intTypePromotion=3

Vai trò của sinh thiết màng phổi bằng kim trong chẩn đoán lao màng phổi

Chia sẻ: Trần Thị Hạnh | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:8

0
8
lượt xem
0
download

Vai trò của sinh thiết màng phổi bằng kim trong chẩn đoán lao màng phổi

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Mục tiêu nghiên cứu của đề tài này nhằm đánh giá hiệu quả của sinh thiết màng phổi bằng kim trong việc chẩn đoán tràn dịch màng phổi do lao tại khoa hô hấp bệnh viện Nhân Dân Gia Định. Nghiên cứu mô tả loạt ca trên 43 bệnh nhân bị TDMP do lao trong thời gian từ tháng 10 năm 2008 đến tháng 7 năm 2009, so sánh hiệu quả chẩn đoán của phết lam tìm AFB, PCR tìm vi khuẩn lao trong dịch màng phổi, cấy dịch màng phổi theo phương pháp MGIT và sinh thiết màng phổi bằng kim.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Vai trò của sinh thiết màng phổi bằng kim trong chẩn đoán lao màng phổi

VAI TRÒ CỦA SINH THIẾT MÀNG PHỔI BẰNG KIM<br /> TRONG CHẨN ĐOÁN LAO MÀNG PHỔI<br /> Trần Anh Đào*, Đoàn Lê Minh Hạnh*, Hoàng Chân Phương*, Hà Thị Bạch Tuyết*,<br /> Nguyễn Ngọc Thụy*<br /> TÓM TẮT<br /> Cơ sở thực hiện nghiên cứu: tràn dịch màng phổi (TDMP) do lao là bệnh khá thường gặp trong thực hành<br /> lâm sàng chuyên khoa hô hấp. Có một số phương tiện chẩn đoán xác định lao màng phổi trong đó sinh thiết màng<br /> phổi (STMP) bằng kim đóng vai trò quan trọng.<br /> Mục tiêu: đánh giá hiệu quả của STMP bằng kim trong việc chẩn đoán TDMP do lao tại khoa hô hấp bệnh<br /> viện Nhân Dân Gia Định<br /> Phương pháp: chúng tôi đã thực hiện một nghiên cứu mô tả loạt ca trên 43 bệnh nhân bị TDMP do lao<br /> trong thời gian từ tháng 10 năm 2008 đến tháng 7 năm 2009, so sánh hiệu quả chẩn đoán của phết lam tìm AFB,<br /> PCR tìm vi khuẩn lao trong dịch màng phổi, cấy dịch màng phổi theo phương pháp MGIT và sinh thiết màng<br /> phổi bằng kim.<br /> Kết quả: độ nhạy cảm của phết lam tìm AFB, PCR tìm vi khuẩn lao trong dịch màng phổi, cấy dịch màng<br /> phổi theo phương pháp MGIT và STMP bằng kim theo thứ tự là 0%; 6,1%; 18.2% và 62.8%. Việc kết hợp giữa<br /> cấy dịch màng phổi theo phương pháp MGIT và STMP bằng kim làm tăng khả năng chẩn đoán lên tới 72,1%.<br /> Kết luận: STMP bằng kim vẫn còn có một vai trò quan trọng trong chẩn đoán TDMP do lao. Trong điều<br /> kiện của bệnh viện chúng tôi, chúng tôi khuyến cáo thực hiện STMP bằng kim kết hợp cấy MGIT dịch màng phổi<br /> để làm tăng khả năng chẩn đoán lao màng phổi.