘI NHẬP QUỐC TẾ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY Huỳnh Lê Minh Thiện, Lê Chi Lan, Hồ Văn Cừu*, 1 Đỗ Đăng Trình**, Đặng Thị Hải Bình*** 2 3 Tóm tắt: Để phát triển đội ngũ kỹ thuật tay nghề cao ở Việt Nam trong thời kỳ hội nhập quốc tế hiện nay, chúng tôi khẳng định rằng đạo đức nghề nghiệp là một vấn đề cần được xem xét một cách nghiêm túc hơn nữa bên cạnh sự nỗ lực để đào tạo những công nhân, kỹ sư lành nghề, có tầm nhìn và văn hóa có thể hội nhập quốc tế. Vấn đề về đạo đức nghề nghiệp nên được xem xét tới như là văn hóa chung để hội nhập bao gồm các khía cạnh liên quan đến kỹ năng mềm như làm việc theo nhóm, tính hợp tác, tinh thần chia sẻ kinh nghiệm, tinh thần gánh vác trách nhiệm, tính kế thừa, tính nhân đạo trong lao động sản xuất, sự nỗ lực cải thiện môi trường làm việc chung, trách nhiệm đối với cộng đồng, tính trung thực và nhiều vấn đề đạo đức khác. Bài tham luận này đứng ở góc nhìn của giảng viên giảng dạy về ngành nghề kỹ thuật, nhóm tác giả cũng là người đã từng ở vị trí của một nhân viên kỹ thuật và quản lý kỹ thuật, nêu lên các vấn đề phát sinh từ đạo đức nghề nghiệp hoặc bị chi phối do vấn đề đạo đức nghề nghiệp. Nhóm tác giả cũng nêu quan điểm cá nhân về phương án đào tạo trong tình hình hội nhập quốc tế hiện nay và đề xuất phương pháp quản lý, hoạch định, tổ chức, điều khiển, kiểm tra các vấn đề thuộc về chiến lược đào tạo theo phương pháp “tam giác đều đào tạo và sử dụng nguồn nhân lực”. Từ khóa: Phát triển giáo dục, giáo dục chuyên nghiệp, thái độ làm việc, đạo đức nghề nghiệp, đào tạo nguồn nhân lực hội nhập quốc tế; cách mạng công nghiệp 4.0. 1. NHÌN NHẬN CHUNG VỀ KHÍA CẠNH ĐẠO ĐỨC CÒN TỒN TẠI TRONG GIÁO DỤC ĐÀO TẠO Đạo đức nghề nghiệp là một yếu tố quan trọng để phát triển sự nghiệp. Đạo đức nghề nghiệp thể hiện ngay trong cách bạn phản ứng trước những tình huống trong cuộc sống công sở hàng ngày (Trịnh Duy Huy, 2007). Trong bất kỳ thời đại nào, nguồn nhân lực bao giờ cũng là yếu tố quan trọng trong chiến lược xây dựng và phát triển của mỗi quốc gia, bởi mọi của cải vật chất đều được tạo ra từ bàn tay và trí óc của con người. Đặc biệt là trong nền kinh tế tri thức hiện nay thì trí huệ của con người được coi là tài nguyên vô giá. Thực tế cho thấy, hiện nay nguồn nhân lực của Việt Nam rất dồi dào, đây là một lợi thế cạnh tranh trong quá trình hội nhập của đất nước, bên * Trường Đại học Sài Gòn. ** Trường Đại học Tây Đô. *** Trường Cao đẳng Nghề số 7/QK7.
  2. 172 KỶ YẾU HỘI THẢO QUỐC GIA: XÂY DỰNG NỀN GIÁO DỤC THỰC CHẤT - ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP cạnh tri thức cần có của đội ngũ nhân lực thì vấn đề đạo đức rất đáng được quan tâm. Chính vì vậy, nhóm tác giả đã chọn chủ đề “Vai trò của đạo đức nghề nghiệp trong vấn đề đào tạo nguồn nhân lực hội nhập quốc tế ở Việt Nam hiện nay”. 2. NHỮNG QUAN ĐIỂM VỀ KHÍA CẠNH ĐẠO ĐỨC NGHỀ NGHIỆP CÒN TỒN TẠI TRONG GIÁO DỤC ĐÀO TẠO Đạo đức nghề nghiệp là một hệ thống những chuẩn mực giá trị đạo đức xã hội nhưng phù hợp với đặc điểm của mỗi loại nghề, phản ánh nhân cách của người lao động trong nghề đó. Đạo đức nghề nghiệp trở thành động lực phát triển nhân cách, phát triển các năng lực chung và năng lực nghề nghiệp làm tăng năng xuất và hiệu quả hoạt động nghề nghiệp và hoạt động xã hội của mỗi người (Nguyễn Đắc Hưng, 2011). Với những yêu cầu đặt ra trong tiến trình thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập quốc tế, đòi hỏi Việt Nam phải có đội ngũ lao động kỹ thuật đủ về số lượng, có kiến thức, kỹ năng nghề thành thạo với cơ cấu và trình độ phù hợp, đáp ứng nhu cầu xã hội. Lực lượng lao động kỹ thuật trực tiếp trong sản xuất, kinh doanh đòi hỏi trình độ ngày càng cao và kỹ năng ngày càng giỏi. Những người qua đào tạo trong thời kỳ mới phải có phẩm chất, nhân cách tốt, tinh thông nghề nghiệp, có đủ sức khỏe phục vụ cho các ngành kinh tế, vùng kinh tế, đặc biệt là các ngành kinh tế mũi nhọn, vùng kinh tế trọng điểm và xuất khẩu lao động. Đặc biệt, người lao động phải có đạo đức nghề nghiệp tốt (Nguyễn Bá Hùng, 2010). Thực tế cho thấy từ nền sản xuất nông nghiệp tự cung, tự cấp chuyển sang nền sản xuất hàng hoá và công nghiệp hiện đại, người lao động còn bị ảnh hưởng nặng nề tư tưởng, thói quen của nền sản xuất tiểu nông manh mún, thiếu tính toán hiệu quả kinh tế, lãng phí... Tác phong công nghiệp chưa trở thành phổ biến, nên tính tự do, ý thức chấp hành luật pháp, kỷ luật trong lao động còn yếu... Khả năng làm việc theo nhóm, làm việc trong môi trường đa văn hóa, đa sắc tộc... còn rất hạn chế, đặc biệt là những rào cản về văn hóa, về ngôn ngữ khi có yếu tố lao động nước ngoài hoặc làm việc ở nước ngoài. Có thể nói, phẩm chất đạo đức nghề nghiệp của người lao động nước ta trong một nền công nghiệp hiện đại chưa phát triển hoàn thiện, bài bản và chuyên nghiệp hay nói một cách khác là chưa có tác phong công nghiệp. Đáp ứng yêu cầu này trách nhiệm đầu tiên thuộc về bộ phận giáo dục và đào tạo mà trực tiếp là các trường dạy nghề hiện nay. Đây là vấn đề bức xúc đang được đặt ra đối với cả các trường dạy nghề và thị trường lao động nước ta. Bởi trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập quốc tế con người giữ vai trò và vị trí trung tâm. Khi người lao động có phẩm chất đạo đức nghề nghiệp sẽ là những người lao động trung thực, trách nhiệm, họ tìm thấy ở lao động các giá trị đạo đức của bản thân và xã hội, niềm kiêu hãnh, sự say mê và hứng thú trong công việc, được cống hiến, được khẳng định mình và trở thành người có ích. Thiếu điều đó họ sẽ trở thành những người lao
