intTypePromotion=1
ADSENSE

Vận dụng các phương pháp dạy học tích cực trong soạn giảng bài dạy phần thuật toán Tin học 10

Chia sẻ: Minh Minh | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:11

22
lượt xem
1
download
 
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Bài báo này đề xuất cách vận dụng một số phương pháp dạy học làm tích cực hóa học sinh (HS) trong soạn giảng bài dạy phần thuật toán của tin học 10. Có thể xem đây là một mẫu về cách soạn giáo án mà trong đó các phương pháp dạy học hữu hiệu được thể hiện rõ nét.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Vận dụng các phương pháp dạy học tích cực trong soạn giảng bài dạy phần thuật toán Tin học 10

  1. JOURNAL OF SCIENCE OF HNUE FIT., 2011, Vol. 56, pp. 156-166 VẬN DỤNG CÁC PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC TÍCH CỰC TRONG SOẠN GIẢNG BÀI DẠY PHẦN THUẬT TOÁN TIN HỌC 10 Nguyễn Chí Trung(∗), Hồ Cẩm Hà Khoa Công nghệ Thông tin - Đại học Sư phạm Hà Nội (∗) Email: trungnc@hnue.edu.vn Tóm tắt. Bài báo này đề xuất cách vận dụng một số phương pháp dạy học làm tích cực hóa học sinh (HS) trong soạn giảng bài dạy phần thuật toán của tin học 10. Có thể xem đây là một mẫu về cách soạn giáo án mà trong đó các phương pháp dạy học hữu hiệu được thể hiện rõ nét. 1. Giới thiệu Ở trong nước, giáo trình Phương pháp dạy học chuyên ngành môn tin học của PGS. TS Lê Khắc Thành đã chỉ ra bốn thành tố cơ bản của dạy học, xem xét quá trình dạy học trên các phương diện khác nhau và đưa ra một số phương pháp dạy học không truyền thống phát huy tính tích cực tự giác của người học. Từ đó giáo sinh (sinh viên sư phạm) vận dụng linh hoạt các vấn đề này trong bài soạn giảng của mình. Tuy nhiên, giáo sinh thường vẫn chưa thể thiết kế được các giáo án dạy học với các phương pháp dạy học hiện đại và phong phú, thích hợp với từng nội dung kiến thức. Khi khảo sát giáo án lên lớp của sinh viên sư phạm tin với câu hỏi: “Tại sao cột Hoạt động của giáo viên (GV) và HS trong giáo án của các em lặp đi lặp lại một số hoạt động sơ sài và rất hình thức như: GV đặt câu hỏi, GV viên gợi ý, HS chăm chú lắng nghe, HS tích cực phát biểu ý kiến, HS sinh ghi chép bài cẩn thận” ta thường nhận được câu trả lời “Vì chúng em không biết phương pháp dạy học nào có thể sử dụng và cách thể hiện chúng như thế nào trong giáo án của mình”. Dễ thấy câu trả lời này dẫn đến từ hai nguyên nhân: Thứ nhất là sinh viên chưa thành công trong việc tự tìm tòi, nghiên cứu để tích lũy cho mình vốn liếng về các phương pháp dạy học hiệu quả; Thứ hai là sinh viên còn thụ động trong việc rèn luyện vận dụng lí luận và các phương pháp dạy học tích cực vào thực tiễn dạy học. Các nước tiên tiến trên thế giới đã triển khai thành công một số kỹ thuật dạy học (phương pháp dạy học nhỏ) rất hiệu quả, kích thích được người học chủ động tìm tòi, lĩnh hội kiến thức. Ví dụ như phương pháp Phillip XYZ, phương pháp tia chớp (Flashlight), phương pháp bể cá (Fishblow), phương pháp động não 156
  2. Vận dụng các phương pháp dạy học tích cực trong soạn giảng... (BrainStorming), phương pháp dạy học dựa vào truy vấn (Inquery based learning in teaching), phương pháp dạy học hợp tác kiểu Jigsaw, vv. Trên thực tế, sinh viên sư phạm hầu như chưa nghiên cứu kĩ và chưa vận dụng được các phương pháp dạy học tích cực này vào trong thiết kế bài giảng của mình. Chúng tôi lấy phần thuật toán trong sách giáo khoa (SGK) Tin học 10 (được xem là một nội dung tương đối khó dạy đối với đối tượng HS) làm ví dụ để minh họa việc soạn giảng, trong đó thể hiện được các phương pháp dạy học tích cực. Phần thuật toán trong chương trình Tin học 10 tập trung chủ yếu trong “Bài 4. Bài toán và thuật toán”. Theo sách hướng dẫn GV, bài này được dạy sáu tiết, trong đó có năm tiết lí thuyết, một tiết bài tập (không có tiết Bài tập & thực hành) và gồm ba nội dung sau đây: 1) Khái niệm bài toán. 2) Khái niệm thuật toán (trong đó đề cập đến thuật toán Tìm giá trị lớn nhất của dãy số). 3) Một số ví dụ về thuật toán (Kiểm tra tính nguyên tố của một số; Sắp xếp bằng tráo đổi; Tìm kiếm tuần tự và Tìm kiếm nhị phân). Mỗi nội dung trên cần được xem xét để lựa chọn được phương pháp dạy học phù hợp. Bài báo này sẽ lần lượt giới thiệu và minh họa cách soạn giảng từng phương pháp được vận dụng. 2. Nội dung nghiên cứu 2.1. Phương pháp Bể cá (FishBowl) Phương pháp Bể cá được sử dụng như một kĩ thuật hay một phương pháp nhỏ rất hữu ích trong dạy học. Trong từ điển Các thuật ngữ về các chiến lược chỉ dẫn, Kelly Jo Rowan đã đưa ra định nghĩa: “Bể cá là một cuộc thảo luận theo dạng mà trong đó một nhóm sinh viên được chọn ra từ lớp học. Họ ngồi trước cả lớp như một bàn tọa đàm để thảo luận về một chủ đề, trong khi đó cả lớp sẽ quan sát. Sau đó, thảo luận này được mở rộng ra cả lớp” [3]. Việc tổ chức dạy học theo nhóm nhỏ bằng Bể cá được nhắc đến trong nhiều bài báo và hội thảo về các phương pháp dạy học tích cực [4, 5, 6]. Tổ chức FHO - Facing History and Ourselves (Anh) gọi Bể cá là một chiến lược dạy học. Họ đã thu hút được 150 thành viên từ các nước tiên tiến cùng tham gia. Bài báo này sẽ sử dụng tiến trình thực hiện chiến lược Bể cá theo FHO [7]. Ví dụ vận dụng phương pháp bể cá. Hai mục đầu tiên của “Bài 4. Bài toán và thuật toán” cung cấp khái niệm bài toán, cách xác định bài toán và thuật toán. Bảng 1 dưới đây là một ví dụ phần soạn giảng mục thứ nhất của bài học, trong đó việc tổ chức dạy học được thực hiện theo phương pháp Bể cá. 157
  3. Nguyễn Chí Trung, Hồ Cẩm Hà Bảng 1. Minh họa phương pháp bể cá Nội dung Hoạt động của GV và HS Hoạt động 1: Tìm hiểu khái niệm bài toán và xác định bài toán (18 phút) 1. Khái niệm bài toán Thiết lập bể cá Phiếu học tập 1 1) Chia lớp thành 3 nhóm: I, II, III. 1) Khái niệm bài toán? Chọn nhóm I là bể cá và chuyển lên vị 2) Xác định bài toán là gì? Cho ví dụ khác với trí trước lớp. Ba nhóm còn lại làm khán SGK. giả quan sát bể cá. 3) Hãy phát biểu lại (đề bài) ba bài toán trong 2) GV phát phiếu học tập cho cả lớp. ví dụ 3 và 4, SGK, trang 32. Cả lớp quan sát bể cá làm việc: Đọc 4*) Một bài toán cho như thế nào thì không giải SGK và trả lời các câu hỏi trong phiếu quyết được? Cho ví dụ. học tập. 5*) Những việc nào sau đây không được xem là 3) Công bố Tư liệu làm việc: Mục 1, bài toán trong tin học? Những việc nào là bài SGK trang 32. toán trong tin học nhưng không được xem là bài 4) Bể cá làm việc sau 13 phút phải có toán trong toán học? kết quả trả lời các câu hỏi. A. In lên màn hình một dòng chữ chuyển động. Luật tương trợ: Một bạn bên ngoài B. Đếm số lượng các số lẻ trong một dãy số. bể cá nếu trả lời được câu hỏi mà bể cá C. Tập lái xe ô tô trên hiện trường. đang khó khăn, có thể xin bổ sung vào D. Giải phương trình bậc nhất ax + b = 0. bể cá hoặc đổi chỗ với một thành viên E. Múa và hát một bài hát trên sân khấu. của bể cá. Trả lời Can thiệp của GV 1) Trong phạm vi tin học, Bài toán là một việc nào 1) Cho ví dụ bên ngoài nhưng tương tự đó ta muốn máy tính thực hiện. như ví dụ 1 của SGK và phát biểu lại 2) Xác định bài toán là xác định Input (những thông bài toán. Từ đó có thể gợi ý trả lời câu tin đưa vào máy tính) và Output (những thông tin hỏi 4. cần lấy ra từ máy tính). Ví dụ: Để tính diện tích của 2) Giảng thêm: Bài toán ở đây là một một sân vận động hình chữ nhật: Input là hai kích việc nào đó cần phải giải quyết. Nó thước của sân. Output là diện tích hình chữ nhật. không chỉ là bài toán ở góc độ của toán 3) Ví dụ 3: Cho trước một số nguyên dương N, hãy học đơn thuần: như giải một phương cho biết N có phải là số nguyên tố hay không? trình, tính giá trị một biểu thức... - Ví dụ 4: Cho bảng điểm của HS trong lớp, trong 3) Trong trường hợp bế cá làm việc tồi, đó có cột điểm trung bình (ĐTB) các môn. Hãy xếp GV sẽ tham gia vào bể cá để gợi mở, loại học lực của các HS theo qui định sau: Học lực dẫn dắt nhóm làm việc. Trong trường là Khá giỏi (nếu ĐTB ≥ 7); là Trung bình (nếu 5 ≤ hợp bể cá làm việc rất tốt, GV sẽ đề ĐTB < 7); là Yếu kém (nếu ĐTB < 5). nghị khán giả cho thêm câu hỏi. 4) Một bài toán cho thiếu điều kiện để giải thì không Thời gian: 18 phút giải quyết được. Ví dụ: Hãy tính diện tích một hình - Chuẩn bị: 2 phút. thang biết độ dài hai cạnh đáy là 5 và 12 cm. - Bể cá suy nghĩ thảo luận. 5) C và E không phải là bài toán trong tin học; A - Báo cáo kết quả 13 phút. không phải là bài toán trong toán học. - GV xác nhận tổng kết: 3 phút. 2.2. Phương pháp trò chơi Chúng tôi đề xuất hai trò chơi: Chúng ta là máy tính và Đi tìm thuật toán [1]. Trong loại trò chơi Chúng ta là máy tính, HS được đóng vai các biến điều 158
  4. Vận dụng các phương pháp dạy học tích cực trong soạn giảng... khiển trong thuật toán. Quy tắc của trò chơi là cho HS thực hiện các thao tác lên Input của bài toán đúng như ý tưởng của thuật toán cần diễn tả. Khi trò chơi kết thúc, kết quả của dữ liệu sau một loạt các tác động của người chơi chính là Output của bài toán. Dữ liệu Output được xem là một sự khám phá của người chơi và đôi khi gây cho chính người chơi sự ngạc nhiên và thích thú. Qua việc tham gia trò chơi hoặc quan sát người chơi, HS có thể hiểu được hoạt động thuật toán một cách trực quan. Loại trò chơi Đi tìm thuật toán có dạng là một dãy câu đố trí tuệ. Các câu đố này gợi ra cho người chơi một dãy các dự đoán cảm tính (heuristic). Nhưng chính các dự đoán đó lại dẫn dắt người chơi rút ra được câu trả lời tối ưu nhất, khám phá ra thuật toán. Trong trò chơi này, tư duy thuật toán cũng như các năng lực trí tuệ chung của HS được kích thích phát huy tối đa. Ví dụ vận dụng phương pháp trò chơi Chúng ta là máy tính. Có thể cho HS tiếp cận các thuật toán Tìm giá trị lớn nhất của dãy số và Tìm kiếm tuần tự thông qua loại trò chơi Chúng ta là máy tính. Bảng 2 dưới đây minh họa phần soạn giảng nội dung thuật toán Tìm giá trị lớn nhất của dãy số bằng cách tổ chức cho HS chơi trò chơi Lật bảng ghi số lớn. Bảng 2. Minh họa phương pháp trò chơi Nội dung Hoạt động của GV và HS Hoạt động 3: Tìm hiểu thuật toán tìm giá trị lớn nhất trong dãy A các số a1 , a2 , ..., an (20 phút) Trò chơi “Lật bảng ghi số lớn” GV tổ chức dạy nội dung này như sau: Mô tả trò chơi: Có dãy chín tấm Bước 1: Cho HS chơi trò chơi. bảng con a1 , a2 , ..., a9 mỗi bảng có 1) Mô tả trò chơi Lật bảng ghi số lớn ghi sẵn một số nguyên gọi là giá trị và luật chơi. của bảng. Ban đầu chín bảng này đang 2) Treo úp 9 tấm bảng. Gọi