intTypePromotion=3

văn hóa tộc người nùng: phần 2

Chia sẻ: Ngan Ngan | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:87

0
22
lượt xem
7
download

văn hóa tộc người nùng: phần 2

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

tiếp nối phần 1, phần 2 của cuốn sách gửi đến bạn đọc đặc trưng văn hóa ứng xử trong trong cộng đồng làng bản, dòng họ, gia đình hoặc trong hôn nhân hay một số tập tục quen thuộc: tập tục ma chay và tập tục trong cưới hỏi. bên cạnh đó, cuốn sách còn giới thiệu cho các bạn tín ngưỡng - tôn giáo, văn học nghệ thuật dân gan,... trong văn hóa tâm linh của tộc người nùng. mời các bạn cùng tham khảo.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: văn hóa tộc người nùng: phần 2

VĂN HÓA ỨNG XỬ<br /> CỘNG ĐỔNG LÀNG BẨN<br /> Dân tộc Nùng đã định cư thành làng bản từ<br /> lâu đồi. Làng bản thường được lập trên những<br /> dải đất chạy quanh chân đồi, chân núi, ven sông<br /> suô"i hay trên những gò đất thấp..., dựa lưng vào<br /> đồi - núi, phía trước là bồn địa đã được khai phá<br /> thành đồng ruộng.<br /> Mỗi bản đều có một tên gọi riêng. Tên bản<br /> thường được bắt đầu bằng các tiền tô; "Bản " làng<br /> xóm như Bản Bon, Bản Mạ, Bản Bó, Bản Slẳng...;<br /> "Nà" (ruộng) như Nà Chang, Nà Áng, Nà Cáp...;<br /> "Khuôi" (suối) như Khuổi Bôc, Khuổi Hiến, Khuổi<br /> Hoi, Khuổi Chang...; "Lủng" (thung lũng) như<br /> Lủng Cát, Lủng vải, Lủng cầu...; "Bó" (giếng<br /> nước) như Bó Báng, Bó Lếch...; "Cốc" (gôh cây)<br /> như Cốc Lùng, Côc Chia, Cốc Lếu, Cốc Mười...<br /> Những tên gọi này là tên Nôm của các tộc người<br /> Nùng, Tày và chỉ qua tiếng Nùng, Tày mới hiểu<br /> được ý nghĩa của nó.<br /> Xưa kia, để đề phòng trộm cướp, thú dữ từ<br /> ngoài xâm nhập vào mà cũng để ngăn giữ gia súc,<br /> gia cầm từ trong bản ra phá hoại mùa màng và hoa<br /> 64<br /> <br /> màu - nên xung quanh bản thường được bao bọc<br /> một lớp rào bằng tre, nứa, gỗ... khá chắc chắn.<br /> Nhà cửa trong bản không xây cất theo hàng lôl<br /> mà theo thế đất một cách tùy tiện. Nhưng các nhà<br /> lại thường được xếp theo một chiều và đều hướng<br /> ra khoảng không phong quang trước mặt.<br /> Sô" hộ và số nhân khẩu trong mỗi bản nhiều<br /> hay ít có sự khác nhau. Nơi đất rộng, địa hình bằng<br /> phang, có những bồn địa lớn hay những nơi gần thị<br /> trấn, chợ búa thì số hộ đông hơn và ngược lại. Mỗi<br /> bản trước đây thường trung bình có 15-20 nóc nhà,<br /> nhưng cũng có bản tới 50-60 nóc nhà. Và đôi khi<br /> một địa điểm chỉ hiện hữu vài gia đình cư trú cũng<br /> vẫn được coi là một bản.<br /> Các bản của người Nùng trước đây thường chỉ<br /> thuần túy có một tộc người cư trú, nhiều bản chỉ<br /> riêng một nhóm Nùng quần tụ. v ề sau, do sự phát<br /> triển của dân số trong vùng và do có sự chuyển cư<br /> của các tộc người khác đến, nên đã rất nhiều bản có<br /> tới 2-3 thành phần tộc người cùng sinh sông. Trong<br /> đó phổ biến nhất là tộc người Nùng và Tày cùng cư<br /> trú trong một bản hoặc trong những làng bản xen<br /> cài nhau, làm cho hai tộc người này xích lại gần<br /> nhau, đưa đến quá trình cô" kết tộc người diễn ra<br /> mạnh mẽ.<br /> Với tính chất của một bản làng truyền thông,<br /> bản của ngưòi Nùng là một cộng đồng về mặt xã<br /> hội, người ta gắn bó với nhau về tinh thần và văn<br /> hóa chung (thông qua lễ hội, các hoạt động tôn<br /> giáo...), đùm bọc nhau, chia sẻ với nhau trong việc<br /> 65<br /> <br /> gìn giữ an ninh, chông trộm cướp; và bản cũng là<br /> một đơn vị hành chính cơ sở trong hệ thông chính<br /> quyền Nhà nước.<br /> Trước đây, trong xã hội cổ truyền, mỗi bản đều<br /> có một khu rừng cấm ("đông slấn") thuộc sự quản<br /> lý chung của làng bản. Tại đấy, người ta lập một<br /> miếu thò thổ địa. Miếu thò được dựng rất đơn sơ<br /> gồm một ngôi nhà nhỏ bằng gỗ, lợp ngói lòng máng,<br /> trong đặt một bàn thò bằng ván gỗ, trên có một bát<br /> hương. "Đông slấn" là chỗ dựa cho "linh hồn" toàn<br /> bản, là nơi bất khả xâm phạm, không ai được chặt<br /> phá cây cối quanh đó. Nếu ai vi phạm, chang may<br /> dân bản có người ôm đau, gia súc - gia cầm toi<br /> dịch, cuộc sông bất an, phải mòi thầy mo về cúng<br /> giải hạn thì gia đình đó phải chịu toàn bộ phí tổn<br /> cho lễ cúng.<br /> Những quy ước này không những được nhắc<br /> nhở chung trong toàn bản mà còn được nhắc đến<br /> trong các lễ cúng thổ thần hàng năm. 0 đây, ngoài<br /> những yếu tố duy linh huyền hoặc còn có yếu tô"<br /> thực tiễn là bảo vệ một khu vực sinh thái trong<br /> vùng, duy trì những khu rừng nhỏ dưói dạng "ốc<br /> đảo xanh" nhằm góp phần điều hòa khí hậu tiểu<br /> vùng cư trú và canh tác.<br /> Cho đến nay, ỏ nhiều làng bản tộc người Nùng<br /> thuộc một số huyện vùng cao của tỉnh Hà Giang và<br /> các huyện Bảo Lạc, Bảo Lâm... của Cao Bằng,<br /> người ta tổ chức cúng Sơn thần - Thổ địa ở rừng<br /> cấm vào ngày 30 tháng Giêng âm lịch hàng nám.<br /> Người ta quy ước các gia đình không được chặt phá<br /> 66<br /> <br /> và đốt rừng ở những nơi gần nguồn nước - những<br /> khu rừng được cho là thiêng liêng, nơi ở của các<br /> thần linh - với lý do tôn giáo, nhưng thực chất là<br /> biểu hiện ứng xử của con người nhằm bảo vệ môi<br /> trường sông của mình. Việc ngăn ngừa vi phạm vào<br /> các khu rừng cấm không chỉ dân bản sở tại tuân<br /> theo mà các bản khác, tộc người khác cùng cư trú<br /> trên một địa bàn cũng phải tôn trọng.<br /> Quan hệ của các thành viên trong cộng đồng<br /> làng bản là tương thân tương ái. Trong bản rất ít<br /> khi có sự cãi cọ, xô xát lẫn nhau. Mọi người đều có<br /> thái độ tôn trọng nhau. Người già cả, thế hệ trên<br /> nhường nhịn người ít tuổi, thế hệ dưới. Ngược lại<br /> người ít tuổi, thế hệ dưới luôn tôn kính người già,<br /> thế hệ trên. Khi gặp trên đường đi, họ luôn tránh<br /> ra phía dưói đường để nhường bước cho người già.<br /> Khi ngồi ăn cùng mâm, khi chúc rưỢu, người ít tuổi<br /> ít khi cụng chén với người lớn tuổi hơn. Nếu phải<br /> cụng chén (bị động), cũng không bao giờ cụng chén<br /> ngang bằng hoặc cao hơn chén của người lớn tuổi<br /> hơn mình.<br /> Trong cuộc sông, người cùng bản giúp đỡ nhau,<br /> trong sản xuất có tập quán "vàng slèng", "vàng nà"<br /> nghĩa là vào mùa màng bận rộn họ đổi công cho<br /> nhau: chuyển phân ra ruộng, giúp nhau cày bừa,<br /> cấy gặt... lần lượt từ gia đình nọ tối gia đình kia.<br /> Nhò đó, nhiều khâu sản xuất được hoàn thành<br /> nhanh gọn và có hiệu quả. Mỗi khi một gia đình<br /> nào đó có đám cưới, người cùng bản đến giúp đỡ:<br /> dựng rạp, làm cỗ bàn, tiếp khách và đến dự lễ đông<br /> 67<br /> <br /> đủ. Trong ma chay có "phường phe" giúp đỡ, lo liệu<br /> mọi việc: làm cơm nước, làm nhà táng, khiêng quan<br /> tài ra mộ và chôn cất..., sự giúp đỡ nhau là vô tư,<br /> tận tình.<br /> DÒNG HỌ<br /> Người Nùng luôn yêu quý những người cùng<br /> họ, ngạn ngữ có câu "Tồng slinh, slam phân săn"<br /> (Cùng họ là thân thuộc đến ba phần mười) vì đồng<br /> bào cho rằng cùng một họ là nguyên trước đây cùng<br /> một gốc mà ra, tức cùng anh em bà con với nhau.<br /> Trước đây, trong hôn nhân, người cùng họ lấy nhau<br /> cũng rất ít.<br /> Tinh thần gia tộc - cùng một dòng họ vẫn rất<br /> mạnh mẽ trong đồng bào Nùng. Đồng bào có câu:<br /> "Dòng nước ở nguồn chảy không bao giờ đứt quãng,<br /> người trong một họ dù đi đến chín mười phương<br /> vẫn không rời nhau đưỢc". Nhiều làng bản người<br /> Nùng bao gồm những thành viên cùng một dòng họ<br /> nên trong làng bản đều là những bà con họ hàng<br /> với nhau, gần gũi tôi lửa tắt đèn có nhau.<br /> Nguyên tắc của hôn nhân là thành viên cùng<br /> một dòng họ không được kết hôn với nhau, nhưng<br /> trong thực tế nguyên tắc này chỉ được nghiêm<br /> chỉnh chấp hành trong phạm vi tộc hệ 6-7 đòi, từ<br /> đấy về sau có thể lấy nhau được nhưng không được<br /> cộng đồng khuyến khích.<br /> Nhiều dòng họ cho đến nay vẫn giữ được tộc<br /> phả, trong đó có ghi đầy đủ các đòi, nơi họ đã đến,<br /> 68<br /> <br />

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản