intTypePromotion=3

Vấn đề tự học của sinh viên Trường Đại học Luật Hà Nội - Thực trạng và Giải pháp

Chia sẻ: Lê Na | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:8

0
295
lượt xem
48
download

Vấn đề tự học của sinh viên Trường Đại học Luật Hà Nội - Thực trạng và Giải pháp

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

 Vấn đề tự học của sinh viên Trường Đại học Luật Hà Nội - Thực trạng và Giải pháp nhằm phân tích, đánh giá thực trạng, năng lực tự học của sinh viên Trường Đại học Luật Hà Nội và đưa ra một số biện pháp nhằm nâng cao khả năng tự học của sinh viên Trường Đại học Luật Hà Nội.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Vấn đề tự học của sinh viên Trường Đại học Luật Hà Nội - Thực trạng và Giải pháp

  1. ®µo t¹o ThS. Phan C«ng LuËn * 1. Đặt vấn đề hội học tập với nền kinh tế tri thức hiện nay. Xã hội học tập với nền kinh tế tri thức là Thực tế, qua nghiên cứu điều tra về khả xu thế chung của thời đại. Xã hội học tập là năng tự học của sinh viên Trường Đại học xã hội mà mọi người lấy học tập là công việc Luật Hà Nội chúng tôi thấy sinh viên chưa thường xuyên, suốt đời, học trong nhà hình thành thói quen về kĩ năng này. trường và ngoài nhà trường, chính quy hay 2. Những khó khăn cơ bản về kĩ năng không chính quy... như một phần không thể tự học của sinh viên Trường Đại học Luật thiếu trong cuộc đời mình. Xã hội học tập là Hà Nội “... xã hội hiếu học, có thị trường học tập 2.1. Khó khăn về mặt nhận thức trong kĩ với một hệ thống giáo dục linh hoạt, đa dạng năng tự học của sinh viên trong đó mỗi người được thoả mãn tối đa 2.1.1 Kết quả chung của sinh viên năm các nhu cầu và động cơ học tập…”.(1) thứ nhất và năm thứ ba về mặt nhận thức Để đáp ứng được yêu cầu của xã hội học Chúng tôi đã tiến hành đề tài nghiên cứu tập đòi hỏi mỗi người nói chung và sinh viên trên đối tượng là 103 sinh viên năm thứ nhất các trường đại học nói riêng phải coi trọng vấn và 109 sinh viên năm thứ ba ở năm khoa chuyên đề tự học. Tự học là mỗi người tham gia vào ngành về những khó khăn trong nhận thức hoạt động học tập phải chủ động, tích cực, tự xúc cảm và kĩ năng tiến hành tự học của sinh nguyện tổ chức tốt hoạt động học tập của viên được thể hiện trong các bảng sau: mình. Coi việc học là yếu tố tự thân, phù hợp Qua Bảng 1 chúng tôi thấy nhìn chung sinh với quan điểm cơ bản của triết học, đó là quan viên nhận thức khó khăn lớn nhất với sinh điểm tự thân vận động. Tự học là việc sinh viên là việc “Tự kiểm tra, đánh giá theo từng viên phải tự xác định rõ mục đích học tập để nội dung và thang đánh giá đã được xác định” làm gì? Chủ động xây dựng kế hoạch học tập, (điểm trung bình - ĐTB = 2.11, xếp thứ bậc sự phối kết hợp giữa những người học với 1/6). Kết quả điều tra này là phù hợp với thực nhau, xây dựng tốt quan hệ giữa người thầy và tiễn bởi sinh viên cũng chưa bao giờ được người học trong đó người học phải là trung tham gia vào công việc này. Đây cũng là tình tâm của hoạt động học tập. Người học phải là trạng chung của sinh viên các trường đại học chủ thể tích cực, chủ động tốt hoạt động học trong đó có Trường Đại học Luật Hà Nội. tập của cá nhân, rèn luyện tốt kĩ năng tự học của bản thân nhằm chiếm lĩnh và làm chủ tri * Giảng viên Khoa luật hình sự thức, đáp ứng yêu cầu của việc xây dựng xã Trường Đại học Luật Hà Nội t¹p chÝ luËt häc sè 1/2011 69
