intTypePromotion=1
ADSENSE

Văn hóa ứng xử Việt Nam hiện nay: Phần 2

Chia sẻ: ViTsunade2711 ViTsunade2711 | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:236

55
lượt xem
10
download
 
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Nối tiếp phần 1, phần 2 của tài liệu "Văn hóa ứng xử Việt Nam hiện nay" tiếp tục trình bày thực trạng biến đổi văn hóa ứng xử Việt Nam hiện nay, đặc điểm và sự biến đổ, văn hóa ứng xử của cư dân các dân tộc thiểu số, sự tác động của xã hội đến xu hướng biến đổi của văn hóa ứng xử, định hướng, giải pháp điều tiết văn hóa ứng xử trong giai đoạn xây dựng xã hội công nghiệp theo hướng hiện đại. Mời các bạn cùng tham khảo để nắm nội dung chi tiết.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Văn hóa ứng xử Việt Nam hiện nay: Phần 2

  1. N guyên Thanh Tuấn c i i i ĩ o r v c :ỉ Thực trạng biên đôi văn hóa ứng xử Việt Nam hiện nay 1. THỰC TRẠNG BIÊN Đổl CHUNG Một là, thái độ và khuôn mẫu hay lôi ứng xử với môi trường thiên nhiên của ngưòi Việt Nam đã chuyển từ chuẩn mực truyền thống nương nhò và mô phỏng thiên nhiên vói nhịp sống "đều đều" sang chuẩn mực khai thác, biến đổi thiên nhiên vói nhịp sống này ngày một nhanh hơn trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tê thông qua kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Phong cảnh thiên nhiên về cơ bản là phức hợp giao hòa đủ núi rừng, đồng bằng, sông, biển đã góp phần tạo
  2. 7 T)ăn £ó a ứiiỹ x ứ D ìệi OCiai £ ìện naỳ nên phong cách người Việt Nam ung dung, hòa nhã, tuy sông giữa đô thị. Cũng gần giống cU dân nông thôn, cU dân đô thị, nhất là ở ven đô, cho đến đầu thập kỷ 1990, vẫn cơ bản sống hài hòa với thiên nhiên. Sự hài hòa trong ứng xử với thiên nhiên ở người Việt Nam thể hiện qua ba mức độ: - Sốhg nương nhò và thuận theo thiên nhiên, có ý thức hòa đồng với thiên nhiên, thậm chí tôn thờ thiên 'nhiên theo phương châm "đất có thổ công, sông có hà bá". - Cô" gắng tận dụng tối đa và khai thác có giới hạn các nguồn tài nguyên thiên nhiên sẵn có để phục vụ các nhu cầu ăn, mặc, ở, đi lại của con người. - ứ n g phó nhạy bén và phù hỢp vói những thay đổi của các điều kiện thiên nhiên. Ba mức độ ứng xử với thiên nhiên tựu chung đều dựa trên nền tảng triết học sống hài hòa với thiên nhiên trong nền văn hóa Á Đông truyền thống. Triết lý này được xây dựng trên cơ sở kết hỢp nhuần nhuyễn giữa triết lý nhân sinh phương Đông vối môi trường sống đầy chất thiên nhiên. Triết lý hài hòa với thiên nhiên chịu ảnh hưởng sâu sắc của đạo Nho, đạo Phật và đạo Lão. Triết lý đó cơ bản dựa trên hai mảng giá trị; hòa đồng - tôn trọng thiên nhiên; nương nhò - mô phỏng thiên nhiên trong quá trình tận dụng và ứng phó với thiên nhiên. Các giá trị này thể hiện qua một số quan niệm cơ bản sau:
  3. N guyên Thanh Tuấn - Quan niệm Thiên - Địa - Nhân hay Thiên - Nhân hỢp nhất. Theo đó, Trời - Đất là thiên nhiên, là gốc của sự sống con người. Con người sống dựa vào Trời - Đất, chết lại trở về với đất. Do vậy, con người và thiên nhiên là một khối liên thông bền chặt; trong đó con người phải hòa đồng với thiên nhiên, tôn trọng thiên nhiên. Mọi việc nương nhò, mô phỏng, khai thác thiên nhiên đều trong khuôn khổ hòa đồng - tôn trọng thiên nhiên. - "Mưu sự tại Nhân, thành sự tại Thiên" là biểu hiện của triết lý tôn trọng - tôn thờ, nương nhờ, phụ thuộc vào thiên nhiên trong điều kiện thiên nhiên miền nhiệt đới thay đổi thất thường và xã hội còn kém phát triển. - "Nhân định thắng Thiên" biểu hiện tính hòa đồng tích cực của con người với thiên nhiên và khả năng mô phỏng - khai thác thiên nhiên ở con người. Triết lý "Mưu sự tại Nhân, thành sự tại Thiên" hay "Nhân định thắng Thiên" thực ra chỉ có tính bộ phận, phản ánh hai thái cực của triết lý "Thiên - Nhân hỢp nhất". Triết lý "Thiên - Nhân hỢp nhất" cho đến trưóc khi bước vào giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đô thị hóa và hội nhập quốc tế, vẫn còn chi phối văn hóa ứng xử của người Việt Nam. Biểu hiện rõ nét trong văn hóa ứng xử của người Việt Nam, theo triết lý này là tác phong "quần chùng áo dài" với nhịp sông ung dung, tự tại trong 184
  4. X)ăn £ó a ứriỹ x ử U iệi OCam Ề iện na ^ môi giao hòa giữa nhà và vườn cây, giữa phô' có nhiều cây xanh, ao, hồ liên thông vói cánh đồng lúa, rau, hoa của các làng ven đô và nông thôn rộng lốn. Từ giữa thập niên 1990 đến nay, đã diễn ra sự biến đổi khá rõ ràng ván hóa ứng xử của người Việt Nam với môi trường thiên nhiên. Trong điều kiện không gian đô thị và nhiều làng đồng bằng được nâng cao bởi các nhà cao tầng che lấp hàng cây, ao, hồ và các khu đô thị mới, khu công nghiệp dang dần phủ khắp các tỉnh, thành, cách thức giao hòa giữa người Việt Nam với môi trường thiên nhiên đang có sự biến đổi trên nhiều phương diện. Từ chỗ nương nhờ - mô phỏng thiên nhiên với nhịp sốhg "đều đều", người Việt Nam đang đẩy mạnh khai thác và biến đổi thiên nhiên với nhịp sống ngày một nhanh hơn. Về ăn đã thấy thiên về xu hướng chế biến theo lốỉ thủ công hoặc công nghiệp, về mặc đã nổi lên xu hướng dùng quần áo may sẵn, tự chọn, về ở đã cơ bản chuyển sang các dạng nhà cao tầng, bê tông hóa. về đi lại đã chủ yếu dùng các phương tiện cơ giới, nhất là xe máy. Hàng cây, mặt nưóc đã trở thành điểm kinh doanh. Các di tích lịch sử - văn hóa đã là điểm đến của các tua du lịch. Không chỉ mặt đất mà giò đây không gian ở đô thị cũng đưỢc tận dụng, kể cả tại nhiều làng ven đô. Cùng với việc tăng cường tận dụng thiên nhiên, người Việt Nam đã
  5. N guyên Thanh Tuấn đổi mới cách thức ứng phó với thiên nhiên bằng những phương tiện ngày càng hiện đại: từ chỗ nương nhờ - rnô phỏng thiên nhiên dần chuyển sang khai thác - can dự vào thiên nhiên ở mức độ nào đó. Hai là, trong thời kỳ đổi mới, trên cơ sở phát huy truyền thống văn hiến, nhân ái của dân tộc, văn hóa ứng xử của người Việt Nam cơ bản thể hiện và khẳng định thái độ, cách thức giao lưu, tiếp biến các giá trị khoan dung, trọng học thức, chuộng cái đẹp, yêu hòa bình trước sự xuất hiện của những hành vi ứng xử theo kiểu cá nhân, thực dụng, bạo lực, và thiếu đạo đức trong quan hệ giao tiếp của một bộ phận người Việt Nam, nhất là ở giới trẻ. Đối với người Việt Nam trong thời kỳ đổi mới, đặc biệt với sự tác động của kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, hội nhập quốc tế, đã làm thay đổi, biến đổi và mở ra nhiều hướng phát triển mới trong văn hóa ứng xử ở cả hai chiều cạnh: tích cực và tiêu cực. Chỉ trong một vài năm, từ chỗ hàng hóa chiếm một vỊ trí không đáng kể trong đời sốhg cư dân đô thị và nông thôn, đã chuyển sang "tình trạng" hàng hóa từ các cửa hàng của Nhà nước, tập thể, tư nhân tràn ra cả hè phô. Hàng hóa lưu thông, mà đằng sau nó là đồng tiền như máu của cơ thể, đóng vai trò vận hành toàn bộ đời sống kinh tế - xã hội. Sự làm giàu được khuyên khích. Đô thị và nông thôn, cả vùng dân tộc Ỉ86
