Vì sao mi vùng sinh thái khác nhau
lại có những cây trông và vật nuôi đặc
trưng?
Hệ sinh thái là hệ thống các quần thể sinh vật sống chung và
phát triển trong một môi trường nhất định, quan hệ tương tác
với nhau và với môi trường đó". Cân bằng sinh thái là trạng thái
ổn định tự nhiên của hệ sinh thái, hướng tới sự thích nghi cao
nhất với điều kiện sống.
[http://agriviet.com]
Trong cuộc sống, chúng ta thường gặp những câu hỏi khá hóc búa từ
con tr đại loại như: Tại sao ở Việt Nam không nuôi gấu trắng nhỉ?
Tại sao bố không thcá Hồi trong ao nhà mình? Tại sao nhà mình
không trng cây sữa được?...
Để trả lời những câu hỏi này cn có kiến thức bản về sinh thái
học, vậy chúng ta cần nắm rõ: Sinh thái học là ? Hệ sinh thái là gì?
Sinh thái hc là khoa học nghiên cứu về cấu trúc và chức năng của
t nhiên mà đối tượng của nó là tất cả c mối quan hệ tương hỗ
giữa sinh vật và môi trường, trong đói trường bao gồm tất cả các
nhân tố bao quanh sinh vt và có ảnh hưởng qua lại với các sinh vật.
Con người cũng như mọi sinh vật khác trên Trái đất không th sống
tách rời i trường sống cụ thể của mình. Môi trường là điều kiện
tồn tại và phát triển của sự sống trên Trái đất, duy trì sự sinh trưởng
và phát trin ca các sinh vật hoặc làm phát sinh các loài mới. Thành
phn và tính chất của môi trường rất đa dạng và luôn ln biến đổi.
Do vậy các sinh vật phải thường xuyên thích nghi với môi trường,
phải điều chỉnh hoạt động sống của mình cho phù hp với các biến
đổi đó thì mới tồn tại được.
Hệ sinh thái là hệ thống các quần thể sinh vật sống chung và phát
triển trong một i trường nhất định, quan hệ tương tác với nhau và
với môi trường đó". Theo độ lớn, hệ sinh thái có thể chia thành h
sinh thái nh (bể nuôi cá), hệ sinh thái vừa (một thảm rừng, một hồ
chứa nước), hệ sinh thái lớn (đại dương). Tập hợp tất cả các hệ sinh
thái trên b mặt trái đất thành mt hệ sinh thái khng lồ sinh thái
quyển (sinh quyển). Cân bằng sinh thái là trạng thái ổn định t nhiên
của hệ sinh thái, hướng tới sự thích nghi cao nhất với điều kiện sống
Cân bằng sinh thái không phải là một trạng thái tĩnh của hệ. Khi có
một tác nhâno đó của môi trường bên ngoài, tác động tới bất kỳ
một thành phn nào đó của h, nó s biến đi. S biến đổi ca một
thành phần trong hệ sẽ kéo theo sự biến đổi của các thành phần kế
tiếp, dẫn đến sự biến đổi cả hệ. Cân bằng sinh thái được tạo ra bởi
chính bn thân hệ và chỉ tồn tại được khi các điều kiện tồn tại và
phát triển của từng thành phần trong hệ được đảm bảo và tương đối
ổn định. Môi trường bao gồm nhiều nhân tố sinh thái. Các nhân tố
này rất đa dạng, có thể thúc đẩy hoạt động sống của các sinh vật,
cũng có thể kìm m hay gây hại cho c sinh vật. Có thể chia các
nhân tố sinh thái thành 3 nhóm lớn là: Nhóm nhân tố vô sinh: Gồm
các nhân t khí hậu (ánh sáng, nhiệt độ, nước, không khí), dòng
chảy, đất đai, địa hình… Nhóm nn thữu sinh: Gồm các cá th
sng như thực vật, động vt, nấm, vi sinh vật… Nhóm nhân tố con
người: Gồm tất cả các hoạt động của con người làm biến đổi tự
nhiên mà nới đây là môi trường sống của các sinh vật. Các nhân t
sinh thái luôn luôn thay đổi theo không gian và thời gian. Chúng tác
động không giống nhau đối với các sinh vật. Các nhân tố sinh thái
thuộc nhóm vô sinh có vai trò quyết định đối với sự tồn tại và phát
triển của các sinh vật. Các sinh vật chỉ có thể tồn ti và pt triển
trong các điều kiện sinh thái thích hợp mà thôi. Các sinh vật được
sinh ra mang những đặc điểm di truyền tốt của bố mẹ. Chúng có thể
dng tồn tại và phát triển trong môi trường tự nhiên nơi bố mẹ
chúng sinh sống. Khi điều kiện i trường thay đổi, diễn ra quá
trình đào thải, các sinh vật mang những đặc điểm không thích hợp bị
tiêu diệt, các sinh vật khoẻ mạnh hơn, hoặc các sinh vật mang nhng
gen đột biến lợi thích hợp trong điều kiện môi trường mới có khả
năng sống sót, tồn tại, tiếp tc phát triển và mang những đặc điểm di
truyền có lợi đấy truyền lại cho thế hệ sau.
Kết quả của quá trình chn lọc tự nhiên là nh thành nên những
ging, loài mới có khả năng thích nghi cao với điều kiện tự nhiên.
Mỗi nhân tố sinh thái tác động lên cơ thể sinh vật đu theo giới hạn
chịu đựng cho từng cơ thể trong đó có giới hạn dưới, giới hạn trên
điểm cực thuận. Khi các nhân tố sinh thái vượt quá giới hạn chịu
đựng cho phép của thể sinh vật thì có thdẫn đến sự chết hàng
lot của loài sinh vật đó. Sự tác động của mỗi nhân tố sinh thái và s
tác động tổng hợp của các nhân tố sinh thái đến sinh vật theo các qui
luật nhất định đó là qui luật sinh ti cơ bản.
Kết quả của sự tác động qua lại có tính qui luật củac nhân tố sinh
thái qua nhiu thế hệ đã hình thành nên những đc điểm thích nghi
sinh thái quan trng. Do mỗi loài có một giới hạn chịu đựng nhất
định đối với các nhân tố sinh thái như nhiệt độ, độ ẩm... dn đến sự
phân bcủa sinh vật trên Ti đất phụ thuộc chặt chẽ vào bn độ
dao động củac nhân tố sinh thái này. Khoảng giới hn của các
nhân tố từ minimum đến maximum được gọi là giới hạn sinh thái
hay biên độ sinh thái. Khoảng giới hn sinh thái này rộng hay hẹp là
tu thuộc vào loài sinh vật. Những loài sinh vt có biên độ sinh thái
lớn là các loài phân b rộng và ngược lại nhng loài có biên độ sinh
thái nh là các loài phân bhẹp. Những loài phân bhẹp thường
được chọn là các loài đặc trưng cho từng điều kiện môi trường hay
loài chỉ thị sinh thái. Đồng thời những loài lớn thường là loài chỉ th
hơn các loài nhỏ. Sự có mặt hoặc phồn thịnh của sinh vật ở nơi nào
đó thường phụ thuộc vào một loạt nhân tố. Khi một nhân tố gần với
gii hạn của sự chng chịu hoặc là qua giới hạn đó thì nhân t này
được gọi là nhân tố giới hn. Những nhân tố sinh thái mà các loài
sinh vật có phạm vi chống chịu rng không thể là nn tố giới hạn vì
chúng tương đối ổn định và trong môi trường chúng có một hàm
lượng vừa phải. Ngược lại nếu sinh vật có phạm vi chng chịu hp
với một nhân tố thay đổi nào đó thì chính nhân t đó là một nhân tố
gii hạn. Như đã trình bày ở trên, các nhân tố sinh thái thuộc nhóm
vô sinh có vai trò quyết định đối với sự tồn tại và phát triển của các
sinh vật. Một số yếu tố có thể kể đến như: Nhiệt độ. Nhiệt độ là nhân
tố sinh thái ảnh hưởng lớn và trực tiếp hoặc gn tiếp đến sự phát
triển, sinh trưởng và phân bố của các cá thể, quần thể, quần xã. Khi
nhiệt độ tăng hay giảm quá mức giới hạn của sinh vật thì sinh vật sẽ
chết. Một số ví dụ về stác đng ca nhiệt độ lên sinh vật: Cây
quang hợp trong khong 20-30oC, khi nhiệt độ quá thấp hoặc q
cao đu ảnh hưởng đến quá trình này. 0 oC cây nhiệt đới ngừng
quang hợp do hạt diệp lục bbiến dạng,không còn kh năng hô hấp,
khi nhit độ lên cao khong 40oC thường hô hấp cũng ngừng. Một
s loài có khả năng chịu được nhiệt dộ cao như rêu, xương rồng chịu
được trên 60 oC, tảo lam và vi khuẩn có thể chịu được nhiệt đ lên
tới 93 oC. Cây ôn đới có thhoạt động ở 0 oC, một số loài tùng,
bách có th hô hấp được cả nhiệt độ -25 oC. Động vật ở vùng lạnh
có bộ lông dày và dài hơn những động vật ở vùng nóng. Những cây
thân nhỏ sống ở vùng đất cát ng, dbị gió làm bay cát và làm
nước bốc hơi thì thân chính không phát triển mà phân cành rất nhiều
t gốc, tạo ra một tán cây sát mt đất có tác dụng hạn chế nhiệt độ
cao do Mặt trời đốt nóng mặt đất. Ở các savan, nơi thường xảy ra
nn cháy, nhiều cây gỗ, cây bụi không những có vỏ dày được thấm
ướt bằng chất chịu lửa mà thường có thân ngầm dưới đất. Khi bộ
phn trên mặt đất bị tổn thương hoặc cháy, từ thân ngầm mọc lên
những chồi mới, cây sẽ phục hồi. Ở vùng ôn đới, về mùa đông cây
rng lá có tác dụng hạn chế tiếp xúc với nhiệt độ thp, hình thành
các vẩy bảo vệ chồi phát triển các lớp bần cách nhiệt. Ở động vật
biến nhiệt, nhiệt độ thể có thể tăng giảm thay đổi theo sự tăng
gim nhiệt độ của môi trường. Ở động vật đng nhitcó khnăng
điều hoà và giữ được thân nhiệt ổn định nên chúng có khả năng phát
tán sinh sng ở khắp nơi như Bắc cực lạnh tới - 40 oC có loài cáo
cực có thân nhiệt 38 oC, loài gà gô trắng có thân nhiệt 43 oC vẫn
sng bình thường. Sự thay đổi nhiệt độ của môi trường cũng ảnh
hưởng đến c đặc điểm hình thành hình thái, sinh thái, hình thành
các tp quán di trú của chim vào mùa đông, ng hè vào mùa khô
nóng ca động vật gặm nhấm ở sa mạc. Như vậy yếu tố nhiệt độ