hai HS lên được úp xuống. Còn một tấm bảng bảng: khác kí hiệu là M. - HS A làm nhiệm vụ lật từng tấm bảng Luật chơi: Tiến hành lật từng tấm từ trái sang phải. Mỗi khi lật một tấm, bảng từ trái sang phải theo hai luật HS A phải nói to cho cả lớp biết đó là sau: tấm bảng thứ mấy, có giá trị bằng bao Luật α: Nếu đó là bảng a1 đầu tiên, nhiêu. ghi giá trị của bảng a1 vào bảng M. - HS B cầm một tấm bảng khác màu, Luật β: Nếu đó là bảng ai thứ hai trở gọi là bảng M. HS B này làm nhiệm đi (i ≥ 2) và nếu giá trị của nó lớn vụ sau: Nếu HS A nói đó là tấm bảng hơn giá trị ở bảng M thì xóa giá trị 1, thì HS B ghi giá trị của bảng 1 vào của bảng M bảng M, đồng 159
  5. Nguyễn Chí Trung, Hồ Cẩm Hà và thay bởi giá trị của tấm bảng ai đó. thời nói to cho cả lớp biết là “ghi xx Nhận xét: Khi trò chơi kết thúc thì vào M ” (xx là giá trị của bảng 1). Nếu giá trị của bảng M là giá trị lớn nhất số thứ tự của tấm bảng mà HS A nói trong dãy giá trị của chín tấm bảng. không phải là tấm bảng đầu tiên, và Ví dụ 6: Thuật toán tìm giá trị lớn hơn nữa, giá trị yy của bảng này lớn nhất trong dãy A các số a1 , a2 , ..., an hơn giá trị xx hiện có của bảng M thì cho trước. HS B xóa xx và ghi yy vào M, đồng thời INPUT: Dãy A các số a1 , a2 , ..., an nói to “yy lớn hơn xx, xóa xx, ghi yy”. OUTPUT: Giá trị MAX = max{a1 , Bước 2: Nhận xét về kết quả thu a2 , ..., an } được từ trò chơi. Ý tưởng thuật toán: Giống ý tưởng GV hỏi “Giá trị của bảng M như thế của trò chơi “Lật bảng ghi số lớn”. Biến nào sau khi trò chơi kết thúc? Tại sao?” MAX có vai trò như bảng M. Ban Bước 3. Phát biểu ví dụ 6, SGK. đầu MAX ← a1 tương tự luật α. Nếu GV gợi ý thuật toán giải quyết bài toán MAX < ai (i ≥ 2) thì MAX được gán Tìm số lớn nhất trong dãy số giống như bằng ai , điều này tương tự như luật β. hai luật chơi trong trò chơi Lật bảng ghi Thuật toán: số lớn, rồi đề nghị HS đưa ra ý tưởng Bước 1: Nhập N và dãy a1 , a2 , ..., an ; chung của thuật toán. Bước 2: MAX ← a1 ; i ← 1; HS được yêu cầu lên bảng điền vào Bước 3: i ← i + 1; bảng mô phỏng (có dạng như SGK, tr. Bước 4: Nếu i > N, chuyển đến bước 42). GV xây dựng thuật toán (hoặc dẫn 6; dắt HS viết thuật toán). Bước 5: Nếu ai > MAX thì MAX ← HS được yêu cầu mô tả lại từng bước ai ; Quay lại bước 2; của thuật toán và thầy (cô) vừa trình Bước 6: Kết thúc thuật toán. bày. 2.3. Phương pháp dạy học bằng truy vấn (Inquery based learn- ing in teaching) Marsha Lakes định nghĩa truy vấn là để hỏi về một thứ gì đó, hoặc là tìm kiếm hay điều tra về một thứ nào đó. Bản chất của dạy học dựa trên truy vấn dựa trên định nghĩa này. Dạy học dựa trên truy vấn là một phương pháp tổ chức dạy học mà ở đó người học đóng vai trò là nhà điều tra (in the role of the investigator) theo một cách xác định (ví dụ thực hiện theo bản hướng dẫn chi tiết trong sách thực hành (cookbook) ở phòng thí nghiệm). Người học đề xuất câu hỏi (asks questions) và tổ chức, sắp xếp các việc điều tra (structures investigations) để trả lời những câu hỏi đó. Người học phải đối diện với những tìm kiếm mơ hồ (confront ambiguous findings) hoặc những tìm kiếm để bác bỏ các giả thuyết và phải đưa ra các phản biện cho chính bản thân 160