<br /> Từ khóa: Lao màng phổi, sinh thiết màng phổi<br /> ABSTRACT<br /> THE ROLE OF NEEDLE PLEURAL BIOPSY IN DIAGNOSIS<br /> OF TUBERCULOUS PLEURAL EFFUSIONS<br /> Tran Anh Dao, Đoan Le Minh Hanh, Hoang Chan Phuong, Ha Thi Bach Tuyet, Nguyen Ngoc Thuy<br /> * Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 13 – Supplement of No 6 - 2009: 90 - 96<br /> Background: tuberculous pleural effusions (TPE) are common in practice of respiratory field. There are<br /> some diagnostic methods of TPE among them needle pleural biopsy has the important role.<br /> Objectives: evaluation of the efficacy of needle pleural biopsy in diagnosis of tuberculous pleural effusions at<br /> respiratory department of Nhan Dan Gia Dinh hospital.<br /> Method: we conducted a descriptive, case series study in 43 patients with tuberculous pleural effusions<br /> during the period October 2008 to July 2009 comparing the diagnostic efficacy of AFB smear, PCR for TB of<br /> pleural fluid, culture of pleural fluid with MGIT method and needle pleural biopsy.<br /> Results: the sensitivity of AFB smear, PCR for TB of pleural fluid, culture of pleural fluid with MGIT<br /> method and needle pleural biopsy are 0%; 6.1%; 18.2% and 62.8%, respectively. The combination between MGIT<br /> culture of pleural fluid and needle pleural biopsy increases diagnostic yield up to 72.1%<br /> * Khoa Hô hấp Bệnh Viện Nhân Dân Gia Định<br /> Địa chỉ liên lạc: ThS.BS Nguyễn Ngọc Thuỵ ĐT: 0903.036.569 Email: nguyenngocthuy1967@yahoo.com<br /> <br /> 91<br /> <br /> Conclusion: needle pleural biopsy is still of the important role in diagnosis of TPE. In the condition of our<br /> hospital, we recommend to carry out needle pleural biopsy and MGIT culture of pleural fluid to have a higher<br /> diagnostic yield.<br /> Key words: Assess the impact of health education program ,<br /> ĐẶTVẤNĐỀ<br /> bằng phương pháp MGIT (Mycobacterium<br /> Growth Indicator Tube), thực hiện phản ứng<br /> Bệnh lao là một vấn đề y tế quan trọng trên<br /> chuỗi xoắn kép polymerase (PCR) để tìm vi<br /> thế giới. ước tính mỗi năm có 8 triệu ca lao mới<br /> khuẩn lao của dịch màng phổi. Nhưng các xét<br /> và khoảng 3 triệu ca tử vong. Hiện nay, bệnh lao<br /> nghiệm này có độ nhạy cảm (sensitivity) rất khác<br /> đang có xu hướng gia tăng trên toàn thế giới,<br /> nhau trong nhiều nghiên cứu. Mặt khác, mỗi<br /> nhất là ở những nước đang phát triển, trong đó<br /> phương pháp chẩn đoán lao đều có những ưu<br /> có Việt Nam, và là một gánh nặng về kinh tế, y<br /> điểm, khuyết điểm riêng. Trong hoàn cảnh thực<br /> tế, xã hội.<br /> tế của Bệnh Viện Nhân Dân Gia Định, chúng ta<br /> Lao màng phổi (LMP) là bệnh lý ở màng<br /> cần cân nhắc, lựa chọn xét nghiệm nào vừa có độ<br /> phổi do vi khuẩn lao gây ra, là một trong những<br /> nhạy cao, vừa rẻ tiền nhất, vừa có thể giúp chẩn<br /> nguyên nhân gây tràn dịch màng phổi (TDMP)<br /> đoán nhanh chóng lao màng phổi. Vì vậy, chúng<br /> thường gặp ở Việt Nam.