
VỐN XÃ HỘI VÀ PHÁT TRIỂN (Phần II)
Luật sư Nguyễn Ngọc Bích
Khi sự tin cẩn lẫn nhau được tích
tụ lại nhờ các sinh hoạt tự nguyện, thì đó là vốn xã hội, và nó tạo ra những
tài sản chung. Vốn đó làm cho các cố gắng của chính quyền trở nên hữu hiệu.
III. Vốn xã hội ở ta
Trên cơ sở của các mối tương quan nêu trên, ta sẽ tìm xem vốn xã hội của
chúng ta có cao không, bằng cách xem xét các yếu tố tinh thần tạo nên niềm tin.
Đó là sự trung thực, sự tương tác, tinh thần trách nhiệm và sự hợp tác. Chúng ta sẽ
tìm xem cơ cấu xã hội và việc xây dựng con người của chúng ta có giúp làm nảy
sinh, duy trì, phát triển những đức tính tốt kia không; chúng có hiện diện trong hai
lĩnh vực mà ta xem xét hay không, nếu có thì nhiều hay ít.
Cơ cấu xã hội
Cơ cấu xã hội là điều kiện bên ngoài, là môi trường, giúp tạo nên, nuôi
dưỡng những đức tính tốt của một cá nhân. Ở đây chúng tôi chọn hai khía cạnh
nằm trong cơ cấu xã hội để xem xét là: việc đoàn ngũ hóa các thành phần dân
chúng và cấu trúc Đảng – chính quyền.
Việc đoàn ngũ hóa.

Ở ta, dân chúng được thúc đẩy gia nhập các tổ chức quần chúng do Đảng lập
ra và lãnh đạo (Mặt trận Tổ quốc, Đoàn Thanh niên, Hội phụ nữ, Công đoàn, Hội
nông dân...). Đó là các tổ chức xã hội chính trị truyền thống. Ngoài ra, còn có các
tổ chức xã hội nghề nghiệp do các cơ quan chính quyền hay tư nhân lập. Cuối
cùng là các nhóm tự phát của quần chúng (hội đồng hương, hội ái hữu, cựu học
sinh...) Sự hiện hữu của các hội đoàn này có đóng góp vào việc tạo ra các đức tính
giúp gây dựng vốn xã hội không?
Đối với các tổ chức truyền thống thì tính chất của chúng cũng giống như các
hội đoàn của giáo hội Công giáo tại các nhà thờ. Sự khác biệt chỉ là người Công
giáo khi sinh hoạt trong các đoàn thể kia thì họ có giáo lý trong lòng mình cùng
nội quy của hội; trong khi các hội viên của các đoàn thể của Nhà nước chỉ có nội
quy. Giống như các hội đoàn của đạo Công giáo, sự hoạt động của các đoàn thể
truyền thống không tạo nên vốn xã hội góp vào việc phát triển kinh tế. Có vài lý
do. Thứ nhất, mục đích của các hội này là chính trị, mà chính trị thuộc kiến trúc
thượng tầng, trong khi kinh tế là hạ tầng. Thứ hai, người lãnh đạo các đoàn thể
không do đoàn viên bầu mà do Đảng cử vào; nên lo cho hội viên thì ít mà cho
mình thì nhiều; thành thử các tổ chức đó đã bị hành chính hóa và nhà nước hóa.
Cuối cùng trong các đoàn viên có những người không hẳn là tự nguyện. Hiệu quả
của các hội đoàn này có thể thấy qua sự thất bại của công đoàn trong các cuộc
đình công gần đây, hay vai trò của Hội Nông dân trong việc hướng dẫn nông dân
trồng trọt. Do mục đích của chúng, các đoàn thể này không giao tiếp với nhau theo
chiều ngang mà chỉ theo chiều dọc, từ trên đi xuống; do đó hiệu quả của các hoạt
động của chúng không tác động gì đến vốn xã hội.
Trong tâm người Việt Nam

Có ngạc nhiên không khi chính khái niệm vốn xã hội đã được Trần Nhân
Tông (TNT) trong giai đoạn dựng nước sử dụng khi đưa ra một mẫu mực đạo
lý sống trong một xã hội vừa giành được chủ quyền độc lập và đang ở trong
giai đoạn kiến thiết đất nước? Trong “Cư trần lạc đạo phú”, (“Sống đời vui
đạo"), TNT đã bàn về “xây vốn xã hội” cho con người Việt Nam (VN) trong
buổi sơ khai lập quốc ấy, khi nói về “của báu trong nhà”. Của báu ấy trước hết
là CON NGƯỜI VN, một vốn quý báu nhất trong xã hội. “Cư trần lạc đạo”
gồm 10 hội trình bày quan điểm toàn diện của TNT về xã hội VN, dự án giáo
dục, đào tạo con người, “gây vốn” cho một xã hội nhân bản nhằm có thể phát
huy và bảo đảm an lạc cộng đồng.
“Sạch giới lòng, dồi giới tướng/ Nội
ngoại nên Bồ tát trang nghiêm” đồng thời luôn luôn chuẩn bị cho giải phóng tự
do.
Điểm đặc biệt trong lý thuyết ở đời vui đạo là tính toàn diện, bao gồm
trên mọi bình diện: xã hội “mình ngồi thành thị, nết dụng sơn lâm”, triết lý tùy
duyên, không ép buộc, không khai trừ “đói cứ ăn đi mệt ngủ liền”, hành động

đạo đức “Sạch giới lòng, dồi giới tướng/
Hội thứ nhất nói về không gian “Xã
hội VN” của con người VN, đó là một không gian xuyên suốt thành thị và sơn
lâm trong một tương quan đi về của muôn nghiệp, mà mục đích của con người
là “dừng nghiệp” xấu chuyển nghiệp lành, được sống trong “an nhàn thể tính”.
Nhưng an nhàn đối với TNT không chỉ ở sơn lâm, mà trần tục náo nhiệt cũng
không chỉ ở thị thành, nếu con người không được khai sáng một cái nhìn rộng
mở trong quá trình thực tập cái Tâm hay Tu Tâm: “yêu tính sáng hơn yêu châu
báu”, “trọng lòng rồi mới trọng hoàng kim”. Thành thị hay sơn lâm đều là đất
thao luyện cho TÂM, không nơi nào là ưu việt hơn. Sự thao luyện này bao gồm
kỷ luật nghiêm túc:
Nội ngoại nên Bồ tát trang nghiêm/ Ngay thờ chúa thảo thờ cha/ Đi dỗ
mới trượng phu trung hiếu”, tôn giáo “Tích nhân nghì, tu đạo đức/ Ai hay này
chẳng Thích Ca/ Cầm giới hạnh, đoạn gian tham/ Chỉn thực ấy là Di Lặc”.
Một vốn xã hội mang nhiều yếu tố xã hội trong nghĩa không khai trừ,
năng động khai mở và tạo khả thể hội nhập, không phân biệt giai cấp và khai
phóng tự do, nguồn suối của nhân nghĩa và tình thương:
Dứt trừ nhân ngã

Thì ra thực tướng kim cương
Dừng hết tham sân
Mới làu lòng viên giác
Vốn xã hội giàu tính xã hội không phân biệt giàu nghèo, đẳng cấp, dấn
thân cho đời tu tâm vì đạo:
Vâng ơn thánh xót mẹ cha
Thì thầy học đạo
Mến đức Cồ kiêng bùi ngọt
Cầm giới ăn chay
Dựng cầu đò, xây chiền tháp,
Ngoài trang nghiêm sự tướng hãy tu
Săn hỉ xả nhuyễn từ bi
Nội tự tại kinh lòng hằng đọc
Một lý thuyết chứng tỏ tính chân lý của nó trong thời gian, khi nó đứng
vững và đem lại an lạc cho cộng đồng. Vốn xã hội mà TNT dựng lên đã được
tiếp nối và phát huy trong chiều dài lịch sử VN, nó trở nên niềm tự tin và sức
mạnh tâm thể của con người VN.
Thái Kim Lan