  3. Phần I: QUAN ĐIỂM VỀ “NỀN GIÁO DỤC THỰC CHẤT CỦA VIỆT NAM VÀ THẾ GIỚI” 173 động vô cảm, những cỗ máy khô cứng và đánh mất giá trị bản thân cũng như giá trị đích thực của hoạt động nghề nghiệp. Chính sự phát triển mạnh mẽ của sự nghiệp công nghiệp hóa sẽ là cơ sở khách quan cho việc hình thành và phát triển các chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp mới, các chuẩn mực và giá trị mới về lao động và việc làm trong xã hội hiện nay. Nó tạo ra một bộ lọc tự nhiên, thu nhận những người lao động đáp ứng đủ yêu cầu của thị trường lao động, có khả năng thích ứng với những điều kiện của công nghiệp hiện đại và loại bỏ những người lao động không đáp ứng được nhu cầu, định hướng việc hình thành những giá trị và chuẩn mực mới về nghề nghiệp (Trịnh Thị Quyện, 2012). Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói “Có tài mà không có đức là người vô dụng. Có đức mà không có tài thì làm việc gì cũng khó”. Lời nói của Bác không những đã đặt ra cho thanh niên, học sinh vấn đề rất cụ thể và cần thiết: Phải tu dưỡng, rèn luyện để có đức, có tài, mà còn nhắc nhở chúng ta phải thừa nhận rằng: thái độ được hình thành từ đạo đức (Vũ Thị Hoà, 2018). Động lực và định hướng rõ ràng trong quá trình học tập tại các cơ sở giáo dục sẽ giúp cho các em học viên/ sinh viên chung tay luyện rèn hơn nữa vấn đề đạo đức trong nghề nghiệp của chính các em. Trong đó bao gồm sự yêu thương và bồi đắp nghề nghiệp của mình theo hướng trung thực để xây dựng đất nước. Với vai trò là người thầy chúng ta phải làm gương được cho các em học theo và làm theo. 3. ĐỀ XUẤT Ý KIẾN NÂNG CAO GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC NGHỀ NGHIỆP CHO NGƯỜI HỌC 3.1. Nhà trường quan tâm hơn nữa giáo dục đạo đức cho học viên/ sinh viên để có nhiều cơ hội đào tạo lực lượng công nhân lành nghề Để phát triển nền kinh tế công nghiệp, chúng ta rất cần lực lượng công nhân có năng lực kỹ thuật sản xuất và tố chất tiến bộ để đáp ứng nhu cầu tại các khu công nghiệp và cho các công ty đa quốc gia, nhưng chúng ta chưa đạt được, nguyên nhân ở đâu? Chúng tôi cho rằng đạo đức nghề nghiệp phải bắt nguồn từ ý thức. Ý thức của một bộ phận không nhỏ người dân hiện nay chưa coi trọng vai trò của công nhân, chưa đánh giá cao những người trực tiếp làm ra sản phẩm. Một bộ phận phụ huynh chỉ muốn con em mình học đại học, không muốn học để làm việc như một công nhân lành nghề. Theo tác giả, nguyên nhân những tư tưởng này xuất hiện là do: 1. Ý thức hệ lâu đời chỉ muốn con em mình học đại học và làm công chức trong đại đa số người dân Việt Nam. 2. Vấn đề giáo dục đạo đức cho các em học sinh/ sinh viên chưa được coi trong. Học sinh/ sinh viên không được giáo dục đầy đủ về đạo đức và đạo đức nghề nghiệp,