  2. ®µo t¹o Bảng 1: Khó khăn về mặt nhận thức trong quá trình tự học của sinh viên Năm thứ nhất Năm thứ ba Chung STT Các kĩ năng nghiên cứu khoa học (103 sinh viên) (109 sinh viên) (212 sinh viên) ĐTB ĐLC TB ĐTB ĐLC TB ĐTB ĐLC TB 1 Tự giác, tích cực hoàn thành mọi nhiệm 1.42 0.53 6 1.42 0.51 6 1.42 0.52 6 vụ học tập 2 Phân bố thời gian cân đối giữa học tập 1.64 0.59 5 1.58 0.63 5 1.61 0.61 5 và các hoạt động khác 3 Phân bố thời gian cho từng nội dung tự 1.87 0.57 3 1.68 0.65 3 1.77 0.62 3 học một cách hợp lí 4 Ưu tiên hợp lí về thời gian cho từng nội 1.67 0.58 4 1.59 0.61 4 1.63 0.60 4 dung học cụ thể 5 Tự kiểm tra đánh giá theo từng nội dung 2.12 0.66 1 2.10 0.62 1 2.11 0.64 1 và thang đánh giá đã được xác định 6 Tự điều chỉnh, bổ sung các nội dung kiến thức sau khi tự kiểm tra đánh giá 2.00 0.64 2 2.02 0.65 2 2.01 0.65 2 Ghi chú: ĐTB: Điểm trung bình, ĐLC: Độ lệch chuẩn, TB: Thứ bậc Phân tích kết quả khảo sát cũng cho tra đánh giá” (ĐTB = 2.01, xếp thứ bậc 2/6). thấy: có 33 sinh viên (chiếm 15,6%) biết rõ, Kết quả này cũng cho thấy rõ nếu sinh viên 123 sinh viên (chiếm 58%) có biết và 56 không được thực hiện đầy đủ kĩ năng “Tự sinh viên (chiếm 26,4%) không biết “Tự kiểm tra, đánh giá theo từng nội dung và kiểm tra đánh giá theo từng nội dung và thang đánh giá đã được xác định” thì kĩ năng thang đánh giá đã được xác định”. Thực này cũng không được sinh viên tham gia trạng này cho thấy đa phần sinh viên không thường xuyên. biết hoặc biết rất ít công việc “Tự kiểm tra Qua kết quả khảo sát, chúng tôi thấy một đánh giá theo từng nội dung và thang đánh số các kĩ năng tự học được sinh viên nhận giá đã được xác định”. Các em nhìn chung thức ít, khó khăn hơn như kĩ năng “Tự giác, không được nhà trường, phòng chức năng cũng tích cực hoàn thành nhiệm vụ học tập”, như các giảng viên quan tâm, tổ chức thường “Phân bổ thời gian cân đối giữa học tập và xuyên công việc này và điều này cũng ít nhiều các hoạt động khác”. ảnh hưởng đến kết quả học tập của sinh viên. Thực trạng khảo sát trên cho thấy sinh Tiếp theo là kĩ năng “Tự điều chỉnh, bổ viên sinh viên đã thấy rõ trách nhiệm của sung các nội dung kiến thức sau khi tự kiểm mình, chủ động hơn trong việc học tập và 70 t¹p chÝ luËt häc sè 1/2011
  3. ®µo t¹o nhà trường, giảng viên cần phải tạo điều kiện tốt. Thực trạng này đòi hỏi các phòng chức cho sinh viên phát huy hết tính năng động năng (Phòng đào tạo, Phòng công tác sinh sáng tạo của mình bằng việc tổ chức các diễn viên) phải phối hợp với ban chủ nhiệm các đàn học tập, tham gia các buổi diễn án, trao khoa kịp thời phát hiện để giúp đỡ và uốn đổi các phương pháp học tập... nắn sinh viên. Tiếp theo là kĩ năng “Phân bổ thời gian 2.1.2. Kết quả riêng năm thứ nhất và cân đối giữa học tập và các hoạt động khác” năm thứ ba về nhận thức (ĐTB = 1.61, xếp thứ bậc 5/6) trong đó có Qua kết quả khảo sát ở Bảng 1, chúng 79 sinh viên (chiếm 45,8%) biết rõ, 101 sinh tôi nhận thấy nhìn chung về mặt nhận thức, viên (chiếm 47,6%) có biết và 14 sinh viên các kĩ năng tự học của sinh viên năm thứ (chiếm 6,6%) không biết. Thực trạng trên nhất và sinh viên năm thứ ba không có sự cho thấy nhìn chung sinh viên đã biết tự khác biệt một cách có ý nghĩa về các kĩ giác, tích cực học tập thì đều biết sắp xếp, năng trên. Ở sinh viên đã có sự thống nhất cân đối thời gian học tập và các hoạt động cao trong thứ bậc về nhận thức những khó khác. Tuy nhiên, cũng còn một số sinh viên khăn và thuận lợi trong việc thực hiện các xa rời việc học tập, chưa chủ động sắp xếp kĩ năng tự học của sinh viên. thời gian giữa việc học và tham gia các hoạt 2.2. Khó khăn về mặt xúc cảm trong kĩ động khác dẫn tới kết quả học tập không năng tự học của sinh viên Bảng 2: Khó khăn về mặt xúc cảm trong tự học của sinh viên Năm thứ nhất Năm thứ ba Chung STT Các kĩ năng tự học của sinh viên (103 sinh viên) (109 sinh viên) (212 sinh viên) ĐTB ĐLC TB ĐTB ĐLC TB ĐTB ĐLC TB 1 Tự giác, tích cực hoàn thành mọi 1.48 0.54 6 1.55 0.54 3 1.51 0.54 4 nhiệm vụ học tập 2 Phân bố thời gian cân đối giữa học 1.52 0.57 5 1.50 0.52 4 1.51 0.55 4 tập và các hoạt động khác 3 Phân bố thời gian cho từng nội dung 1.60 0.55 3 1.46 0.55 6 1.53 0.55 3 tự học một cách hợp lí 4 Ưu tiên hợp lí về thời gian cho từng 1.56 0.55 4 1.47 0.55 5 1.51 0.54 4 nội dung tự học cụ thể 5 Tự kiểm tra, đánh giá theo từng nội 1.84 0.59 1 1.95 0.61 1 1.90 0.60 1 dung và thang đánh giá đã xác định 6 Tự điều chỉnh, bổ sung các nội dung 1.83 0.62 2 1.88 0.63 2 1.85 0.63 2 kiến thức sau khi tự kiểm tra đánh giá 2.2.1. Kết quả chung năm thứ nhất, năm năng “Tự kiểm tra đánh giá theo từng nội thứ ba về mặt xúc cảm dung và thang giá được xác định” (ĐTB = Qua Bảng 2 chúng tôi nhận thấy: Với kĩ 1.90, xếp thứ bậc 1/6) có 50 sinh viên t¹p chÝ luËt häc sè 1/2011 71
  4. ®µo t¹o (chiếm 23,6%) thể hiện thái độ không thích, - Giữa sinh viên năm thứ nhất và sinh 133 sinh viên (chiếm 62,7%) thể hiện thái viên năm thứ ba không có sự khác biệt một độ bình thường và tỏ ra không quan tâm tới, cách có ý nghĩa về kĩ năng “Tự kiểm tra đánh còn 29 sinh viên (chiếm 13,7%) thì tỏ thái giá theo từng nội dung và thang đánh giá đã độ thích. Như vậy, có tới 86,7% số sinh xác định” và kĩ năng “Tự điều chỉnh, bổ sung viên khi trả lời các phiếu khảo sát của các nội dung kiến thức sau khi tự kiểm tra, chúng tôi đều tỏ thái độ thờ ơ, không quan đánh giá”. Nhìn chung, sinh viên đều có thái tâm hoặc không thích kĩ năng này. Kết quả độ không tích cực với các kĩ năng này. Đây này cũng phù hợp với việc sinh viên tỏ ra cũng là hiện trạng đòi hỏi các nhà trường, các nhận thức khó khăn với việc thực hiện kĩ phòng chức năng, khoa cũng như từng giảng năng “Tự kiểm tra đánh giá theo từng nội viên phải quan tâm để sinh viên có những dung và thang đánh giá đã xác định”. Nhận thái độ đúng khi thực hiện kĩ năng này. thức khó khăn sẽ dẫn đến sinh viên có thái - Về kĩ năng “Tự giác, tích cực hoàn độ không đúng về kĩ năng này. thành mọi nhiệm vụ học tập” và kĩ năng Tương tự vậy, với kĩ năng “Tự điều “Phân bổ thời gian cho từng nội dung tự học chỉnh, bổ sung các nội dung kiến thức sau một cách hợp lí” thì giữa sinh viên năm thứ khi tự kiểm tra đánh giá” (ĐTB = 1.85, xếp nhất với sinh viên năm thứ ba có những thứ bậc 2/6) có 59 sinh viên (chiếm 27,8%) điểm khác biệt. Các em sinh viên năm thứ thể hiện thái độ không thích, 125 sinh viên nhất có thái độ tích cực nhất với việc thực (chiếm 59,0%) thể hiện thái độ bình thường hiện kĩ năng “Tự giác, tích cực hoàn thành (không quan tâm) và chỉ có 28 sinh viên mọi nhiện vụ học tập”. Các em tuy mới bước (chiếm 13,2%) là có thái độ thích. Như vậy vào trường đại học nhưng đã biết lo lắng cho cũng có 86,6% số sinh viên tỏ thái độ không việc học tập trong môi trường mới của mình. tích cực đối với kĩ năng này. Đây cũng là thực tế đòi hỏi nhà trường cần Bên cạnh những sinh viên có thái độ tạo môi trường học tập lành mạnh, hứng không tích cực khi phải thực hiện kĩ năng khởi, có kỉ luật để sinh viên duy trì thường trên thì kết quả khảo sát cũng cho thấy sinh xuyên thái độ tích cực với việc học tập của viên có thái độ tích cực hơn khi thực hiện mình. Với kĩ năng này sinh viên năm thứ ba các kĩ năng tự học như: “Tự giác, tích cực chỉ tỏ thái độ bình thường. Tuy nhiên, về kĩ hoàn thành mọi nhiệm vụ học tập”, “Phân bổ năng “Phân bổ thời gian cho nội dung tự học thời gian cân đối giữa học tập và các hoạt một cách hợp lí” thì sinh viên năm thứ ba có động khác” và “Ưu tiên hợp lí về thời gian thái độ tích cực hơn sinh viên năm thứ nhất. cho từng nội dung tự học cụ thể”. Do vậy, nhà trường cũng cần tổ chức cho 2.2.2. Kết quả riêng năm thứ nhất và các khoá được giao lưu, liên kết để sinh viên năm thứ ba về xúc cảm sinh viên mới vào có điều kiện học tập các Phân tích kết quả khảo sát ở Bảng 2 anh chị khoá trên về phương pháp học tập cho thấy: cho tốt. 72 t¹p chÝ luËt häc sè 1/2011
  5. ®µo t¹o 2.3. Khó khăn về mặt kĩ năng tiến hành quá trình tự học của sinh viên Bảng 3: Khó khăn về kĩ năng tiến hành tự học của sinh viên Các kĩ năng Năm thứ nhất Năm thứ ba Chung STT nghiên cứu khoa học ĐTB ĐLC TB ĐTB ĐLC TB ĐTB ĐLC TB 1 Tự giác, tích cực hoàn thành mọi 1.74 0.48 6 1.68 0.51 6 1.71 0.50 6 nhiệm vụ học tập 2 Phân bố thời gian cân đối giữa học 1.83 0.58 5 1.79 0.56 4 1.81 0.57 5 tập và các hoạt động khác 3 Phân bố thời gian cho từng nội 1.99 0.55 3 1.83 0.62 3 1.91 0.59 3 dung tự học một cách hợp lí 4 Ưu tiên hợp lí về mặt thời gian cho 1.95 0.60 4 1.74 0.66 5 1.84 0.64 4 từng nội dung tự học cụ thể 5 Tự đánh giá theo từng nội dung và 2.17 0.55 1 2.21 0.58 1 2.19 0.56 1 thang đánh giá đã được xác định 6 Tự điều chỉnh, bổ sung các nội dung kiến thức sau khi tự kiểm tra 2.17 0.54 1 2.20 0.57 2 2.18 0.56 2 đánh giá 2.3.1. Kết quả chung của sinh viên năm “thuần thục”, 139 sinh viên (chiếm 65,6%) trả nhất, năm thứ ba về mặt hành vi lời “chưa thuần thục” và có 56 sinh viên (chiếm Qua Bảng 3, chúng tôi nhận thấy kĩ năng 26,4%) ý kiến trả lời “không biết cách làm”. mà sinh viên gặp khó khăn nhất là kĩ năng Từ những kết quả trên cho thấy sinh viên “Tự kiểm tra đánh giá theo từng nội dung và sinh viên còn gặp rất nhiều khó khăn khi thang đánh giá đã xác định” và kĩ năng “Tự thực hiện kĩ năng này và thực tế sinh viên điều chỉnh, bổ sung các nội dung kiến thức chưa làm và làm còn rất lúng túng. Khi sau khi đã kiểm tra đánh giá”. Cụ thể: chúng tôi tiến hành phỏng vấn sâu sinh viên Kĩ năng “Tự kiểm tra đánh giá theo từng sinh viên về việc thực hiện hai kĩ năng trên, nội dung và thang đánh giá đã xác định” em P.M.T (đại diện cho nhóm bạn) đã trả (ĐTB = 2.19, xếp thứ bậc 1/6) có 17 sinh lời: “Trong thực tế từ năm đầu đến năm viên (chiếm 8%) trả lời “thuần thục”, 137 cuối, gần như chúng em không quan tâm tới sinh viên (chiếm 64,6%) trả lời “chưa thuần kĩ năng này và dẫn tới việc thực hiện nó thục” và có tới 58 sinh viên (chiếm 27,4%) ý không thường xuyên, hiệu quả”. kiến trả lời là “không biết cách làm”. Những kĩ năng sinh viên sinh viên gặp ít Kĩ năng “Tự điều chỉnh, bổ sung các nội khó khăn hơn trong việc thực hiện là kĩ năng dung sau khi tự kiểm tra đánh giá” (ĐTB = “Tự giác, tích cực hoàn thành mọi nhiệm vụ 2.18, xếp thứ bậc 2/6) cũng có kết quả tương học tập” (ĐTB = 1.74, xếp thứ bậc 6/6) và kĩ tự, đó là 17 sinh viên (chiếm 8,0%) trả lời năng “Phân bổ thời gian cân đối giữa học tập t¹p chÝ luËt häc sè 1/2011 73
  6. ®µo t¹o các hoạt động khác” (ĐTB = 1.81, xếp thứ hiện các kĩ năng tự học. bậc 5/6). Nhìn chung sinh viên đã thực hiện 3. Tổng hợp khó khăn tâm lí trong kĩ tốt hoặc có thực hiện nó tuy ở mức “chưa năng tự học của sinh viên thuần thục”. Số em “không biết làm” là rất Qua nghiên cứu khó khăn tâm lí trên ít. Qua kết quả khảo sát này, nhà trường cần ba mặt nhận thức, xúc cảm, kĩ năng tiến phải phối kết hợp giữa các phòng chức năng, hành tự học của sinh viên Trường Đại học khoa, các giảng viên chủ nhiệm cùng các tổ Luật Hà Nội, chúng tôi rút ra những nhận chức đoàn thanh niên, hội sinh viên để kiểm xét cơ bản sau: tra, đôn đốc và hướng dẫn sinh viên tổ chức - Giữa mặt nhận thức và kĩ năng tiến tốt các kĩ năng này. hành tự học của sinh viên có tương quan cao 2.3.2 Kết quả riêng năm thứ nhất, năm (r = 0.652). Điều đó chứng tỏ rằng nếu sinh thứ ba về kĩ năng tiến hành quá trình tự học viên nam và nữ (cả năm thứ nhất và năm thứ của sinh viên ba) có nhận thức về một kĩ năng tự học nào Qua kết quả khảo sát ở Bảng 3 cho thấy: thì về kĩ năng tiến hành tự học cũng cho kết - Giữa sinh viên năm thứ nhất và sinh quả tương tự. viên năm thứ ba không có sự khác biệt có ý Bảng 4: Mối tương quan giữa khó khăn nghĩa về kĩ năng “Tự kiểm tra đánh giá theo tâm lí trong nhận thức, xúc cảm và kĩ năng từng nội dung và thang đánh giá đã xác tiến hành tự học của sinh viên định” và kĩ năng “tự điều chỉnh, bổ sung các Kĩ năng Các mặt Nhận Thái nội dung kiến thức sau khi tự kiểm tra, đánh tiến hành thức độ tự học giá”. Nhìn chung, sinh viên sinh viên đều Nhận thức 1.00 gặp nhiều khó khăn trong việc thực hành các Thái độ 0.246** 1.00 kĩ năng này (không biết làm hoặc làm không thành thục). Nhà trường cần phải có kế Kĩ năng tiến 0.652** 0.216** 1.00 hành tự học hoạch xây dựng các thang chuẩn đánh giá và phải tổ chức thường xuyên hoạt động này để Ghi chú: r** khi p