  6. U ăn £ó a íín y x ứ D iệi OCam Ă iệiì nay thiểu sô" đều nêu gương những người làm ăn giỏi, những người làm giàu chính đáng. Tình hình đó hoàn toàn phù hỢp với tâm lý con người và tạo nên bầu không khí phấn khởi tự nhiên trong toàn xã hội. Thái độ của con người đã chuyển biến theo hướng bươn trải thị trường, chứ không còn nhẩn nha, ung dung theo lôl "quần chùng áo dài". Lao động giò đây là phải gắn với nghề nghiệp, với việc làm có thu nhập. Thái độ đôl với nghề nghiệp cũng thay đổi, từ chỗ coi trọng các nghề "bàn giấy", với "biên chê Nhà nước" sang các nghề sản xuất ra của cải và kinh doanh cạnh tranh thông qua lao động trong kinh tế hộ hoặc kinh tê ngoài quô"c doanh, kể cả tại doanh nghiệp của nước ngoài. Thái độ đôl với gia đình, bạn bè, cộng đồng cũng thay đổi theo hướng tôn trọng sự lựa chọn, sở thích cá nhân nhiều hơn v.v... Kết quả chung của những biến đổi đó là đã khắc phục được những quan niệm đối lập, có khi thái quá giữa đen - trắng, thiện - ác, tốt - xấu, đức - tài V . V . . . . Ngày nay, người Việt Nam thường quan niệm những cặp phạm trù ấy một cách thực tế trong trục thòi gian và không gian cụ thể của đời sống cá nhân và trong từng cộng đồng nhỏ (gia đình, lóp học, tổ sản xuất, bạn buôn bán, làm ăn) rồi mới đến thành phố, cả nưởc và thế giới. |ẼIỉ
  7. N guyên Thanh Tuân Đây là cơ sở và cũng là biểu hiện của thái độ, cách ứng xử khoan dung của người Việt Nam vốh có từ trong lịch sử. Sự khoan dung một cách thực tế ở người Việt Nam có thể thấy được qua thái độ, lốì ứng xử lịch sự mà không khó gần, xã giao mà không mầu mè, cạnh tranh mà không cạn tình, bươn trải mà không xô bồ, linh hoạt mà không tùy tiện, ở đa sô" người Việt Nam. Cùng vói tinh thần khoan dung là thái độ, lốì ứng xử trọng học thức được thể hiện khá rõ ở người Việt Nam ngày nay. Nhưng khác với truyền thông, việc trọng học thức giò đây được thể hiện ở việc trọng nghề nghiệp, chứ không chỉ dừng ở việc thông thạo kinh sử. "Một nghề cho chín, hơn chín, mười nghề" hiện đã chín muồi trong thái độ, lốĩ ứng xử của nhiều người. Quy luật cạnh tranh thị trường đã thúc đẩy sự chín muồi đó. Bên cạnh những nghề được xã hội trọng vọng, như nghề nhà giáo, thày thuốic, nhà khoa học thì "người sản xuất", "người buôn bán" cũng được coi trọng. Việc chọn nghề ngày nay đa dạng, miễn sao có thu nhập chính đáng cho bản thân, gia đình và xã hội, chứ không chỉ giói hạn trong các nghề công chức, cán bộ Nhà nước. Trong bôi cảnh ấy, truyền thống thẩm mỹ của người Việt Nam cũng biến đổi và cái đẹp ngày càng được coi trọng khi cái ăn, cái mặc, cái ở không còn câu thúc đa sô" 188
  8. X)ăn £ỏa ứiìỹ xứ U iệi OCam£iện íiaỳ người dân. Thái độ, lối ứng xử có tính thẩm mỹ của người Việt Nam từ trong lịch sử đã được nâng lên tầm văn hóa trong cách làm và cách ăn, cách học và cách chơi ở" họ. Thí dụ cách trồng hoa, cây cảnh và các nghề thủ công mỹ nghệ tinh xảo là thể hiện cho tính thẩm mỹ trong cách sản xuất, kinh doanh. Thái độ và lối ứng xử chuộng cái đẹp ỏ người Việt Nam ngày nay không chỉ dừng ở cái ăn, cái mặc mà đã thấy trong cái ở. Văn hóa kiến trúc nhà ở và rộng hơn là đường phô", cầu