TẠP CHÍ KHOA HỌC TRƯỜNG ĐẠI HỌC TRÀ VINH, TẬP 15, SỐ CHUYÊN ĐỀ (2025) DOI: 10.35382/TVUJS.15.7.2025.232
VỐN HỘI TRONG PHÁT TRIỂN DU LỊCH
CỘNG ĐỒNG BỀN VỮNG: TỔNG QUAN HỆ THỐNG
ĐỊNH HƯỚNG NGHIÊN CỨU TƯƠNG LAI
Tạ Xuân Hoài1, Phan Thị Ngàn2
SOCIAL CAPITAL IN SUSTAINABLE COMMUNITY-BASED TOURISM
DEVELOPMENT: A SYSTEMATIC LITERATURE REVIEW
AND FUTURE RESEARCH AGENDA
Ta Xuan Hoai1, Phan Thi Ngan2
m tắt Du lịch cộng đồng (CBT) ngày càng
được xem chiến lược phát triển bền vững tại
nhiều địa phương, trong đó vốn hội nổi lên
như một yếu tố trung tâm thúc đẩy sự gắn kết, tin
cậy hợp tác. Tuy nhiên, các nghiên cứu về mối
quan hệ giữa vốn hội du lịch cộng đồng
bền vững (SCBT) hiện vẫn còn phân tán, thiếu
hệ thống. Bài viết này thực hiện tổng quan tài
liệu theo phương pháp tổng quan kết hợp (Hybrid
Review), dựa trên khung phân tích tích hợp giữa
ba hình thái vốn hội ba tr cột phát triển
bền vững, nhằm: (i) xác định xu hướng nghiên
cứu chính, (ii) hệ thống hóa các khái niệm cốt
lõi, (iii) xây dựng cấu trúc tri thức học thuật
về vốn hội trong phát triển du lịch cộng đồng
bền vững. Kết quả nghiên cứu ch ra ba xu hướng
chính: ứng dụng vốn hội trong quản trị du lịch
cộng đồng, gắn kết vốn hội với phát triển sinh
kế, khả năng phục hồi dựa o vốn hội,
cùng bốn cụm tri thức trọng tâm. Nghiên cứu
cung cấp những định hướng mới ý nghĩa
ứng dụng thiết thực cho cộng đồng các nhà
quản về lĩnh vực này.
1,2Trường Đại học Nguyễn Tất Thành, Việt Nam
Ngày nhận bài: 18/7/2025; Ngày nhận bài chỉnh sửa:
5/9/2025; Ngày chấp nhận đăng: 19/9/2025
*Tác giả liên hệ: taxuanhoai@gmail.com
1,2Nguyen Tat Thanh University, Vietnam
Received date: 18 July 2025; Revised date: 5 September
2025; Accepted date: 19 September 2025
*Corresponding author: taxuanhoai@gmail.com
Từ khóa: du lịch cộng đồng, phát triển bền
vững, phân tích trắc lượng thư mục, vốn
hội.
Abstract Community-based tourism (CBT)
was increasingly regarded as a sustainable devel-
opment strategy in many localities, where social
capital emerged as a central factor fostering
cohesion, trust, and cooperation. However, cur-
rent research on the relationship between so-
cial capital and sustainable community-based
tourism (SCBT) remains fragmented and lacks
systematization. This study conducted a literature
review using the hybrid review method, based
on an analytical framework integrating the three
dimensions of social capital and the three pillars
of sustainable development, aiming to: (i) identify
research trends, (ii) systematize core concepts,
and (iii) construct a scholarly knowledge struc-
ture of social capital in sustainable community-
based tourism development. The findings reveal
three main trends: the application of social cap-
ital in community-based tourism governance, the
linkage of social capital with livelihood develop-
ment, and social capital-based resilience capabil-
ities, along with four central knowledge clusters.
The study provides new research directions and
offers practical implications for communities and
managers in this field.
Keywords: bibliometric analysis, community-
based tourism, social capital, sustainable devel-
opment.
1
T Xuân Hoài, Phan Thị Ngàn KINH TẾ HỘI
I. GIỚI THIỆU
Trong bối cảnh toàn cầu ngày càng nhấn mạnh
đến phát triển bền vững như một định hướng
chiến lược then chốt, ngành du lịch cũng không
nằm ngoài xu thế đó. Du lịch bền vững được xác
định một trong những trụ cột góp phần thực
hiện các Mục tiêu Phát triển Bền vững của Liên
Hợp Quốc, đặc biệt trong việc đảm bảo công
bằng hội, bảo tồn tài nguyên văn hóa, thiên
nhiên và thúc đẩy phát triển kinh tế địa phương
[1]. Trong số các hình du lịch hiện nay, du
lịch cộng đồng nổi lên như một phương thức tiếp
cận hiệu quả, đề cao vai trò chủ thể của cộng
đồng dân địa phương trong quá trình quản
lí, điều phối và hưởng lợi từ hoạt động du lịch.
Du lịch cộng đồng không chỉ giúp bảo tồn văn
hóa bản địa, giữ gìn tài nguyên thiên nhiên,
còn tạo điều kiện để cộng đồng nâng cao năng
lực, thúc đẩy sự tham gia của người dân vào q
trình ra quyết định [2]. Tại Việt Nam, hình
du lịch cộng đồng đã được triển khai tại nhiều
vùng nông thôn, miền núi, dân tộc thiểu số như
Sa Pa (tỉnh Lào Cai), Mai Châu (tỉnh Phú Thọ),
Quảng Nam (tỉnh Đà Nẵng). .. được đánh giá
một giải pháp hiệu quả trong việc kết nối giữa
phát triển kinh tế bảo tồn giá trị văn hóa, môi
trường [3].
Một trong những yếu tố đóng vai trò trung
tâm trong quá trình vận hành và phát triển du
lịch cộng đồng bền vững vốn hội. Theo
Putnam [4], vốn hội bao gồm các yếu tố như
niềm tin (trust), chuẩn mực hội (norms) và
mạng lưới quan hệ (networks) những yếu tố
giúp cộng đồng phối hợp hành động lợi ích
chung. Trong phát triển du lịch cộng đồng, vốn
hội giúp tăng cường sự tham gia, hợp tác và
chia sẻ giữa các bên liên quan, giảm thiểu xung
đột lợi ích, đồng thời củng cố khả năng tự chủ
và tính bền vững của địa phương, góp phần hình
thành một hệ sinh thái du lịch công bằng, dân
chủ và bền vững [5]. Mặc vai trò của vốn
hội trong du lịch cộng đồng đã được thảo luận
trong nhiều nghiên cứu đơn lẻ, tri thức hiện
vẫn còn phân mảnh thiếu hệ thống. Các công
trình hiện tại chủ yếu tập trung vào các nghiên
cứu tình huống địa phương, thiếu sự tích hợp
khung thuyết toàn diện hoặc không đặt trong
bối cảnh toàn cầu. Đồng thời, nghiên cứu tổng
quan hệ thống, tập trung vào mối quan hệ giữa
vốn hội và du lịch cộng đồng bền vững còn
hạn chế. Việc thiếu một khung thuyết tích hợp
làm cho các phát hiện hiện tại rời rạc, thiếu tính
khái quát và khó áp dụng trong y dựng chính
sách thực tiễn.
Trước thực trạng đó, nghiên cứu này góp phần
bổ sung khoảng trống học thuật quan trọng bằng
cách thực hiện tổng quan tài liệu, thông qua việc
kết hợp giữa phương pháp tổng quan hệ thống
và phân tích trắc lượng thư mục theo quy trình
PRISMA. Nghiên cứu tập trung làm ba mục
tiêu: (i) Xác định các xu hướng nghiên cứu chính,
(ii) Hệ thống hóa các khái niệm cốt lõi, (iii)
y dựng cấu trúc tri thức học thuật định
hướng nghiên cứu vốn hội trong du lịch cộng
đồng bền vững trong tương lai. Cụ thể, bài viết
hướng đến trả lời ba câu hỏi nghiên cứu sau:
Câu hỏi 1: Các xu hướng nghiên cứu chính v
vốn hội trong du lịch cộng đồng gì?
Câu hỏi 2: Những khái niệm cốt lõi nào đã
đang định hình mối quan hệ giữa vốn hội
phát triển du lịch cộng đồng bền vững?
Câu hỏi 3: Cấu trúc tri thức hiện tại thể
hiện những chủ đề, khoảng trống và định hướng
nghiên cứu tương lai nào v vốn hội trong du
lịch cộng đồng bền vững?
Kết quả nghiên cứu mang lại những đóng góp
được thể hiện trên ba phương diện chính. Thứ
nhất, v học thuật thuyết, bài viết đề xuất một
khung phân tích tích hợp giữa ba hình thái vốn
hội và ba tr cột phát triển bền vững, qua đó làm
vai trò tác động đa chiều của vốn hội
trong phát triển du lịch cộng đồng. Thứ hai, v
phương pháp, bài viết một trong những nỗ lực
kết hợp tổng quan hệ thống phân tích trắc
lượng thư mục trong nghiên cứu du lịch tại Việt
Nam. Thứ ba, v thực tiễn chính sách, các phát
hiện của bài viết thể hỗ trợ các nhà quản lí,
hoạch định chính sách và cộng đồng địa phương
trong việc y dựng các hình du lịch cộng
đồng bền vững dựa trên sự phát huy và quản trị
hiệu quả vốn hội. Đây cũng tiền đề để phát
triển các hình du lịch cộng đồng tính thích
ứng cao hiện nay.
2
T Xuân Hoài, Phan Thị Ngàn KINH TẾ HỘI
II. TỔNG QUAN TÀI LIỆU
Vốn hội
Vốn hội được công nhận rộng rãi một
khái niệm đa chiều bao gồm các mạng lưới xã
hội, các chuẩn mực v sự tương hỗ, lòng tin
sự hợp tác lẫn nhau, cho phép hành động tập thể
trong một cộng đồng [6]. Trong nghiên cứu du
lịch, vốn hội đã nổi lên như một cấu trúc nền
tảng để giải thích cách các cộng đồng tự tổ chức,
huy động nguồn lực và tương tác với các bên liên
quan bên ngoài theo những cách hỗ trợ lợi ích tập
thể và kết quả bền vững [7].
Ba chiều kích chính của vốn hội: vốn gắn
kết (bonding), vốn bắc cầu (bridging) và vốn
liên kết (linking). Vốn gắn kết đề cập đến các
mối quan hệ chặt chẽ trong các nhóm đồng nhất,
chẳng hạn gia đình hoặc cộng đồng dân tộc, thúc
đẩy sự đoàn kết nhưng cũng thể tạo ra sự độc
quyền. Vốn bắc cầu bao gồm các kết nối yếu hơn
nhưng đa dạng hơn giữa các nhóm hội khác
nhau, cho phép chia sẻ nguồn lực đổi mới.
Vốn liên kết liên quan đến các mối quan hệ theo
chiều dọc với các thể chế chính thức, cung cấp
khả năng tiếp cận các nguồn lực bên ngoài
ảnh hưởng đến việc hoạch định chính sách [8].
Tuy nhiên, sự mất cân bằng chẳng hạn việc
quá phụ thuộc vào vốn liên kết thể cản trở
tính bao trùm khả năng thích ứng, làm nổi bật
nhu cầu áp dụng một cách tinh tế trong phát triển
du lịch cộng đồng. Khung khái niệm y nền
tảng để hiểu cách vốn hội tương tác với phát
triển du lịch cộng đồng bền vững.
Phát triển du lịch cộng đồng bền vững
Du lịch cộng đồng được định nghĩa một hình
thức du lịch do cộng đồng địa phương sở hữu và
vận hành, với mục tiêu mang lại lợi ích kinh tế,
hội đồng thời bảo tồn văn hóa tài nguyên
thiên nhiên địa phương [9]. Du lịch cộng đồng
ngày càng được quảng như một giải pháp thay
thế bền vững cho du lịch đại chúng, đặc biệt
các vùng nông thôn và vùng thiểu số, nơi
mang lại hội trao quyền cho người dân địa
phương, bảo tồn văn hóa quản môi trường.
Phát triển bền vững trong bối cảnh du lịch cộng
đồng bao gồm việc đạt được sự cân bằng giữa bảo
v môi trường, công bằng hội và khả năng kinh
tế. Du lịch cộng đồng hỗ trợ các Mục tiêu Phát
triển Bền vững (SDGs) của Liên hợp quốc, đặc
biệt Mục tiêu 8 (việc làm tử tế), Mục tiêu 11
(cộng đồng bền vững) và Mục tiêu 17 (quan hệ
đối tác) [1]. Trong nhiều trường hợp, các sáng
kiến du lịch cộng đồng đã tạo điều kiện cho các
nhóm yếu thế, bao gồm phụ nữ các dân tộc
thiểu số, tham gia vào việc tạo thu nhập lãnh
đạo cộng đồng [10].
Tuy nhiên, sự thành công tính bền vững của
các sáng kiến du lịch cộng đồng phụ thuộc vào
một số yếu tố quan trọng: sự gắn kết cộng đồng,
quản trị sự tham gia, trao đổi kiến thức, niềm
tin vào lãnh đạo khả năng tiếp cận các nguồn
lực bên ngoài. Những yếu tố y v bản mang
tính quan hệ và gắn liền với các cấu trúc hội,
do đó, vốn hội trở thành một yếu tố then chốt
trong việc duy trì du lịch cộng đồng.
Vai trò của vốn hội trong du lịch cộng
đồng bền vững
Nhiều nghiên cứu nhấn mạnh cách mạng lưới
hội, niềm tin và các chuẩn mực đi lại
tạo điều kiện thuận lợi cho sự tham gia, quản
trị khả năng thích ứng của các cộng đồng du
lịch [11–14]. Ví dụ, trong bối cảnh Trung Java,
Indonesia, vốn liên kết và vốn bắc cầu mạnh mẽ
đã cho phép người dân làng phát triển các hoạt
động du lịch sinh thái phù hợp với các giá tr địa
phương và bảo tồn môi trường [11]. Tương tự,
nghiên cứu Bali (Indonesia) đã chỉ ra rằng các
thể chế du lịch do cộng đồng lãnh đạo đã hình
thành thông qua việc vun đắp các chuẩn mực địa
phương, niềm tin dựa trên quan hệ họ hàng và
các cấu trúc quản tr truyền thống, vốn những
hình thức vốn hội đã ăn sâu bén rễ [12].
Ngoài sự gắn kết nội bộ, vốn bắc cầu và vốn
liên kết đóng vai trò quan trọng trong việc thu
hút các tác nhân bên ngoài và đảm bảo sự hỗ
trợ. Trong trường hợp du lịch cộng đồng huyện
Batang (Indonesia), sự hợp tác hiệu quả giữa
cộng đồng và các bên liên quan bên ngoài trong
ngành du lịch được thực hiện thông qua việc kết
nối các mối quan hệ hội và niềm tin thể chế
[13]. Hơn nữa, các khu vực như Malaysia, thành
công của phụ nữ trong kinh doanh homestay du
lịch cộng đồng gắn liền chặt chẽ với khả năng
tiếp cận và huy động vốn hội của họ trong
mạng lưới bạn và cộng đồng rộng lớn hơn
[14].
Vốn hội cũng góp phần vào khả năng phục
hồi. Trong các cuộc khủng hoảng, chẳng hạn đại
3
T Xuân Hoài, Phan Thị Ngàn KINH TẾ HỘI
dịch COVID-19, các cộng đồng mức độ tin
tưởng cao hơn, các chuẩn mực chung hành
động phối hợp đã vị thế tốt hơn để duy trì an
ninh sinh kế và thích ứng với các hoạt động [15].
Tuy nhiên, các tài liệu cũng chỉ ra những thách
thức. Khi vốn hội được phân bổ không đồng
đều hoặc bị giới tinh hoa địa phương nắm giữ,
thể củng cố các thực hành loại trừ hoặc
cản trở sự đổi mới [15]. Do đó, vai trò của vốn
hội trong du lịch cộng đồng cần được xem xét
trên cả hai khía cạnh hỗ trợ và hạn chế.
Khoảng trống nghiên cứu và sở luận
cho tổng quan hệ thống
Mặc các tài liệu hiện nhấn mạnh tầm
quan trọng của vốn hội trong du lịch cộng
đồng bền vững, nhưng vẫn còn một số khoảng
trống quan trọng cho sự cần thiết của một đánh
giá hệ thống. Thứ nhất, các nghiên cứu thường
tập trung vào bối cảnh cụ thể, hạn chế so sánh
liên văn hóa xem xét cách thức vốn hội vận
hành khác nhau trong các môi trường chính trị,
văn hóa thể chế khác nhau. Thứ hai, các yếu
tố động lực chẳng hạn chuyển đổi số, biến đổi
khí hậu và toàn cầu hóa. . . chưa được khám phá
đầy đủ, mặc chúng ảnh hưởng ngày càng
tăng đến động lực vốn hội. Thứ ba, mặc
các nghiên cứu thường dựa trên các định nghĩa
của Putnam [6] hoặc Bourdieu [16], nhưng sự
tích hợp vốn hội với các khuôn khổ khác như
quản trị hợp tác, thuyết thể chế hoặc thuyết
phục hồi vẫn còn hạn chế.
Do đó, nghiên cứu y áp dụng phương pháp
tổng quan hệ thống kết hợp với phân tích trắc
lượng thư mục nhằm tổng hợp cấu trúc lại
các tài liệu rời rạc v vốn hội trong du lịch
cộng đồng bền vững. Cách tiếp cận y không
chỉ cung cấp một bức tranh toàn diện v lĩnh vực,
còn định hình các hướng nghiên cứu tương
lai dựa trên bằng chứng thực nghiệm và sở
thuyết vững chắc.
III. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu y sử dụng phương pháp tổng
quan kết hợp (Hybrid Review), kết hợp giữa
tổng quan hệ thống (Systematic Literature
Review SLR) phân tích trắc lượng thư mục
(Bibliometrics). Cách tiếp cận y giúp nhận
diện các cụm khái niệm cốt lõi, khoảng trống
nghiên cứu và cấu trúc tri thức hiện hữu một cách
khoa học, hệ thống, nhằm tổng hợp toàn diện
và trực quan các xu hướng nghiên cứu liên quan
đến vốn hội trong du lịch cộng đồng bền vững.
A. Thiết kế nghiên cứu và thu thập dữ liệu
Quy trình thu thập dữ liệu được thực hiện theo
khung PRISMA 2020 (Preferred Reporting Items
for Systematic Reviews and Meta-Analyses), bao
gồm năm giai đoạn: (1) xác định tài liệu; (2) sàng
lọc tài liệu; (3) đánh giá toàn văn; (4) lựa chọn
tài liệu phù hợp; và (5) phân tích tài liệu [17]
(Hình 1). Phương pháp y đảm bảo tính nghiêm
ngặt và khách quan trong thu thập tài liệu tổng
quan, giúp giảm thiểu sai lệch nâng cao độ tin
cậy của kết quả nghiên cứu.
Tài liệu tổng quan được thu thập trong khung
thời gian từ năm 2020 đến năm 2024. Mốc thời
gian y được lựa chọn nhằm tập trung vào các
xu hướng học thuật mới nhất, đặc biệt trong
bối cảnh ngành du lịch quản tr cộng đồng
nhiều chuyển biến do tác động của đại dịch
COVID-19, sự phát triển của công nghệ số, cũng
như nhu cầu đổi mới duy v phát triển bền
vững trong du lịch.
Giai đoạn xác định tài liệu được thực hiện
thông qua ba sở dữ liệu học thuật chính:
Scopus, Web of Science và Google Scholar.
Các từ khóa tìm kiếm bao gồm ‘social capital’,
‘community-based tourism’ và cụm từ mở rộng
‘sustainab’*, bằng thuật toán tử logic (AND, OR)
để đảm bảo tính bao quát và độ chính xác cao.
Tổng cộng, 615 tài liệu ban đầu được xác định,
trong đó bao gồm các bài báo khoa học, báo cáo
hội thảo và tài liệu xám.
Giai đoạn sàng lọc tài liệu áp dụng các tiêu
chí loại trừ nghiêm ngặt để đảm bảo chất lượng
tài liệu. Cụ thể, 46 bài báo trùng lặp, 234 bài
báo không trải qua quy trình bình duyệt 23
ấn phẩm không bằng tiếng Anh đã được loại bỏ.
Sau quá trình y, 312 tài liệu đáp ứng các tiêu
chuẩn bộ được giữ lại để đánh giá chi tiết hơn.
Giai đoạn đánh giá toàn văn tập trung vào việc
kiểm tra mức độ phù hợp của tài liệu với mục
tiêu nghiên cứu. Các bài báo không liên quan đến
du lịch cộng đồng (67 bài) hoặc thiếu trọng tâm
v phát triển bền vững (91 bài) bị loại bỏ. Kết
quả, 154 tài liệu đủ điều kiện được chọn để tổng
hợp và phân tích sâu hơn.
4
T Xuân Hoài, Phan Thị Ngàn KINH TẾ HỘI
Hình 1: Quy trình thu thập tài liệu tổng quan theo khung PRISMA 2020
Giai đoạn tổng hợp phân loại tài liệu theo
nguồn gốc xuất bản, bao gồm 89 bài báo từ
Scopus và Web of Science, cùng 18 tài liệu xám
từ Google Scholar. Tổng số 107 tài liệu còn lại
đại diện cho nguồn dữ liệu chính của nghiên cứu
y.
Giai đoạn phân tích tài liệu sử dụng phần mềm
NVivo để hóa đánh giá định tính, đồng thời
áp dụng công cụ VOSviewer SciMAT để phân
tích mạng lưới trích dẫn và xu hướng nghiên cứu.
Cách tiếp cận y không chỉ làm các chủ đề
nổi bật còn xác định khoảng trống nghiên cứu
trong lĩnh vực y.
B. Phân tích dữ liệu
Đối với phân tích SLR, quy trình hóa chủ
đề được triển khai trên phần mềm NVivo, bao
gồm 6 bước: làm quen với dữ liệu, tạo
cấp, xác định chủ đề, soát chủ đề, định nghĩa
chủ đề và báo cáo kết quả. Để đảm bảo độ tin
cậy, nghiên cứu kiểm tra độ thống nhất giữa các
hóa (K = 0,82) thông qua hóa độc lập
20% mẫu ngẫu nhiên [18]. Kết quả hóa được
tổng hợp thành các cụm chủ đề chính khái
quát hóa thành các trụ cột tri thức liên quan đến
vốn hội và du lịch cộng đồng. Tổng hợp kết
quả bằng thuật lập bản đồ tri thức để hỗ trợ
cho phân tích thảo luận định hướng nghiên
cứu tiếp theo.
V phân tích trắc lượng thư mục, nghiên cứu
sử dụng hai công cụ chính: VOSviewer dùng để
phân tích đồng xuất hiện từ khóa và trích xuất
mạng lưới các khái niệm liên quan. Kết quả phân
tích giúp xác định các chủ đề phổ biến, tần suất
xuất hiện và mối liên hệ giữa các thuật ngữ khoa
học [19]. Trong khi đó, SciMAT được áp dụng
để phân tích sự phát triển của các cụm chủ đề
theo thời gian và tạo ra bản đồ chiến lược tri thức,
giúp nhận diện các chủ đề nổi bật, giảm bớt hoặc
đang phát triển trong giai đoạn 2020–2024 [20].
Việc kết hợp NVivo, VOSviewer SciMAT
tạo nên một cách tiếp cận phân tích đa chiều
vừa đảm bảo chiều sâu định tính, vừa tính
trực quan khách quan hóa định lượng, giúp
5