  7. ®µo t¹o - Qua tìm hiểu mối tương quan giữa ba Thực tế cho thấy, các em học ở lớp chính mặt nhận thức, xúc cảm và mức độ thành khoá hết giờ lại đi học thêm; ở một số trường, thạo kĩ năng tự học của sinh viên nam và nữ lớp còn có tình trạng giảng viên trên lớp giảng năm thứ nhất và năm thứ ba, Trường Đại học dạy qua loa, đại khái; còn những kiến thức Luật Hà Nội, chúng tôi thấy giữa các mặt đó cơ bản, nâng cao lại để dành giảng dạy tại đều có mối tương quan với nhau theo chiều lớp học thêm. Từ đó dẫn đến tình trạng học tỉ lệ thuận. Trong đó, mối quan hệ giữa nhận sinh không thể không đi học thêm… thức và hành vi là quan hệ chặt, mối quan hệ 4.4. Về phía gia đình giữa nhận thức và xúc cảm cũng như xúc Trong nền kinh tế thị trường hiện nay đa cảm và hành vi có quan hệ nhưng lỏng hơn. phần cha, mẹ các em mải lo kiếm sống, ít có Điều kết luận đó cũng chứng tỏ rằng khi điều kiện để đôn đốc các em trong việc học sinh viên mà nhận thức không đầy đủ, nhận tập. Bên cạnh đó, một số phụ huynh còn có thức sai về kĩ năng tự học nào đó sẽ ảnh tâm lí phó mặc việc học tập của con em hưởng đến việc triển khai kĩ năng tự học đó mình cho nhà trường, thầy cô thông qua các trong thực tế học tập của sinh viên lớp chính khoá và học thêm. 4. Nguyên nhân của thực trạng trên 4.5. Về phía xã hội 4.1. Về phía sinh viên Các phương tiện thông tin đại chúng, các Ngay từ khi học phổ thông phần lớn các cơ quan chức năng chưa thực sự quan tâm em chưa tự giác học tập; việc học, việc thi đúng mức đến bản chất của quá trình tự học; của các em mang tính đối phó. Việc học tập chưa tạo ra dư luận lành mạnh để loại bỏ của các em chủ yếu do chịu áp lực từ phía việc dạy thêm, học thêm; chưa tạo điều kiện nhà trường, thầy cô và gia đình; phần lớn để bản thân mỗi học sinh, sinh viên nâng cao chưa có động lực, chưa có niềm đam mê. khả năng tự học để từ đó xây dựng xã hội 4.2. Về phía bạn bè học tập trong đó mỗi người phải coi việc tự Trong quan hệ bạn bè, các em chưa có học như là yếu tố tự thân… một môi trường học tập tích cực, chẳng hạn: 5. Những giải pháp cơ bản bạn bè chơi với nhau chủ yếu để giúp nhau Từ những kết quả nghiên cứu trên, chúng học tập, tìm ra phương pháp học tập tốt nhất. tôi khẳng định việc tự học của sinh viên là Quan hệ của các em thường hướng vào các do sinh viên quyết định. Sinh viên là người thú vui ngoài xã hội. Ví dụ: đi chơi, sinh quyết định chính đến quá trình tự học của nhật, xem phim, ảnh… mình. Tuy nhiên, các yếu tố khách quan như: 4.3. Về phía nhà trường và thầy cô nhà trường, các tổ chức đoàn, hội sinh viên, Áp lực học ở lớp chính khoá và học thêm gia đình cũng là những nhân tố ảnh hưởng đã đẩy các em vào tình trạng bị “nhồi kiến quan trọng đến vấn đề tự học của sinh viên. thức”, không có thời gian để các em tự học, Trên cơ sở những khẳng định đó chúng tôi tự nghiên cứu, tìm tòi những kiến thức đã xin đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao học. Từ đó các em chưa nâng cao khả năng khả năng tự học của sinh viên Trường Đại tự học của bản thân. học Luật Hà Nội. t¹p chÝ luËt häc sè 1/2011 75