và kết cấu hạ tầng đô thị đang từng bước được coi trọng. Nhà ở của nhiều gia đình thành phô" không chỉ chú trọng đến diện tích sàn nhà, tiện nghi, mà cả tính thẩm mỹ của kết cấu, bài trí đồ đạc trong nhà. Nhiều gia đình ở đô thị, nông thôn bây giờ treo tranh, có cây cảnh trong nhà. Thái độ, lốì ứng xử khoan dung, chuộng học thức và cái đẹp tất nhiên sẽ dẫn đến thái độ, lối ứng xử hòa bình của người Việt Nam. Môi trường thiên nhiên, xã hội thanh bình. Người Việt Nam không còn chống cằm ủ dột vói chè chát, rượu đắng như vào những năm 70 đầu những năm 80 thê kỷ trước, mà hôi hả làm ăn và râm ran cơm bụi, nhà hàng. Đổi mới đã "kéo” nhiều người Việt Nam tham gia vào các quan hệ sản xuất - kinh doanh, vui chơi, giải trí. Bầu không khí lành mạnh đó được người Việt Nam thể
  9. N guyên Thanh Tuân hiện bằng cái miệng hay cười và lòi nói khôn ngoan. Tất cả đã kiến tạo nên một đất nước ổn định, thanh bình, theo đánh giá của bạn bè thế giới. Những giá trị truyền thống trong văn hóa ứng xử của người Việt Nam rõ ràng được phát huy và thể hiện rõ nét trong thời kỳ đổi mói. Khoan dung, chuộng học thức, trọng cái đẹp, yêu hòa bình là đặc điểm nổi bật trong văn hóa ứng xử của người Việt Nam hiện nay. Các giá trị này được thể hiện và khẳng định trưóc sự xuất hiện của những thái độ và hành vi ứng xử theo kiểu cá nhân, thực dụng, bạo lực và thiếu đạo đức trong một bộ phận người Việt Nam, nhất là ở giới trẻ. Cần khẳng định rằng, những thái độ và hành vi thiếu văn hóa này không phải là đặc điểm của văn hóa ứng xử của người Việt Nam. Ngay ở những cá nhân có khuynh hướng hành xử theo kiểu cá nhân, bạo lực, thực dụng và thiếu đạo đức, cũng không hoàn toàn bị sa ngã vào cách thức ứng xử phi ván hóa. Luật pháp, truyền thống văn hóa, dư luận xã hội... là rào cản khách quan đốĩ vối việc phát triển cách thức ứng xử này. Tuy vậy, phải thấy rằng, những hành vi ứng xử phi văn hóa vẫn có thể hiện diện ở nơi này, nơi khác do sự tác động của mặt trái kinh tế thị trường, do những yếu kém, thiếu sót trong quá trình xây dựng văn hóa ứng xử. 190
  10. U ãnA óa ứriỹ x ứ 'V ièi 0 €am £ iện nat^ Chẳng hạn do sự tồn tại của những dạng kinh tế ngầm (làm hàng giả, ghi lô đề, buôn lậu...) cho nên cũng sẽ dung túng những thái độ, hành vi ứng xử cá nhân, thực dụng, bạo lực, phi đạc đức ở những người tham gia các hoạt động kinh tê đó. Trước những biến thái phức tạp trong quá trình hình thành văn hóa ứng xử mói của người Việt Nam trong điều kiện tác động của kinh tế thị trường định hưống xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốíc tế, cần phải bồi dưỡng, phát huy các giá trị khoan dung, chuộng học thức, trọng cái đẹp, yêu hòa bình trong văn hóa ứng xử của người Việt Nam, để hạn chế tối đa những mặt trái trong lốỉ ứng xử của một bộ phận người Việt Nam. B a là, người Việt Nam có phong cách ứng xử linh hoạt. Phong cách ứng xử chính là sự thể hiện ổn định của lốì ứng xử trên cơ sở kết hỢp nhuần nhuyễn giữa thái độ, khuôn mẫu và kỹ năng ứng xử; và được thể hiện ở các phương diện sau: - Nếp cảm, nếp nghĩ: Thiên về cân bằng - linh hoạt. Nếp cảm, nếp nghĩ là phương tiện tình cảm, ý thức của văn hóa ứng xử. Nó là cơ sở định hưóng thái độ, cách thức và kỹ năng ứng xử dần dần hình thành khuôn mẫu ứng xử dựa trên những chuẩn mực văn hóa. Sự hài hòa giữa môi trường thiên nhiên, xã hội và văn hóa tạo nên nếp
  11. N guyên Thanh Tuân cảm, nếp nghĩ thiên về cân bằng - linh hoạt của người Việt Nam. Tính cân bằng - linh hoạt tạo nên hình hài, động thái của văn hóa ứng xử Việt Nam. Song giữa các địa phương cũng có đặc trưng trong ứng xử. Chẳng hạn cư dân đồng bằng Bắc Bộ, nhất là Hà Nội thể hiện rõ nét tính cân bằng - linh hoạt trong ứng xử. Người Hà Nội còn đạt đến mức thanh lịch trong tính cân bằng - linh hoạt. Đây là nét dặc trưng của văn hóa ứng xử Hà Nội so với văn hóa ứng xử Huê thiên về cân bằng - tĩnh, và văn hóa ứng xử ở Thành phô' Hồ Chí Minh thiên về cân bằng - năng động. - Nếp ứng xử vói môi trường thiên nhiên: Từ ăn, mặc, ở, dáng đi cho đến cách thức sản xuất, kinh doanh thể hiện sự khéo léo. Tính chất này trong sinh hoạt thường nhật nhuô'm sang cậ cách thức làm ăn của người Việt Nam. - Nếp ứng xử với môi trường xã hội: Thể hiện ở tính khoan hòa trong ứng xử vối phong tục, tập quán truyền thổng, với tôn giáo, khoa học, công nghệ với người "tứ chiêng", người cả nước và người nước ngoài. Như vậy, đặc điểm cân bằng - linh hoạt của người Việt Nam thể hiện trong sinh hoạt thường nhật và nhuốm cả sang cách làm - cách ăn, cách học - cách chơi. Bốn là, mốì quan hệ giữa tư tưởng, đạo đức và khuôn mẫu ứng xử. m
  12. TJăn Ẻóa ứiìỹ x ử U ìệí OGun £ ìện nay Đây là môi quan hệ gây ảnh hưởng đồng thời đến các quan hệ giữa truyền thông và hiện đại, giữa bản sắc dân tộc của văn hóa ứng xử vói công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế. Kết cục sớm hay muộn các môi quan hệ ấy sẽ tác động trở lại đến chính trị, tư tưởng và văn hóa ứng xử. Chẳng hạn, tình trạng một bộ phận cán bộ có cốhg hiến nay nghỉ hưu, hưởng lương thấp trong khi mọi chi phí chữa bệnh, tìm việc, học hành, hiếu hỉ... đều rất tốh kém, đã khiến họ bực bội, phát ngôn gay gắt không chỉ trong sinh hoạt của tổ chức, đoàn thể. Từ những năm 1997 - 1998, tại một sô" tỉnh, thành phô" trong cả nước đã xuất hiện những điểm nóng với mức độ khác nhau. Nhiều điểm nóng có đông người tham gia; từ chỗ chủ yếu đòi hỏi phải giải quyết những tranh chấp, mâu thuẫn về quyền lợi kinh tê của cá nhân, gia đình, làng xóm đã chuyển sang đòi hỏi dân chủ, công khai, công bằng xã hội, chống tham nhũng. Nguyên nhân đầu tiên và cơ bản phát sinh các điểm nóng ở nông thôn là tình trạng tham nhũng và suy thoái đạo đức, cách thức ứng xử của một bộ phận cán bộ các cấp, nhất là trong việc quản lý tài chính khi xây dựng kết cấu hạ tầng, mất dân chủ, sông và sinh hoạt cách biệt với nhân dân. Một biểu hiện điển hình nữa của quan hệ giữa tư tưởng, đạo đức là tình trạng thanh, thiếu niên thò ơ với
  13. N guyên Thanh Tuân chính trị, với truyền thống cách mạng và dân tộc. Các cuộc điều tra xã hội học vào những năm gần đây cho thấy, có đến hơn 40% sô" người được hỏi không quan tâm đến những ngày kỷ niệm lớn của dân tộc. Trong một sô" cuộc điều tra nhằm khảo sát kiến thức học sinh, sinh viên, công nhân và thanh niên về các sự kiện lịch sử, có từ 40% - 70% những người được hỏi không biết Vua Hùng là ai? Không biết về Trương Định, Lương Thê Vinh, Trần Quốc Toản, Chu Văn An và một sô" nhân vật lịch sử khác. Tình trạng không thông nhất giữa tư tưởng, đạo đức và cách thức ứng xử ở thanh niên, sinh viên, học sinh thể hiện ở sự thờ ơ với chính trị, với truyền thông dân tộc và cách mạng, vói công cuộc đổi mói của đất nước; còn ở một bộ phận cán bộ, đảng viên có những biểu hiện cơ hội, dao động nghi ngờ định hưống xã hội chủ nghĩa và sông buông thả, thực dụng, tha hóa, tham nhũng, lãng phí của công v.v... Kiểu sống chạy theo đồng tiền, hưởng theo cá nhân đó đã lôi kéo và kích thích nhu cầu của giới trẻ và một bộ phận nhân dân hưóng theo. Nó gây bức bô"i cho quảng đại quần chúng, thách thức những người làm ăn lương thiện. Hiện nay tình hình tư tưởng chính trị trong Đảng và trong xã hội cơ bản là ổn định. Những biểu hiện nghi ngờ, thiếu và mất niềm tin vào đường lốỉ, chính sách của Đảng và Nhà nước thường gắn với lợi ích cá nhân, với tham
  14. T)ăn £ióa ứiiỹ x ử U iệi OCam Ê iện n a ^ nhũng và lối sông thực dụng. Cho nên chưa thể nói về một nguy cđ chính trị, như bè phái, chia rẽ, chủ nghĩa cơ hội về chính trị trong Đảng và trong xã hội. Đôl vối thái độ thò ơ và sự hiểu biết hạn hẹp của thanh niên, sinh viên, học sinh về đòi sống chính trị - tư tưởng, về truyền thông cách mạng có thể giải thích ở sự bất cập trong công tác giáo dục và thông tin đại chúng. Đồng thòi phải thấy rõ rằng, sự phát triển tính cách và nhân cách ở thế hệ trẻ ngày nay, khác rất nhiều so với những thế hệ sinh trưởng và lớn lên trong giai đoạn kháng chiến chống Mỹ, trong cơ chế tập trung bao cấp. Nếu trưốc đây con người định hướng hầu như toàn diện vào mọi vấn đề của đời sống xã hội, từ đòi sống thường ngày đến đòi sông kinh tế, chính trị, văn hóa trong và ngoài nưốc... thì giò đây thê hệ trẻ định hưóng rất sâu vào một vài vấn đề họ quan tâm, còn lại họ bàng quan. Họ am hiểu sâu sắc những điều mà họ quan tâm và không cần biết những vấn đề khác. Nếu trưốc đây con người định hướng vào các giá trị sử thi, thì bây giò con người định hướng vào các giá trị nhân văn có tính cá nhân, đòi thường. Những đặc trưng trên đây cần phải được phân tích và nắm bắt thấu đáo để xác lập được sự thông nhất giữa tư tưởng, đạo đức lốì sống trong điều kiện môi trường xã hội hiện tại, chứ không phải trong điều kiện, môi trường xã hội ngày hôm qua. m
  15. Nguyên Thanh Tuân N ăm là, thực trạng chuyển đổi chuẩn mực xã hội trong điều kiện đẩy m ạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập quốc t ế thông qua kinh t ế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Từ giữa thập niên 1990 đất nưóc đã cơ bản thoát khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội và đang từng bưốc đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập quốc tế thông qua nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Hiện nay việc sớm thoát khỏi tình trạng kém phát triển để trực tiếp bước vào xây dựng một nưốc công nghiệp theo hướng hiện đại hóa đã thúc đẩy sự chuyển đổi chuẩn mực xã hội hay định hướng giá trị. Sự chuyển đổi này tất nhiên là sự tiếp nổi quá trình chuyển đổi định hướng giá trị kể từ cuối thập niên 1980 đến nay. Sự chuyển tiếp các thê hệ, trình độ dân trí ngày càng cao, quá trình dân chủ hóa và công nghiệp hóa, đô thị hóa ngày càng diễn ra sâu rộng cùng vối hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn, sẽ làm thay đổi nhiều mặt của đòi sống xã hội. Trong điều kiện kinh tế thị trường định hưống xã hội chủ nghĩa sự thay đổi đó, đã và sẽ diễn ra một cách triệt để, vối tất cả những biến thái của đua tranh, cạnh tranh, thực tê và cả thực dụng. Những kết quả của các thay đổi đó biểu hiện tập trung ở bốn phương diện lớn sau đây;