<br /> tôi tiến hành nghiên cứu này với những mục<br /> Khái niệm lao màng phổi là một khái niệm<br /> tiêu sau đây.<br /> mới đưa ra sau này. Đầu tiên trong y học cổ,<br /> Mục tiêu tổng quát<br /> Hippocrate gọi đó là bệnh làm đau ngực. Năm<br /> Đánh giá hiệu quả của STMP trong chẩn<br /> 1810, Pinet chẩn đoán tràn dịch màng phổi nhờ<br /> đoán lao màng phổi tại khoa Hô Hấp Bệnh Viện<br /> chọc dò màng phổi bằng kim.<br /> Nhân Dân Gia Định.<br /> Năm 1820, khi Koch khám phá vi khuẩn lao<br /> là nguyên nhân gây bệnh và việc chẩn đoán<br /> bệnh lao phổi dựa vào việc tìm thấy vi khuẩn lao<br /> trong đàm, thì việc chẩn đoán TDMP do lao gặp<br /> nhiều khó khăn vì ít khi tìm thấy vi khuẩn lao<br /> trong dịch màng phổi. Do đó trong một thời gian<br /> dài, người ta không phân biệt một cách rõ ràng<br /> lao phổi với lao màng phổi.<br /> Năm 1955, De Fancis, Albane, Klosk đề xuất<br /> việc sinh thiết màng phổi (STMP) bằng kim.<br /> Những năm sau đó, kỹ thuật STMP bằng kim<br /> Abrams được phổ biến đã chứng minh rằng có<br /> sự khác biệt giữa những tổn thương lao ở phổi<br /> với những tổn thương lao ở màng phổi. Sau đó<br /> kỹ thuật này được áp dụng rộng rãi để chẩn<br /> đoán lao màng phổi nhờ các loại kim như<br /> Abrams, Cope, Castelai(14)...<br /> Ngày nay với những tiến bộ trong lĩnh vực y<br /> học, ngoài sinh thiết màng phổi bằng kim, đã có<br /> thêm nhiều phương pháp khác để chẩn đoán xác<br /> định lao màng phổi như cấy dịch màng phổi<br /> <br /> Mục tiêu cụ thể<br /> - Xác định tỷ lệ STMP ra kết quả lao ở những<br /> bệnh nhân lao màng phổi nhập khoa Hô Hấp<br /> Bệnh Viện Nhân Dân Gia Định.<br /> - Xác định tỷ lệ PCR lao (+) ở những bệnh<br /> nhân bệnh nhân lao màng phổi nhập khoa Hô<br /> Hấp Bệnh Viện Nhân Dân Gia Định.<br /> - Xác định tỷ lệ cấy MGIT (+) ở những bệnh<br /> nhân bệnh nhân lao màng phổi nhập khoa Hô<br /> Hấp Bệnh Viện Nhân Dân Gia Định.<br /> - So sánh độ nhạy của các phương pháp chẩn<br /> đoán xác định lao màng phổi.<br /> ĐỐI TƯỢNG- PHƯƠNG PHÁPNGHIÊN CỨU<br /> <br /> Đối tượng<br /> Mọi bệnh nhân nhập khoa Hô Hấp Bệnh<br /> Viện Nhân Dân Gia Định (BVNDGĐ) từ tháng<br /> 10/2008 đến tháng 6/2009 có TDMP nghi do lao.<br /> <br /> Phương pháp nghiên cứu<br /> Tiêu chuẩn chọn bệnh<br /> 92<br /> <br /> Mọi bệnh nhân nhập khoa Hô Hấp<br /> BVNDGĐ có TDMP nghi do lao (TDMP dịch tiết<br /> có tế bào lympho chiếm ưu thế).<br /> <br /> Tiêu chuẩn chẩn đoán TDMP dịch tiết<br /> Khi có 1 trong 3 tiêu chuẩn của Light.