  8. ®µo t¹o 4.1. Về phía nhà trường 4.2. Về phía tổ chức đoàn, hội sinh viên - Cần xây dựng các giải pháp, biện pháp Đây chính là các tổ chức rất gần gũi với cụ thể nhằm tạo điều kiện để sinh viên được sinh viên, theo sát đôn đốc, động viên sinh đánh giá đúng về năng lực thực sự của mình. viên trong học tập và sinh hoạt. Đặc biệt là vấn - Có các hướng dẫn cụ thể thông qua các đề tự học của sinh viên. Các tổ chức đoàn, hội phòng nghiệp vụ, các khoa và các cố vấn học sinh viên cần chủ động tổ chức các hội thảo tập về chủ động kiểm tra, đánh giá từng nội hoặc các chuyên đề bàn về phương pháp học dung môn học cũng như các nội dung kiến tập trong đó có vấn đề tự học của sinh viên. thức mà sinh viên đã cập nhật được. 4.3. Về phía gia đình - Nhà trường cần phải nâng cao cơ sở vật Nhà trường cũng nên thông qua các chất phục vụ cho hoạt động học tập của sinh phòng, ban chức năng, các cố vấn học tập để viên như phòng học sinh viên, thư viện, các tìm hiểu về điều kiện, hoàn cảnh gia đình phòng chuyên dụng: ngoại ngữ, tin học, phòng sinh viên để có sự phối hợp trong việc đôn diễn án... phục vụ cho hoạt động dạy và học. đốc sinh viên có thái độ học tập đúng đắn, - Nhà trường cũng cần phải chủ động lên thấy được vị trí của từng sinh viên tại Trường kế hoạch trong năm, trong một học kì về tổ Đại học Luật Hà Nội là đáng quý, đáng trân chức các hội thảo khoa học bàn về phương trọng và phải phát huy nó. Gia đình trong pháp giảng dạy của giảng viên, phương pháp khả năng có thể cần tạo điều kiện tốt nhất về học tập của sinh viên và mối quan hệ giữa tinh thần, về vật chất để sinh viên hoàn thành giảng viên và sinh viên để không ngừng nhiệm vụ học tập của mình, nâng cao hơn nâng cao khả năng tự học, tạo điều kiện để nữa khả năng tự học của sinh viên. sinh viên tự giác, tích cực, chủ động và có 4.4. Về phía sinh viên phương pháp học tập đúng đắn, có hiệu quả. Sinh viên cần xác định rõ việc tự học là - Đối với các phòng ban nghiệp vụ phải nhiệm vụ chính của mình. Sinh viên là người chủ động kiểm tra, đôn đốc thường xuyên, nắm quyết định chính đến việc tự học của bản bắt được tâm tư tình cảm nguyện vọng của thân. Không ai quản lí, kiểm soát việc tự học sinh viên để kịp thời nhắc nhở, động viên sinh của sinh viên bằng chính họ. Sinh viên cần viên nâng cao năng lực tự học của bản thân. phải chủ động tổ chức tốt việc học tập của - Đối với các cố vấn học tập: Cần chủ mình sao cho phát huy được tính năng động động xây dựng cho sinh viên phương pháp sáng tạo trong việc tiếp thu tri thức, lĩnh hội học tập đúng đắn, hướng dẫn cho sinh viên kĩ và vận dụng nó. Sinh viên phải xây dựng năng phát hiện và giải quyết vấn đề, cách tra được kế hoạch học tập cụ thể, phù hợp cùng cứu thông tin trên mạng… Từ đó để sinh viên với các phương pháp học tập thích ứng../. có thể phát huy được tính chủ động, sáng tạo trong học tập đồng thời, rèn luyện cho sinh (1).Xem: GS.TS. Nguyễn Ngọc Phú (chủ biên), Tiến viên kĩ năng “Tự kiểm tra, đánh giá theo từng tới một xã hội học tập ở Việt Nam, Nxb. Đại học quốc nội dung và thang đánh giá đã xác định”. gia, Hà Nội, 2006, tr. 66. 76 t¹p chÝ luËt häc sè 1/2011

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản