Vì sao trẻ hay bị giun lên ống mật?
Khi trẻ quấy khóc, đau bụng vật vã cần ng đến giun chui lên ng mật.
Giun lên ống mật là hin tượng giun đũa chui qua vòng Oddi vào
đường dẫn mật. Đây là một trong những cấp cứu thường gặp trẻ em, nhất
tr3-7 tui. S lượng giun lên ống mật thch một, vài con nhưng có
trường hợp tới hàng trăm con.
Giun lên ống mật là một trong những tai biến ngoại khoa thường thấy của
giun đũa (tắc ruột, viêm ruột thừa, giun lên ống mật, viêm tụy cấp xuất huyết hoại
tử... ) thể dẫn đến mật, giãn ống mật trong gan, kéo theo đủ loại vi khuẩn
đường ruột (hay gặp E. coli, Proteus). Trem hay bị viêm đường mật, và dhình
thành sỏi mật.
Về cơ chế sinh bệnh, có ý kiến cho rằng trẻ biếng ăn (do mắc một bệnh nào
đó) hay bị giun lên ống mật do trong quá trình tìm kiếm thức ăn, giun đã chui vào
ống mật; cũng có ý kiến cho rằng giun đũa vn sống môi trường kiềm trong khi độ
toan của dịch vtrẻ em lại thấp hơn người lớn nên chúng bò đi nơi khác tìm môi
trường thuận lợi hơn và dễ ngược dòng, chui vào đường mật.
Bệnh thể tái phát nhiều lần nếu không được định kỳ tẩy giun và vn tiếp
tục tái nhiễm giun.
Biểu hiện lâm sàng
Biểu hiện m sàng chyếu là những cơn đau bụng cấp. Diễn biến bệnh
trẻ em và người lớn rất khác nhau:
giai đoạn sớm, thể thấy trẻ đột ngột đau bụng dữ dội kèm nôn nhiều,
trcòn nôn ra giun. Trđau từng n, đau lăn lộn, vật vã; trphải ôm bụng
hoặc cào cấu vùng thượng vị, cắn quần áo hoặc nằm phủ phục, chổng mông,
bắt bế vác lên vai, bụng tỳ vào vai mchạy quanh nhà. Rồi đột nhiên n đau dịu
đi, trmệt lả, đẫm mồ hôi, mắt nhắm rồi cơn đau khác tái din. Cứ nvy mỗi
ngày đến 15-20 n. Khám thấy bụng i chướng, phản ứng một phần tư
bụng trên-phi, dưới bờ sườn phải và điểm dưới mũi ức rất đau, thể thấy khối u
(búi giun) vùng thượng vị.
Khoảng 1 tuần sau trẻ có dấu hiệu nhiễm trùng toàn thân: thân nhiệt dao
động, buổi chiều sốt 38-39oC, trvẫn đau liên tục nhưng dịu hơn một chút chỉ
đau âm nhưng phản ứng mạnh vùng thượng vị nhất là vùng hsườn phải, ấn
vào mũi ức rất đau, khi co cứng. Các dấu hiệu này chứng tỏ trẻ đã b viêm
nhiễm đường mật. Trẻ em hay bị viêm nhim, nếu không được điều trị dễ tiến
triển thành áp xe gan. Vì giun không làm tắc hoàn toàn đường mật nên có thể chưa
thấy trẻ vàng da, vàng mắt.
Chừng 2-3 tuần sau khi những cơn đau đầu tiên trxanh xao, gày yếu,
thiếu máu, sốt cao 39-40oC kéo dài, ăn m hẳn, bụng đau nhiều hơn. Khám thấy
gan to, chc, đau nhưng dấu hiệu rung gan không rõ; nhiều khi phải chụp X quang
mới thấy nếu gan to về phía trên, cần siêu âm để xác định bệnh. Xét nghiệm thấy
slượng hồng cầu giảm, bạch cầu tăng, tăng bạch cầu đa nhân trung tính, cũng
th thấy tăng bạch cầu đa nhân ái toan; chức năng gan bị ảnh hưởng: tỉ lệ
prothrombin hthấp, men phosphatase kiềm và men gan transminase tăng; tốc đ
lắng máu tăng chứng tỏ trẻ đã bị áp-xe gan.
- trẻ dưới 2 tuổi, triệu chứng nhiễm trùng xuất hiện rất sớm, thể chỉ
sau vài ba ngày một tuần, trẻ đã bị áp xe gan. Trong trường hợp này, trthường
triệu chứng thiếu máu kèm theo.
- trẻ lớn n (3-7 tuổi), tình trạng nhiễm trùng phần nhẹ n, viêm
nhiễm xảy ra muộn hơn.
- người lớn, bệnh cảnh m sàng giun lên ống mật điển hình hơn, biểu
hiện bằng những cơn đau bụng gan dữ dội kèm theo nôn nhiều nhưng tình trạng
viêm nhim lại ít hơn. Người bệnh đau vùng dưới sườn phải, đau lan ra sau lưng
đau lan lên bvai; đau từng cơn, lăn lộn, vật vã, phải xoay người đủ các thế
để chống lại cơn đau, nhiều khi phải nằm chổng mông, gập người mi đỡ đau.
Khám thấy đau vùng dưới sườn phải điểm dưới mũi ức cách 1,5 – 2cm vphía
phải dưới mũi ức (tương ứng với chỗ chia nhánh của ống gan trái thành ống
dưới phân thùy II III của gan trái rất đau; đặc biệt điểm sườn lưng đau (đau
nhói khi ấn vào khối thắt lưng góc sườn thứ 12); không thấy vàng da, vàng
mắt.
Biến chứng của áp xe gan do giun đũa:
- Áp xe gan vỡ vào ổ bụng gây viêm phúc mạc toàn thể. Bệnh rất nặng.
- Áp xe gan vvào màng phổi gây tràn dịch màng phổi. Người bệnh khó
thở, chọc dò hút ra mủ thối, có khi có trứng giun; nuôi cấy có vi trùng đường ruột.
- Áp xe gan vỡ vào màng ngoài tim: rất khó chẩn đoán, trẻ tử vong nhanh.
- Áp xe dưới cơ hoành thường phát hiện được bằng X quang.
Chẩn đoán
Việc xác định bệnh, thường phải dựa vào các triệu chứng sau:
- Đau dữ dội ở bụng trên, ấn đau ở dưới mỏm xương ức;
- thtrước đó vài ngày người bệnh đã tẩy giun; hoặc trong n đau
nôn ra giun, xét nghiệm thấy trứng giun trong dịch mật hoặc dịch hút tá tràng;
- Chụp X quang có cản quang hoặc siêu âm vùng túi mật thấy hình giun
trong túi mật, đường mật giãn, túi mật có thto.
Vđiều trị
Ở giai đoạn đầu nên điều trị nội khoa: nghỉ ngơi, ăn đủ chất, cho thuốc giãn
Oddi, thuốc lợi mật, tẩy giun; chưa nên ng thuốc kháng sinh. Theo dõi chặt
chđể kết luận chẩn đoán chính xác và phát hiện sớm dấu hiệu nhiễm trùng để
xử trí kịp thời.
Việc điều trị ngoại khoa chỉ đặt ra khi điều trị nội khoa không kết quả hoặc
bệnh diễn biến lâu nguy cơ biến chứng. Khi đã chđịnh mổ, cần phải chuẩn
bị chu đáo, nâng cao thể trạng, chống nhiễm trùng, và chăm sóc tốt sau mổ.
ý kiến cho rằng trẻ biếng ăn (do mắc một bệnh nào đó) hay bgiun lên ống mật do
trong quá trình tìm kiếm thức ăn, giun đã chiu vào ống mật; cũng ý kiến cho rằng giun đũa