  16. D ăn £ó a ứnỹ x ứ UỉệỂ OCam £ ỉện n a ^ Lý tưởng và niềm tin: Đây là những giá trị chủ đạo điều .khiển nhận thức, hoạt động và hành vi ứng xử hàng ngày của con người. Ngày nay hoài bão, ước mơ, niềm tin không thiên về tính sử thi, mà thiên về tính nhân văn. Dường như chúng ít khi xuất phát từ cái chung, mà từ cái riêng, cái cụ thể. Tuy vậy, không phải vì thế mà người ta không lựa chọn những giá trị chung, như hòa bình, tự do, lao động cần cù, xây dựng đất nước v.v... Theo kết quả điều tra của một sô" đề tài cấp Nhà nước, thì tỷ lệ lựa chọn những giá trị này cao không kém tỷ lệ lựa chọn các giá trị: học tập, lao động sáng tạo cho bản thân và gia đình, thật thà, giữ chữ tín, sống có tình nghĩa, sức khỏe, việc làm, đồng tiền, v.v... Việc lựa chọn các giá trị: niềm tin, sống có mục đích, sáng tạo, giàu sang... trong điều kiện bươn trải thị trường để "bứt" khỏi đói nghèo nhằm đạt được một cuộc sông khá giả chứng tỏ tinh thần lạc quan trong sô" đông dân cư hiện nay. Đồng tiền uà cách làm giàu : Đại đa sô" người Việt Nam hiện nay coi đồng tiền là một giá trị xã hội không thể thiếu. Nhưng dư luận ngày nay chưa ngã ngũ về cách thức kiếm tiến, ví dụ bằng học tập, tức là cách thức chính đáng, hay bằng đi buôn, tức là bằng con đường bươn trải có khi 197
  17. N guyên Thanh Tu ấ n , không chính đáng, phi pháp. Tuy nhiên, từ trong tiềm thức sâu xa đa sô" những người được hỏi trong các cuộc điều tra, phỏng vấn đều biểu dương những công việc có trình độ trí tuệ, học vấn cao, và gắn với chúng là tính chính đáng cùng sự giàu sang. Giờ đây, người ta chuộng đồng tiền và sự giàu sang. Đó là điều dễ hiểu. Nhưng người ta không muốn làm giàu bất chấp pháp luật và dư luận xã hội. So vói cuối những năm 80 và đầu những năm 90 thế kỷ XX ý thức của nhiều người rõ ràng đã tỉnh táo hơn, điềm tĩnh hơn trước thực tế đua tranh và cạnh tranh của nền kinh tê thị trường, mặc dù sự chững lại của đà tăng trưởng kinh tế trong các năm 1998 - 2005 đã làm cho "sinh khf’ của không ít người có phần "trầm lắng". N ghề nghiệp: "Một nghề cho chín, hơn chín mười nghề" ngày nay đã trở thành lẽ sông của đa sô" người dân Việt Nam. Trong việc lựa chọn nghề nghiệp người ta xác định phải có tư duy kinh tê" hiệu quả. Bên cạnh những nghề được xã hội trọng vọng, như nhà giáo, cán bộ, thầy thuôc... thì nghề kinh doanh và "người sản xuất" rất được đề cao. Ngày nay, kể cả "người buôn bán" hàng dong cũng được trân trọng. Rõ ràng việc chọn nghề diễn ra đa dạng, miễn là có thu nhập, có ích cho bản thân, gia đình và xã hôi. 'mỉ
  18. X )ăn£óa ứiìỹ x ử U iệí OCiun £ iệ n naỳ Truyền thống dân tộc: Mặc dù phải bươn trải thị trường nhưng nhiều người vẫn thường xuyên thăm viếng người thân. Đại đa sô" người lớn tuổi thắp hương ngày rằm, mồng một và đi lễ chùa, lễ nhà thờ. Người lớn tuổi thường tin vào sự phù hộ của tổ tiên, Trời, Phật, Đức Chúa. Cũng có người "không tin" song vẫn cầu khấn cho "cái tâm thanh thản". Những giá trị gia đình, tình nghĩa được rất nhiều người tán đồng. Song, gia đình ngày nay phải là gia đình hạt nhân chứ không phải đại gia đình "tam, tứ đại đồng đường". Tình nghĩa ngày nay phải được xây dựng trên cơ sở bình đẳng, tự lập, chứ không phải là sự bao dung, độ lượng hay là một thứ bao cấp tình cảm. Những lốì ứng xử này đánh giá sức sông của mạch ngầm truyền thống dân tộc là rất lón trong những người từng trải và cả ở những người đang lớn lên cùng cơ chê thị trường. Sự chuyển đổi định hướng giá trị ở những người bươn trải và từng trải hay sự định hình giá trị mới ở lớp thanh thiếu niên, tức là những người sinh trưởng và lớn lên trong cơ chế thị trường (từ 1986 đến nay) ở mức độ nào đó đều không tách rời được "gốc rễ" và "bản sắc dân tộc". Đây có thể coi là đặc điểm chung và cơ bản để xem xét các đặc điểm khác của đạo đức, chuẩn mực xã hội và lối ứng xử. m
  19. Nguyên Thanh Tuân 2. THỰC TRẠNG BIÍN đ Ổi v ă n h ó a ứ n g x ử ỏ một sổ NHÓM XÃ HỘI 2.1. Thực trạng biến đổi vãn hóa ứng xử ở Idp ngưdi mỡi tiêu biểu cho thdi kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập quốc tế thông qua kinh té thị trưdng định hưởng xã hội chủ nghĩa Đòi sốhg vật chất của phần lớn nhân dân đã được cải thiện. Tình hình kinh tê - xã hội ổn định và có mức tăng trưởng khá. Trong vòng hai thập niên đổi mới, từ 60% dân sô" thuộc diện đói nghèo, nay theo chuẩn đói nghèo mới (tăng 1,5 lần so với chuẩn cũ) tỷ lệ đó còn khoảng 15% và còn giảm mạnh. Mặc dù sự tăng trưởng kinh tế hiện chưa đạt mức tăng trưởng cao như các năm 1991 - 1996, song không vì thế mà mở rộng diện đói nghèo. Khoảng 1.800 xã nghèo nhất nưóc ở vùng núi và dân tộc ít người đang được Chính phủ đầu tư có trọng điểm để "bứt" khỏi đói nghèo. Nhân dân được giải phóng khỏi sự ràng buộc của nhiều cơ chê không hỢp lý nên việc sản xuất, kinh doanh, mua bán, đi lại, sinh hoạt, học tập được thuận tiện và khoáng đạt hơn. Các quan hệ giao lưu khu vực và quốc tế của Nhà nước, các doanh nghiệp, các tổ chức và của một bộ phận đáng kể nhân dân, nhất là đốì với những gia đình có thân nhân ở nước ngoài, đã thực sự khởi sắc và phát triển
  20. X)ăn £íóa ííny xử X )iề i íXàfl2 £ iệ n n a ỹ theo hưóng đa dạng hóa, đa phương hóa. Người nước ngoài định cư lâu dài hay ở cùng nhà hoặc là hàng xóm, là đồng nghiệp của người Việt vói tư cách là bạn, là đôi tác kinh doanh, là người thân, có lẽ là một hiện tượng mới trong lịch sử Việt Nam. Trình độ dân trí và nhân lực của nhân dân được nâng lên không ngừng. Tính đến nay cả nước cơ bản đạt tiêu chuẩn quốc gia về chông mù chữ và phổ cập giáo dục tiểu học. Một bộ phận thanh niên năng động, dám vượt qua thách thức, đua tranh tự lập và lao vào học tập kiến thức, nghề nghiệp, để phấn đấu vươn lên lập thân, lập nghiệp. Ngày nay, chấp nhận sốhg xa gia đình, năng động lập thân, lập nghiệp, trụ bám ở biên giói và hải đảo, vùng sâu, vùng xa v.v... để làm giàu cho mình và cho xã hội, mang lại ánh sáng ván hóa và an sinh xã hội cho cộng đồng và đất nưóc, là biểu hiện cụ thể của lẽ sống yêu nước. Quá trình xã hội hóa văn hóa, các phong trào văn hóa - xã hội, như xây dựng làng văn hóa, xây dựng nếp sốhg văn minh, gia đình văn hóa, phong trào xóa đói giảm nghèo, đền ơn đáp nghĩa v.v... đã thúc đẩy nhiều cá nhân thuộc các tầng lớp xã hội khác nhau tích cực và chủ động tham gia vào các sinh hoạt chung của cộng đồng. Ngoại trừ chê độ lễ nghi, còn hầu như tất cả các dạng phong tục tập quán cổ truyền đều được tái lập vối tất cả những biến thái
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2