  6. Vận dụng các phương pháp dạy học tích cực trong soạn giảng... mình [8]. Từ năm 1996, theo chuẩn giáo dục khoa học quốc gia của Mĩ (U.S National Science Education Standards - NSES), dạy truy vấn là một tiêu chuẩn đánh giá tốt trong dạy học [9]. Trên thực tế, đối tượng người học là HS không thể luôn tự truy vấn. Vì thế, Frank X. Sutman đã chia ra thành 5 cấp độ truy vấn. Cấp độ truy vấn càng cao thì GV càng ít can thiệp vào quá trình truy vấn của HS [10]. Bài báo này đề xuất hai kiểu truy vấn sau đây: Phương pháp truy vấn thụ động: GV đặt ra một hệ thống câu hỏi cho từng nội dung nhỏ trong bài học để dẫn dắt HS lĩnh hội kiến thức tương ứng. Cách đặt câu hỏi dựa theo Marsha [8] gồm 5 loại: Câu hỏi dựa vào thực tế (Factual), câu hỏi tái hiện (Reappear), câu hỏi quy nạp (Convergent), câu hỏi diễn dịch (Divergent) và câu hỏi đánh giá (Evaluative). Phương pháp này thuộc cấp độ 1 của truy vấn. Phương pháp tự học dựa trên truy vấn: Để gây hứng thú và kích thích tính tự học của HS, GV sẽ chia lớp học thành hai nhóm và cùng đọc một nội dung học tập nào đó được cho sẵn trong phiếu học tập. Mỗi nhóm sau khi thảo luận phải đưa ra một số câu hỏi cho nhóm kia về nội dung học tập vừa tìm hiểu. Cách đặt câu hỏi của các nhóm được GV gợi ý bằng một trong hai cách: Giới hạn phạm vi vấn đề cần hỏi và Gợi ý mẫu hỏi. Cách thứ hai này thể hiện một kiểu dạy truy vấn. Phương pháp này thuộc các cấp độ cao hơn cấp độ 1, tùy theo mức độ hoạt động độc lập của HS mà cấp độ truy vấn có thể cao hay thấp nhưng không đạt đến cấp độ cao nhất của truy vấn (cấp độ 5 - HS độc lập tự truy vấn để khám phá kiến thức). Ví dụ vận dụng phương pháp dạy học bằng truy vấn. Để HS nắm được các thuật toán Kiểm tra tính chất nguyên tố của một số dương và Sắp xếp bằng tráo đổi, việc tổ chức dạy học cần chia thành các hoạt động thành phần tương ứng với từng nội dung nhỏ. Mỗi hoạt động được tiến hành bằng một phương pháp dạy học thích hợp. Ba nội dung đầu tiên: Xác định bài toán, nêu ý tưởng thuật toán và diễn tả thuật toán bằng cách liệt kê nên sử dụng phương pháp truy vấn thụ động. Bảng 3 dưới đây minh họa một cách soạn giảng ba nội dung trên. Nội dung thứ tư: diễn tả thuật toán bằng sơ đồ khối thường gây cho HS cảm giác phức tạp và khó hiểu. Do đó, việc tổ chức dạy sơ đồ khối cho các thuật toán trên nên tiến hành theo hai bước sau: Bước 1: GV sử dụng phương pháp làm mịn để giúp HS dễ dàng hiểu được sơ đồ khối cũng như hoạt động của thuật toán thể hiện qua sơ đồ đó [2]. Bước 2: GV triển khai phương pháp tự học dựa trên truy vấn. Chọn trong lớp hai đội, yêu cầu mỗi đội đặt ra cho đội bạn một số câu hỏi về sơ đồ thuật toán vừa xây dựng (thường từ 3 đến 4 câu). GV gợi ý mẫu hỏi HS có thể là: “Nếu không .... thì sao?”. Các câu hỏi này nhằm kiểm tra xem thuật toán còn hoạt động đúng không nếu thay đổi các giá trị khởi tạo ban đầu, điều kiện điều khiển vòng lặp hay thứ tự thực hiện các lệnh. 161
  7. Nguyễn Chí Trung, Hồ Cẩm Hà Ví dụ: Trong thuật toán kiểm tra tính nguyên tố của số nguyên dương N, nếu ta không khởi gán giá trị cho i = 2 mà khởi gán giá trị cho i = 1 thì thuật toán còn đúng không? Bảng 3. Minh họa phương pháp truy vấn thụ động Nội dung Hoạt động của GV và HS Hoạt động 1: Tìm hiểu thuật toán Kiểm tra tính nguyên tố của một số dương. (20 phút) Ví dụ 1: Kiểm tra tính nguyên tố GV tổ chức dạy nội dung này bằng phương của một số dương. pháp truy vấn thụ động như sau: Phiếu học tập số 4. 1) Phát phiếu học tập số 4 cho HS. Các chỗ 1) Xác định bài toán. gạch chân là chỗ trống của phiếu học tập mà - INPUT: N là số nguyên dương. HS phải tự điền. - OUTPUT: “N là số nguyên tố” hoặc 2) Hệ thống câu hỏi cho hai mục đầu tiên “N không là số nguyên tố”. của phiếu học tập: 2.1. Input và Output của bài toán là gì? 2) Ý tưởng: 2.2. Một số nguyên dương N là một số - Nếu N = 1 thì N không là số nguyên nguyên tố nếu nó thỏa mãn tính chất gì? tố (NT). 