<br /> - Protein DMP / Protein huyết thanh > 0,5<br /> - LDH DMP / LDH huyết thanh > 0,6<br /> - LDH DMP > 2/3 trò soá cao nhaát cuûa LDH bình<br /> thöôøng trong maùu.<br /> <br /> Tiêu chuẩn chẩn đoán lao màng phổi<br /> Khi có một trong các kết quả sau<br /> - Kết quả STMP có nang lao và/hoặc có AFB (+)<br /> - Dịch màng phổi có AFB (+) khi nhuộm<br /> Ziehl-Neelsen, hoặc cấy có vi khuẩn lao, hoặc<br /> PCR lao (+).<br /> - Đáp ứng tốt với thuốc kháng lao (đối với<br /> những trường hợp TDMP nghĩ nhiều đến lao<br /> nhưng không có bằng chứng về vi khuẩn học<br /> hoặc mô học).<br /> <br /> Tiêu chuẩn loại trừ<br /> - Bệnh nhân không chịu STMP.<br /> - DMP quá ít không thể STMP.<br /> - Có rối loạn đông cầm máu (với INR > 1.5<br /> và/hoặc tiểu cầu < 100.000/mm3).<br /> - Bệnh nhân không đạt tiêu chuẩn chẩn đoán<br /> lao màng phổi.<br /> - Kết quả STMP hoặc cellblock có tế bào ác<br /> tính.<br /> <br /> Thiết kế nghiên cứu<br /> Mô tả loạt ca<br /> <br /> Dụng cụ<br /> Kim Cope hoặc Abrams<br /> <br /> Sơ đồ tiến hành<br /> Sơ đồ sau đây cho thấy các bước tiến hành<br /> của nghiên cứu.<br /> <br /> Thủ thuật STMP được thực hiện theo các<br /> bước sau:<br /> - Gây tê nơi dự định sinh thiết bằng Lidocain<br /> 2% 2ml từ da đến hết bề dày thành ngực, chọc<br /> hút thăm dò xem có DMP không. Nếu đã chọc ra<br /> được dịch màng phổi, rút kim gây tê và đo chiều<br /> dài của kim để ước đoán khoảng cách từ thành<br /> ngực đến khoang màng phổi.<br /> - Rạch da 0,5 -1 cm dọc theo bờ trên của<br /> xương sườn dưới.<br /> - Dùng kim sinh thiết từ từ xuyên qua thành<br /> ngực đến khoang màng phổi, dùng bơm tiêm<br /> hút kiểm tra nếu có dịch màng phổi là kim đã<br /> vào đến khoang màng phổi.<br /> - Xoay mặt cắt kim ở các vị trí 3 giờ, 6 giờ, 9<br /> giờ để cắt 3 mẫu mô màng phổi thành, cho bệnh<br /> phẩm vào dung dịch Formol 10%, gởi đến khoa<br /> Giải Phẫu Bệnh BVNDGĐ, mẫu mô sẽ được<br /> nhuộm HE tìm tổn thương u hạt đặc hiệu của<br /> lao và nhuộm Ziehl Neelsen khi cần để tìm vi<br /> khuẩn lao.<br /> - Chọc tháo DMP, lấy DMP làm các xét<br /> nghiệm:<br /> Nhuộm Ziehl-Neelsen tìm AFB = Acid Fast<br /> Bacilli (thực hiện tại BVNDGĐ).<br /> PCR lao (lấy 20 ml dịch gởi BV Phạm<br /> Ngọc Thạch).<br /> <br /> 93<br /> <br /> Cấy MGIT (lấy 20 ml dịch gởi BV Phạm<br /> Ngọc Thạch).<br /> - Rút kim, khâu da.<br /> <br /> Đặc điểm về dấu hiệu cận lâm sàng<br /> <br /> - Theo dõi tình trạng khó thở và đau ngực<br /> của BN trong vòng 24 giờ.<br /> KẾTQUẢ<br /> Từ 10/2008 đến 06/2009, chúng tôi chọn được<br /> 43 bệnh nhân đủ tiêu chuẩn tham gia nghiên<br /> cứu, có các đặc điểm như sau:<br /> <br /> Các đặc điểm về dân số nghiên cứu<br /> Tuổi trung bình trong nghiên cứu của chúng<br /> tôi là 39,3 ± 18,2 với tuổi thấp nhất là 17 và cao<br /> nhất là 84. Khoảng phân nửa bệnh nhân có độ<br /> tuổi từ 20 – 39 tuổi.<br /> Về giới tính, nam giới có 26 BN chiếm 60,5%<br /> và nữ giới có 17 BN chiếm 39,5%. Như vậy tỉ lệ<br /> nam: nữ ≈ 2:1. Trong số những BN của chúng tôi<br /> chỉ có 16,3% có trình độ đại học, nghĩa là bệnh<br /> thường tập trung ở những người lao động phổ<br /> thông.<br /> <br /> Đặc điểm về triệu chứng lâm sàng<br /> Trong các triệu chứng lâm sàng của TDMP<br /> do lao, ho là triệu chứng thường gặp nhất chiếm<br /> tỉ lệ 83,7%, kế đó là các triệu chứng sốt (76,7%),<br /> đau ngực kiểu màng phổi (74,4%). Trong số<br /> những BN có sốt, khoảng 2/3 bệnh nhân có triệu<br /> chứng sốt về chiều. Các triệu chứng như chán<br /> ăn, sụt cân chiếm tỉ lệ thấp hơn. Bảng 1 sau đây<br /> biểu thị các triệu chứng lâm sàng thường gặp<br /> của lao màng phổi.<br /> Bảng 1: Đặc điểm về triệu chứng lâm sàng tính<br /> chung và phân theo giới<br /> Triệu chứng<br /> Ho<br /> Ho khan<br /> Đau ngực kiểu<br /> màng phổi<br /> Sốt<br /> Sốt nhẹ<br /> Sốt về chiều<br /> Chán ăn<br /> Sụt cân<br /> <br /> ở nữ giới nhiều hơn (58,8%) so với nam giới (chỉ<br /> có 23,1%).<br /> <br /> n Tỷ lệ%<br /> Nam<br /> Nữ<br /> p<br /> 36 83,7<br /> 21(80,8%) 15 (88,2%) 0,51<br /> 30 69,8<br /> 16(61,5%) 14(82,4%) 0,48<br /> 32<br /> <br /> 74,4<br /> <br /> 19 (73,1%) 13 (76,5%)<br /> <br /> 0,8<br /> <br /> 33<br /> 23<br /> 21<br /> 24<br /> 16<br /> <br /> 76,7<br /> 53,5<br /> 63,6<br /> 55,8<br /> 37,2<br /> <br /> 19(73,1%) 14(82,4%) 0,48<br /> 14 (53,9%) 9 (52,9%) 0,33<br /> 14 (73,7%) 7(50,0%) 0,16<br /> 13(50,0%) 11(64,7%) 0,34<br /> 6(23,1%) 10(58,8%) 0,018<br /> <br /> Các triệu chứng nay không có gì khác biệt<br /> giữa nam giới và nữ giới trừ triệu chứng sụt cân<br /> <br /> Tốc độ lắng máu<br /> Gia tăng ở các BN trong nghiên cứu của<br /> chúng tôi, trung bình giờ thứ nhất là 65,5 ± 26,7<br /> mm, giờ thứ hai là 96,4 ± 19,1 mm.<br /> Hình ảnh X-Quang<br /> Hầu hết là TDMP tự do (97,7%), chỉ có 1 ca là<br /> TDMP khu trú (2,3%).<br /> Vị trí TDMP: 67,4% là TDMP bên phải, 32,6%<br /> là TDMP trái, không có ca nào TDMP hai bên.<br /> Mức độ TDMP: 23,6% TDMP lượng ít (mờ<br /> góc sườn hoành), 65% TDMP lượng trung bình<br /> (lượng dịch từ 1/3 – ½ phế trường) và 11,4% có<br /> TDMP lượng nhiều (≥ 2/3 phế trường).<br /> Hầu hết không thấy tổn thương phổi đi kèm<br /> (86%), 7% có tổn thương lao cũ, 7% có tổn<br /> thương lao tiến triển.<br /> Bảng 2 sau đây biểu thị các xét nghiệm sinh<br /> hóa dịch màng phổi, các chỉ số xét nghiệm trung<br /> bình đều cho thấy đây là TDMP dịch tiết với BC<br /> đơn nhân chiếm ưu thế (trung bình là 83,5%).<br /> 88,4% bệnh nhân có số lượng BC ≥ 1.000/mm3,<br /> chỉ có 5 trường hợp (11,6%) có số lượng BC <<br /> 1.000/mm3.<br /> Bảng 2: Sinh hoá dịch màng phổi<br /> Trung bình ± ñộ Nhỏ nhất Lớn nhất<br /> lệch chuẩn<br /> pH<br /> 7,05 ± 0,21<br /> 7<br /> 8<br /> Đạm (g/L)<br /> 54,7 ± 5,5<br /> 41,7<br /> 69,4<br /> Đường (mmol/L)<br /> 4,7 ± 1,4<br /> 1.8<br /> 9,9<br /> LDH (U/L)<br /> 539 ± 305<br /> 157<br /> 1815<br /> 3<br /> Bạch cầu/mm<br /> 3043 ± 2943<br /> 120<br /> 15120<br /> Lymphocyte (%)<br /> 83,5 ± 17,8<br /> 53<br /> 99<br /> <br /> Tràn dịch màng phổi được chẩn đoán do lao<br /> khi hoặc nhuộm có AFB trong dịch màng phổi<br /> hoặc PCR lao (+) hoặc cấy MGIT (+) hoặc kết quả<br /> sinh thiết màng phổi có sang thương điển hình<br /> của lao. Bảng 3 sau đây biểu thị kết quả dương<br /> tính của các phương tiện chẩn đoán lao trong<br /> nghiên cứu của chúng tôi.<br /> <br /> 94<br /> <br /> Bảng 3: Kết quả chẩn đoán lao màng phổi<br /> Xét nghiệm<br /> AFB (+)<br /> PCR (+)<br /> Cấy MGIT (+)<br /> STMP (+)<br /> STMP (+) và PCR (+)<br /> STMP (+) và MGIT (+)<br /> STMP (+) và MGIT (+) và PCR (+)<br /> <br /> n<br /> 0/26<br /> 2/33<br /> 6/33<br /> 27/43<br /> 27/43<br /> 31/43<br /> 31/43<br /> <br /> Tỷ lệ<br /> 0<br /> 6,1<br /> 18,2<br /> 62,8<br /> 62,8<br /> 72,1<br /> 72,1<br /> <br /> Trong 26 ca có tìm AFB trong dịch màng<br /> phổi, không có ca nào dương tính với AFB khi<br /> nhuộm Ziehl – Neelson. Tỉ lệ dương tính đối với<br /> vi khuẩn lao của PCR, cấy MGIT và STMP theo<br /> thứ tự là 6,1%; 18,2% và 62,8%. Nếu kết hợp giữa<br /> cấy MGIT và STMP thì tỉ lệ chẩn đoán dương<br /> tính tăng lên đến 72,1%.<br /> BÀN LUẬN<br /> <br /> Tuổi và giới<br /> Độ tuổi trung bình trong dân số nghiên cứu<br /> của chúng tôi là 39,3 + 18,2 phù hợp vớt độ tuổi<br /> phổ biến của đa số các nghiên cứu ở những nước<br /> đang phát triển, chẳng hạn nghiên cứu tại<br /> Qatar(8) có độ tuổi trung bình là 31,5. Còn ở<br /> những nước đã phát triển, tuổi trung bình của<br /> lao màng phổi cao hơn (như một nghiên cứu tại<br /> Mỹ có tuổi trung bình là 50)(3). Chỉ có nghiên cứu<br /> của tác giả Quang Văn Trí(15) là nghiên cứu tại<br /> bệnh viện Phạm Ngọ Thạch có độ tuổi cao hơn<br /> (trung bình là 60,4) có lẽ do tác giả này thực hiện<br /> nghiên cứu dựa trên sự hồi cứu và loại trừ hoàn<br /> toàn những BN lao màng phổi nhưng có tất cả<br /> các xét nghiệm PCR, MGIT và STMP đều âm<br /> tính (những bệnh nhân này thường trẻ, thường<br /> được điều trị tại trạm chống lao khu vực chứ<br /> không nhập bệnh viện Phạm Ngọc Thạch.<br /> Tỷ lệ mắc bệnh ở nam nhiều hơn nữ (60,5%<br /> và 39,5%) cũng gần tương đương với nghiên cứu<br /> của tác giả Trần Hoàng Thành(16) tại BV Bạch Mai<br /> (64,2% và 35,8%) nhưng tỉ lệ nam ít hơn so với<br /> nghiên cứu của Quang văn Trí (77%).<br /> <br /> Triệu chứng lâm sàng<br /> Triệu chứng ho xuất hiện nhiều nhất, chiếm<br /> tỷ lệ 83,7%, tương tự như nghiên cứu của Trần<br /> Hoàng Thành (82,1%)(16) và Trần văn Sáu (84%)(17)<br /> <br /> trong đó chủ yếu là ho khan (69,8%) và có 1<br /> trường hợp ho đàm lẫn máu (2,3%).<br /> Sốt chiếm 76,7%, đa số là sốt nhẹ (53,5%),<br /> tỉ lệ này cao hơn trong nghiên cứu của tác<br /> giả Trần Hoàng Thành(16), vì tác giả này chỉ<br /> đánh giá triệu chứng sốt khi mới nhập viện<br /> trong khi chúng tôi đánh giá sốt trong suốt<br /> thời gian nằm viện. Tuy nhiên tỉ lệ này thấp<br /> hơn nghiên cứu của Trần văn Sáu (92%)(17) có<br /> thể do tác giả này lấy mốc số là 37,1°C trong<br /> khi mốc sốt của chúng tôi là 37,8°C. Triệu<br /> chứng sốt về chiều chiếm đến 63,6% trong số<br /> những bệnh nhân có sốt cho thấy đây vẫn là<br /> triệu chứng gợi ý bệnh lao.<br /> Đau ngực kiểu màng phổi cũng thường gặp<br /> ở những bệnh nhân lao màng phổi (74,4%)<br /> tương đương với một số tác giả trên thế giới<br /> (khoảng 75%)(4,12) nhưng thấp hơn so với tác giả<br /> Trần Hoàng Thành (91,6%)(16).<br /> Triệu chứng sụt cân ít gặp nhất (37,2%) có<br /> lẽ do đa số bệnh thường diễn tiến cấp tính với<br /> các triệu chứng như sốt, ho, đau ngực kiểu<br /> màng phổi thường làm cho bệnh nhân đến<br /> khám bệnh sớm.<br /> <br /> Triệu chứng cận lâm sàng<br /> Vị trí TDMP: đa số là TDMP bên phải<br /> (67,4%), so với tác giả Quang Văn Trí(15) là 76,9%.<br /> Trong nghiên cứu của chúng tôi không có<br /> trường hợp nào TDMP 2 bên, trong khi nghiên<br /> cứu của tác giả Quang Văn Trí ghi nhận có 2<br /> trường hợp lao màng phổi 2 bên (5,1%).<br /> Hầu như tất cả bệnh nhân đều có VS máu<br /> tăng, 97,7% bệnh nhân có VS giờ đầu ≥ 30mm,<br /> 100% bệnh nhân có VS giờ thứ 2 ≥ 40mm, kết<br /> quả này cao hơn nghiên cứu của tác giả Trần<br /> Hoàng Thành (65,9% và 78%)(16).<br /> <br /> Các xét nghiệm chẩn đoán lao<br /> Xét nghiệm vi sinh<br /> Không có trường hợp nào trong nghiên cứu<br /> của chúng tôi có AFP (+) trong DMP, cũng giống<br /> như tác giả Trần Hoàng Thành(16). Trong khi<br /> Trần Văn Sáu(17) kết quả AFP (+) là 3,16%, Lưu<br /> Thị Nhẫn(11) là 7,5%.<br /> 95<br /> <br />

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

Đồng bộ tài khoản