  4. 174 KỶ YẾU HỘI THẢO QUỐC GIA: XÂY DỰNG NỀN GIÁO DỤC THỰC CHẤT - ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP thiếu sự nhận thức đầy đủ về lao động đích thực để phù hợp trong tình hình phát triển đất nước (Huỳnh Lê Minh Thiện, 2014). Để giải quyết vấn đề, theo quan điểm của chúng tôi, mỗi người thầy hãy là một tấm gương về phương pháp, về đạo đức nghề nghiệp, về kỹ năng cũng như kiến thức chuyên môn để có thể chú trọng và liên tục giáo dục các em học sinh/ sinh viên về đạo đức và đạo đức nghề nghiệp, làm cho các em cảm nhận được giá trị đích thực của lao động và biết trân trọng lao động của tầng lớp công nhân. Làm được điều này, chúng ta sẽ dần dần xóa bỏ được tư tưởng sính bằng cấp và có nhiều cơ hội hơn để đào tạo lực lượng công nhân lành nghề có đủ tố chất tiên tiến để đáp ứng cho các công ty đa quốc gia, đưa nước Việt Nam tiến gần đến hội nhập quốc tế. 3.2. Xây dựng nền giáo dục mở, thực học, thực nghiệp từ góc nhìn chuyên môn Với vị trí giảng viên tại Trường Đại học Sài Gòn (SGU), giảng dạy về chuyên môn kỹ thuật, chúng tôi cho rằng xu thế tất yếu là phải hội nhập nhưng phải đặc thù theo hướng chuyển đổi số. Trong tình hình diễn biến phức tạp của dịch bệnh Covid-19 thì càng chứng tỏ sự cần thiết phải phải hội nhập có đặc thù theo hướng chuyển đổi số. Một số ý tưởng và cơ sở hoạch định để đóng góp về việc xây dựng nền giáo dục mở, thực học, thực nghiệp như sau: + Số hoá bài giảng, giáo trình, ngân hàng đề thi, trừ những môn năng khiếu đặc thù và hoặc những môn thuộc về kỹ thuật tác nghiệp thực tế. + Sinh viên dự thi như một kỳ sát hạch bao gồm lý thuyết và thực hành, nếu sát hạch thành công sẽ được cấp chứng chỉ cho học phần đó. + Sinh viên muốn đăng ký thi phải có tên trong danh sách đăng ký môn học hoặc đã từng hoàn thành thủ tục đăng ký môn học. + Không nhất thiết phải dự lớp nhưng quy định lệ phí dự thi sát hạch và sau 03 lần thi không đạt sẽ phải đóng học phí học lại. + Chứng chỉ thi đạt của môn học được cấp và được công nhận trong thời gian hạn định. Cần thiết phải quy định thời hạn của chứng chỉ được kéo dài nếu có thêm chứng chỉ liên quan, mà trong chương trình môn học gọi là môn tiên quyết và môn song hành. Nói cách khác, nếu sinh viên đáp ứng được tiến độ đào tạo thì chứng chỉ môn học tiếp tục được công nhận. + Môn học được số hoá và phải được công nhận chung cho tất cả các ngành học giống nhau ở các trường, ít nhất là trong một nhóm trường đại học có đào tạo ngành hay liên ngành của sinh viên đã đăng ký. Kiến thức đã là tài sản chung, thì việc đánh giá phải là chung, phải là như nhau trên một thang đánh giá về kiến thức, thái độ, kỹ năng, kỹ xảo của người học.
  5. Phần I: QUAN ĐIỂM VỀ “NỀN GIÁO DỤC THỰC CHẤT CỦA VIỆT NAM VÀ THẾ GIỚI” 175 Chúng ta cần xem xét những câu hỏi sau để xây dựng nền giáo dục mở, thực học, thực nghiệp: 1. Liệu các nhà quản lý có mạnh dạn đưa chuẩn đầu ra thống nhất, và kiểm soát chuẩn một cách khách quan không vụ lợi, xây dựng một nền giáo dục khai phóng thực sự để thực học và thực làm thực theo nhu cầu hay không? 2. Chúng ta đào tạo vì cái gì? Sinh viên đang nhập học vì cái gì? 3. Thái độ của chúng ta (người dạy) là như thế nào đối với việc đào tạo, giảng dạy? 4. Thái độ của người học là như thế nào và nên như thế nào đối với việc học tập để tiếp nhận kiến thức – kỹ năng – kỹ xảo? 5. Nhà chức trách cần làm gì để thay đổi, để định hướng đúng cho nền giáo dục mở thực học, thực nghiệp tại Việt Nam? Sau đây chúng tôi xin trình bày phương án phân tầng giáo dục đào tạo tương ứng phân tầng nghề nghiệp và lao động, theo đó có thể áp dụng quy chế đào tạo học phần và sát hạch theo modul học phần. 3.3. Phân tầng đào tạo và sử dụng nguồn nhân lực theo phương pháp hình tam giác đều Xem tam giác ABC, hình 1, là tổng số nguồn nhân lực đang trong độ tuổi lao động trong xã hội. Một sự giả định mang tính lý tưởng rằng điểm O là trọng tâm của nguồn nhân lực (Object for human resource), ranh giới diện tích hình chữ nhật JHIL là vùng đối tượng lao động đặc thù gần với mục tiêu nguồn nhân lực, đường IL là đường ranh giới giữa thực làm và ít thực làm hơn theo quan điểm thái độ toàn vẹn (dành tâm lực cho công việc với sự đam mê theo khuynh hướng lên trên – sang phải), thì tam giá ILC là phần diện tích thể hiện lực lượng lao động chủ chốt cho từng phân tầng, như vậy dễ thấy ∆HJB là phần diện tích chứa sự hỗ trợ về mặt kiến thức – kỹ năng – kỹ xảo để phục vụ cho tổng diện tích lao động bên phải là hình thang vuông HICJ. Chóp tam giác AIH là lực lượng thượng tầng (Bộ trưởng, Giáo sư, tiến sỹ và các tài năng đặc biệt), đây là tầng lớp lao động không còn phải qua đào tạo và có sức chi phối đối với vấn đề đào tạo nguồn nhân lực. Nhìn vào phân định như Hình 1, dễ thấy phần được đào tạo là tam giác BMJ sẽ phục vụ cho lớp việc làm của phần hình thang vuông MECJ. Để đạt được trình độ cao hơn và phù hợp với việc làm ở phân tầng cao hơn, họ cần bổ sung phần kiến thức – kỹ năng – kỹ xảo theo diện tích tam giác PMN và sẽ phục vụ công việc của tầng thuộc về hình thang vuông PGEM, đây cũng chính là phân tầng làm việc nhằm đạt mục tiêu trung tâm định hướng của nền kinh tế. Đồng thời, trong PGEM có hai thành phần, một thành phần được đào tạo thẳng theo tam giác BPM đại diện bởi tam giác PGM và một phần được đào tạo modul (hoặc gọi là liên thông bậc học) theo phần diện tích tam giác BNM + tam giác NPM đại diện bỡi tam giác MGE.
  6. 176 KỶ YẾU HỘI THẢO QUỐC GIA: XÂY DỰNG NỀN GIÁO DỤC THỰC CHẤT - ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP Tương tự như vậy, để đạt được trình độ lao động cao hơn ở tầng lao động của hình thang vuông HIGP, lực lượng lao động bắt buộc phải được bổ sung phần kiến thức – kỹ năng – kỹ xảo đặc trưng bỡi tam giác BHP = tam giác BFP + tam giác FHP, tỉ lệ lực lượng lao động được đào tạo thẳng đại diện bỡi phần tam giác PHI và tỉ lệ lực lượng được đào tạo liên thông đại diện bỡi phần diện tích tam giác PIG. Hình 1. Phương pháp phân tầng giáo dục đào và sử dụng nguồn nhân lực hình tam giác đều Các đường ranh giới nằm ngang: DE, FG và HI đại diện cho ranh giới phân tầng lực lượng lao động (Human qualification) và cũng là ranh giới phân tầng việc làm (Job qualification); các đường BG và BI giúp hoạch định và xác định giới hạn nhiệm vụ đào tạo cũng như ước lượng phát sinh nguồn nhân lực dẫn đến thay đổi khối lượng đào tạo. Quỹ tích của BG và BI cho phép hoạch định và hoặc dự đoán biến động thị trường lao động. Như đã trình bày ở bên trên, phần lực lượng lao động cấp cao, không còn nằm trong giải đào tạo (tự học, tự đào tạo) đại diện bởi chóp tam giác HAI. Chúng ta hoặc may mắn có được sơ đồ phân tầng lý tưởng, hoặc sẽ thống kê một cách trung thực và cố gắng điều chỉnh các phân tầng một cách có quy hoạch. Điều này là khả thi và cần thiết, bởi vì trong tam giác đều ABC không đổi đường BI và BG có thể điều chỉnh và hơn hết là đường HJ là đường điều chỉnh tổng thể quyết định quỹ đạo của đường BI và đường BG. Trong khuôn khổ tham luận này, nhóm tác giả chỉ trình bày một ví dụ như Hình 2, tất cả được trình bày định tính và không số liệu cụ thể. Để làm rõ hơn về phương pháp một cách toán học có định lượng, nhóm tác giả sẽ có bài toán dự báo điều khiển vấn đề đào tạo nguồn nhân lực định hướng 5 năm, 10 năm, 20 năm trong một tham luận khác với sự hỗ trợ của dữ liệu thống kê và toán điều khiển dự báo dựa theo một mục tiêu đào tạo nguồn nhân lực giả định hoặc một dự án cụ thể.
  7. Phần I: QUAN ĐIỂM VỀ “NỀN GIÁO DỤC THỰC CHẤT CỦA VIỆT NAM VÀ THẾ GIỚI” 177 Trong Hình 2, sự xuất hiện của hai đường BX và BY cùng với việc không phân định đường trung tuyến AK cũng như bỏ lỏng không kiểm soát trọng tâm O, so với Hình 1, cho thấy một sự quá độ trong chiến lược đào tạo tổng thể của nhà quản lý dự án. Một xã hội đào tạo nguồn nhân lực không mục tiêu, sử dụng nguồn nhân lực không hiệu quả. Hình 2. Cụ thể phương pháp phân tầng giáo dục đào hình tam giác đều Trong đó cũng thể hiện rằng chương trình lớp 9 + (2 hoặc 3 năm) để cấp bằng trung cấp nghề trở thành lực lượng công nhân tương đương trình độ trung cấp; chương trình 12+ (2 hoặc 3 năm, tương đương 120 tín chỉ) được cấp bằng kỹ sư thực hành tương đương trình độ cao đẳng; và chương trình 12 + 4,5 năm (tương đương 150 tín chỉ) được cấp bằng kỹ sư. Đây là một giả định có kết hợp với thực tại đang đào tạo của chương trình đào tạo lực lượng lao động sản xuất ở Việt Nam. Thay vào đó, nên để các trường Cao đẳng và Cao đẳng nghề là các phân hiệu trực thuộc trường Đại học và chịu trách nghiệm đào tạo tay nghề. Nếu sinh viên hướng đi làm thì học 120 – 125 tín chỉ hoặc học đến đây thì yêu cầu nhà trường cho tốt nghiệp, nhận bằng kỹ sư thực hành. Nếu sinh viên định hướng dài và hoặc có điều kiện hơn thì học 150 tín chỉ trong 4,5 – 6,5 năm nhận bằng kỹ sư. Việc phát sinh đường BX và BY thể hiện quá trình đào tạo chưa được quy chuẩn và chưa thực sự hiệu quả. Tuy nhiên, nhà chức trách có thể dựa vào các điểm màu cam và cả những điểm biên màu tím để xác định ranh giới và có phương án quản lý điều chỉnh để giới hạn
  8. 178 KỶ YẾU HỘI THẢO QUỐC GIA: XÂY DỰNG NỀN GIÁO DỤC THỰC CHẤT - ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP sự mất kiểm soát. Ví dụ tiến hành thống kê khoanh vùng lực lượng lao động ở đường biên của các điểm màu cam để tác động khâu kiểm soát về mặt chất lượng kiến thức và đạo đức nghề nghiệp. Bằng phương pháp số liệu thống kê trung thực, việc xác định tam giác ABC là hiển nhiên và do đó việc định tuyến đường HJ để quyết định quỹ đạo của hai đường BI và BG theo quy hoạch định hướng lực lượng lao động là khả thi và rõ ràng. Từ đây có thể mở ra các phép toán dự báo và tiến hành cân chỉnh thông số hệ thống để rút ngắn thời gian xác lập mục tiêu đào tạo nguồn nhân lực là khả thi và rõ ràng như các bài toán hình học. Trên đây nhóm tác giả đã trình bày góc nhìn riêng về tác động của đạo đức nghề nghiệp đến những khía cạnh của xã hội Việt Nam. Nhóm tác giả cũng nêu quan điểm về sự phân tầng lực lượng lao động xuất phát từ ý thức hệ ở xã hội Việt Nam và mong muốn nhà chức trách chung tay với người dân để phân tầng lại tỉ lệ lực lượng lao động cho cân xứng với thực tế nền lao động sản xuất của Việt Nam. Đồng thời, nhóm tác giả cũng đã đưa ra giải pháp cho việc hoạch định, tổ chức, điều khiển, kiểm tra trong vai trò quản lý về đào tạo và sử dụng nguồn nhân lực một cách có mục tiêu định hướng. TÀI LIỆU THAM KHẢO 1 Bộ Giáo dục và Đào tạo (2017), Bồi dưỡng theo chức danh nghề nghiệp giảng viên chính hạng II, NXB Giáo dục Việt Nam. 2 Đại học Quốc gia Hà Nội (2003), Đạo đức sinh viên trong quá trình chuyển sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, Thực trạng và giải pháp, Đề tài nghiên cứu khoa học, Hà Nội. 3 Đặng Cảnh Khang (2010), “Văn hóa nghề và nâng cao văn hóa nghề cho thanh niên hiện nay”, Tạp chí Triết học, (810). 4 Đặng Xuân Hải (2013), Kỹ thuật dạy học trong đào tạo theo học chế tín chỉ, NXB Bách khoa Hà Nội. 5 Huynh Le Minh Thien (2014), Further Concerns for Ethical Education in Order to Have More Opportunities of Labor Force Training, VEEC. 6 John Dewey (1997), Dân chủ và giáo dục, NXB Tri thức, Hà Nội. 7 Lê Quý Đức - Hoàng Chí Bảo (2007), Văn hóa đạo đức nước ta hiện nay vấn đề và giải pháp, NXB Sự thật, Hà Nội. 8 Nguyễn Bá Hùng (2010), Giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho học viên sư phạm trong nhà trường quân sự hiện nay, NXB Quân đội nhân đân. 9 Nguyễn Đắc Hưng (2011), “Phát triển công tác đào tạo nghề đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế”, Tạp chí Tuyên giáo, (8). 10 Nguyễn Thị Hằng (2011), “Đổi mới dạy nghề, nâng cao sức cạnh tranh của nguồn nhân lực kỹ thuật”, Tạp chí Triết học, (827).
  9. Phần I: QUAN ĐIỂM VỀ “NỀN GIÁO DỤC THỰC CHẤT CỦA VIỆT NAM VÀ THẾ GIỚI” 179 11 Trịnh Duy Huy (2007), Vấn đề xây dựng đạo đức mới trong điều kiện nền kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay, Luận án tiến sĩ Triết học, Viện Triết học, Hà Nội. 12 Trịnh Thị Quyện (2012), Vấn đề giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên các trường cao đẳng nghề Tỉnh Yên Bái hiện nay, Luận văn thạc sĩ triết học, Đại học Quốc gia Hà Nội. 13 Vũ Thị Hòa (2018), Một số vấn đề về quản lý đào tạo theo học chế tín chỉ trong các trường cao đẳng ở Việt Nam hiện nay, NXB Khoa học và Kỹ thuật. 14 Phan Văn Nhâm (2009), Giáo dục nghề nghiệp trong nền kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế, NXB Đại học Sư phạm, Hà Nội.
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2