2.3. Hãy biện luận tính nguyên tố của số - Nếu 1 < N < 4 thì N là số NT. nguyên N theo 3 khả năng sau: a) N = 1; - Nếu N ≥ 4 và không j√ cók ước số trong b) 1 < N N thì làm bước là nhận giá trị từ d đến c” được diễn tả bằng 8; ba bước theo cách liệt kê như thế nào? Bước 6: Nếu N chia hết cho i thì làm 4.3. Câu nói “Lần lượt cho biến i nhận các bước 9; giá trị có thể là ước thực thực sự của N, tức Bước 7: i ← i + 1, quay lại bước 5; là nhận giá trị từ d đến c. Với mỗi i, kiểm Bước 8: Thông báo N là NT và làm tra xem nó có là ước của N hay không” được bước 10; diễn tả bằng ba bước theo cách liệt kê như Bước 9: Thông báo N không là NT và thế nào? làm bước 10; 5) Yêu cầu HS điền vào chỗ trống trong mục Bước 10: Kết thúc thuật toán. 3 của phiếu học tập số 4. 162
  8. Vận dụng các phương pháp dạy học tích cực trong soạn giảng... 2.4. Phương pháp dạy học hợp tác kiểu Jigsaw Elliot Aronson là người sáng tạo ra Lớp học Jigsaw (Lớp học ghép hình) từ năm 1971 để giải quyết vấn đề căng thẳng sắc tộc. Mô hình này đã đạt được thành công kỉ lục vì được sử dụng rất hiệu quả trong lĩnh vực giáo dục cho đến ngày nay [11]. Cùng với Patnoe, Aronson đã giải thích về bản chất của lớp học Jigsaw như sau: “Cũng như trong một trò chơi ghép hình, mỗi mảnh tương ứng với mỗi HS (hoặc nhóm HS) là một phần quan trọng của hình. Mỗi một mảnh ghép có vai trò không thể thiếu vì khi hoàn thành xong các mảnh, ta mới thu được một sản phẩm cuối hoàn chỉnh và có ý nghĩa. Tương tự thế, mỗi HS (hoặc nhóm HS) phải làm việc với một nội dung học tập nhỏ, và sẽ có vai trò quan trọng để ghép các nội dung với nhau (hợp tác), để cuối cùng tạo thành một nội dung kiến thức hoàn chỉnh mà cả lớp phải thu nhận” [12]. Như vậy lớp học Jigsaw là một cách tổ chức dạy học hợp tác. Bài báo này đề xuất một mô hình cho lớp học Jigsaw như Hình 1. Hình 1. Mô hình lớp học Jigsaw Tại bước 1, GV chia lớp thành hai nhóm gọi là hai đơn vị và chỉ định cho mỗi đơn vị một trưởng đơn vị. Mỗi đơn vị lại được chia thành hai nhóm con, gọi là hai nhóm chuyên gia, mỗi nhóm chuyên gia cũng có một chuyên gia trưởng. GV đã chuẩn bị sẵn hai đề tài cho các nhóm chuyên gia làm việc, giả sử kí kiệu là A và B. Trước khi chuyển sang bước 2, GV sẽ phát cho mỗi đơn vị hai đề tài này. Đề tài A sẽ do nhóm chuyên gia I (của đơn vị 1 và 2) thực hiện. Đề tài B sẽ do nhóm chuyên gia II (của đơn vị 1 và 2) làm việc. Tại bước 2, GV cho các nhóm chuyên gia I tập hợp lại với nhau để cùng thực hiện đề tài A; các nhóm chuyên gia II tập hợp lại với nhau để làm đề tài B. Tại bước 3, các nhóm chuyên gia I và II trở về đơn vị mình 163
  9. Nguyễn Chí Trung, Hồ Cẩm Hà để báo cáo kết quả đã làm việc ở bước 2. Lúc này mỗi đơn vị sẽ nhận được kết quả làm việc của hai đề tài A và B và ở đó cũng có một phần kết quả của đơn vị bạn. Khả năng trình bầy, nghe hiểu và tổng hợp thông tin của HS được rèn luyện tối đa theo ba bước làm việc nói trên. Ví dụ vận dụng phương pháp dạy học hợp tác kiểu Jigsaw. Nếu như đã nắm vững được bốn thuật toán trước đó thì HS sẽ không còn cảm thấy mới lạ và khó khăn khi tìm hiểu thêm một thuật toán cơ bản nữa. Vì thế GV có thể phát huy tối đa tính tích cực tự giác của HS bằng cách tổ chức một lớp học Jigsaw để tìm hiểu về thuật toán Tìm kiếm nhị phân. Theo mô hình lớp học Jigsaw (Hình 1), GV cần chuẩn bị trước hai nội dung và hướng dẫn học tập cho hai đơn vị trong lớp. Bảng 4 dưới đây chỉ trình bày phần nội dung. Việc soạn giảng sẽ dễ dàng thiết kế từ mô hình lớp học Jigsaw và các nội dung từ hướng dẫn đã chuẩn bị nên phần minh họa soạn giảng sẽ không trình bày chi tiết ở đây. Bảng 4. Minh họa các nội dung dành cho các đơn vị trong lớp học Jigsaw Nội dung 1 Nội dung 2 Tìm hiểu thuật toán “Tìm kiếm nhị phân” trong SGK trang 42, 43, 44 1) Tìm Input và Output của bài toán và 1) Tìm Input và Output của bài toán và phát biểu ý tưởng thuật toán. phát biểu ý tưởng thuật toán. 2) Trình bày thuật toán bằng cách liệt kê 2) Trình bày thuật toán bằng sơ đồ khối và mô phỏng lại thuật toán bằng một dãy và mô phỏng lại thuật toán bằng một dãy số khác với dãy số trong SGK trang 44. số khác với dãy số trong SGK trang 44. 3) Sau mỗi vòng lặp trong thuật toán, dãy 3) Tách một khối gồm 2 lệnh: Dau ← 1; cần tìm kiếm có độ dài giảm đi bao nhiêu Cuoi ← N thành hai khối (mỗi khối một lần so với dãy ban đầu? lệnh) thì có được không? 4) Nếu điều kiện agiua > k ở bước 5 sửa 4) Nếu muốn đổi vị trí hai khối tương ứng thành agiua < k thì cần điều chỉnh lại với hai lệnh Cuoi ← Giua - 1 và Dau ← thuật toán ở những chỗ nào để thuật toán Giua + 1 thì cần điều chỉnh lại chỗ nào vẫn đúng. trong sơ đồ khối thuật toán? 5) Tại sao ở bước 7 nếu điều kiện Dau > 5) Vòng lặp trong sơ đồ khối thực hiện với Cuoi đúng thì kết luận không có số hạng số lần nhiều nhất trường hợp nào và cụ nào dãy A có giá trị bằng k ? thể bao nhiêu lần? 3. Kết luận Việc soạn giảng với tinh thần vận dụng các phương pháp dạy học nhỏ và tích cực đã được đưa ra trong các sách hướng dẫn theo chuẩn kiến thức kĩ năng của chương trình tin học lớp 7 và lớp 8 trung học cơ sở (của ĐHSP Hà Nội) và nhận được sự đồng tình của các nhà khoa học có kinh nghiệm, đã từng tham gia xây dựng 164
  10. Vận dụng các phương pháp dạy học tích cực trong soạn giảng... chương trình và SGK tin học phổ thông. Trong các buổi thảo luận về bài soạn mẫu Tin học 10, nhiều giáo viên đứng lớp của tỉnh Hải Dương cũng tỏ ý hưởng ứng và muốn vận dụng các kỹ thuật dạy học nói trên trong soạn giảng. Việc vận dụng các phương pháp dạy học tích cực cần tính đến điều kiện và trình độ của HS. Các phương pháp đòi hỏi tính tích cực của HS tăng dần theo thứ tự sau: Trò chơi chúng ta là máy tính, Truy vấn thụ động, Bể cá, Tự học bằng truy vấn và Lớp học Jigsaw. Với những lớp ít HS khá thì chỉ nên sử dụng hai phương pháp đầu. Còn với những lớp có nhiều HS khá thì nên tận dụng ba phương pháp cuối. Ngoài ra, căn cứ vào ý đồ triển khai các phương pháp dạy học mà ta cần phân chia thời gian vào các tiết một cách hợp lí. Nếu vận dụng các phương pháp dạy học đúng như đề xuất trên đây thì tiến trình dạy học có thể thiết kế như sau: Tiết 1: Dạy hết mục “1. Khái niệm bài toán” (PPDH: Bể cá); Dạy gần hết mục “2. Khái niệm thuật toán” (PPDH: Bể cá). Ví dụ “Tìm giá trị lớn nhất của một dãy số nguyên” (PPDH: Trò chơi lật bảng ghi số lớn). Tiết 2: Dạy một số tính chất chính của thuật toán (từ ví dụ 1 của bài trước) để chỉ ra tính dừng, tính xác định, tính đúng đắn của thuật toán (PPDH: Truy vấn thụ động); Dạy phần đầu mục “3. Một số ví dụ về thuật toán” và chỉ hoàn chỉnh Ví dụ 1. thuật toán “Kiểm tra tính chất nguyên tố của một số nguyên dương” (PPDH: Truy vấn thụ động, Làm mịn từ ngoài vào, và Tự học nhờ truy vấn). Tiết 3: Dạy tiếp phần giữa của mục “3. Một số ví dụ về thuật toán” và chỉ hoàn chỉnh Ví dụ 2: Giải bài toán sắp xếp bằng thuật toán “Sắp xếp bằng tráo đổi” (PPDH: Truy vấn thụ động, Làm mịn từ trong ra, và Tự học nhờ truy vấn). Tiết 4: Dạy tiếp một nửa phần cuối mục “3. Một số ví dụ về thuật toán” để giảng về bài toán tìm kiếm và chỉ hoàn chỉnh Ví dụ 3: Thuật toán tìm kiếm tuần tự (PPDH: Trò chơi lật bảng ghi số lớn). Tiết 5: Dạy phần còn lại của mục “3. Một số ví dụ về thuật toán” để hoàn chỉnh Thuật toán tìm kiếm nhị phân (PPDH: Trò chơi “Đi tìm thuật toán” hoặc Lớp học Jigsaw). Tiết 6 (tiết bài tập): Chữa bài tập SGK (PPDH: Bể cá); Hệ thống câu hỏi và bài tập củng cố GV ra thêm (PPDH: Lớp học Jigsaw). REFERENCES [1] Lê Khắc Thành, Nguyễn Chí Trung, (2010). Chuyên đề bồi dưỡng giáo viên THPT. Dự án phát triển giáo viên THPT, ĐH Ngoại Ngữ- ĐHQG Hà Nội. [2] Nguyễn Chí Trung, Hồ Cẩm Hà, (2010). Truyền tải kiến thức tới người học bằng phương pháp “làm mịn dần”. Journal of science of HNUE; Vol. 55, No .4, pp 38-48, 2010. 165
  11. Nguyễn Chí Trung, Hồ Cẩm Hà [3] Kelly Jo Rowan. Glossary of Instructional Strategies. Available at website: http://www.beesburg.com/edtools/. [4] Carl R. Rogers. Additional Techniques for Small Group Training. U.S. humanistic psychologist, founder of client-centered or nondirective counseling/therapy. [5] Maggie Ford, B. Ed., M. Ed. & Joanne Hamilton, B. Hum Ec. RD, CDE, (1999). Small Group Learning A Strategy for Learning. A module of Teaching Improve- ment Programs, Faculty of Medicine, University of Manitoba. [6] Markus B¨ohner, (2007). Student-Centered Teaching Method 3: Fishbowl. Interna- tional Cooperation Project In Training. Available at website: http://studsem.rp.lo- net2.de/boehner/.ws_gen/8/. [7] Classroom Strategies, “Fishbowl”, Facing History and Ourselves. All rights reserved, Helping classroom and communities world- wide link the past to moral choices today. Available at website: http://www.facinghistory.org/resources/strategies/fishbowl. [8] Marsha Lakes Matyas. Teaching and Learning by Inquiry. The American Physi- ological Society Bethesda, MD, Wester Univeristy. [9] William F. Mc Comas. Enhancing the Education of Scientifically Gifted Students with Inquirry Instruction. USC Summer Institute for Teacher of Gifted, University of Southern California, Rossier School of Education, 1001 Waite Philips Hall, Los Angeles, CA 90089-4031. [10] Sutman, Frank, J.S. Schmuckler, et al, (2006). Science Quest: A Textbook for Promoting and Enhancing Student Inquiry and Discovery Learning. James-Boss Publication, Wiley Publications, San Francisco. In press. [11] Robert E. Slavin, (1995). Research on Cooperative Learning and Achievement: What We Know, What We Need to Know. Center for Research on the Education of Students Placed at Risk, Johns Hopkins University. [12] Aronson, E., & Patnoe, S. (1997). The jigsaw classroom: Building cooperation in the classroom, (2nd ed.). New York: Addison Wesley Longman. ABSTRACT Apply active teaching methods in design lession plans for the IT algorithm teaching in the grade 10 level This paper propose the way of applying teaching methods to active pupils in lesson plans for the IT algorithms teaching in the grade10 level in Vietnamese High schools. This can be seen as the sample lesson plan for preparing teaching where the active teaching and learning activities are used effectively. 166
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2