intTypePromotion=4
Array
(
    [0] => Array
        (
            [banner_id] => 142
            [banner_name] => KM3 - Tặng đến 150%
            [banner_picture] => 412_1568183214.jpg
            [banner_picture2] => 986_1568183214.jpg
            [banner_picture3] => 458_1568183214.jpg
            [banner_picture4] => 436_1568779919.jpg
            [banner_picture5] => 
            [banner_type] => 9
            [banner_link] => https://tailieu.vn/nang-cap-tai-khoan-vip.html
            [banner_status] => 1
            [banner_priority] => 0
            [banner_lastmodify] => 2019-09-18 11:12:29
            [banner_startdate] => 2019-09-12 00:00:00
            [banner_enddate] => 2019-09-12 23:59:59
            [banner_isauto_active] => 0
            [banner_timeautoactive] => 
            [user_username] => minhduy
        )

)

Vũ khúc cơn giận

Chia sẻ: Hoang Jury | Ngày: | Loại File: DOC | Số trang:116

0
155
lượt xem
75
download

Vũ khúc cơn giận

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Sự thách thức của cơn giận”, ta thấy thế nào là đối xử với nhiều nữ tính: “Chúng ta hướng năng lực đầu tiên vào việc che chở cho người khác và bảo vệ hòa khí trong mối liên hệ, thay vì nhìn rõ vào bản thân mình. Với thời gian, chúng ta mất dần sự sáng suốt vì chúng ta dành quá nhiều cố gắng để thăm dò phản ứng của người kia và càng ngày càng giảm bén nhạy về những cảm nghĩ và ước vọng của mình”. Tác giả giải thích tại sao ta thường bất bình trong...

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Vũ khúc cơn giận

  1. LỜI NÓI ĐẦU Khi cầm cuốn sách này lên thì bạn có thể cho phép mình được đi sâu vào tâm lý của nữ giới. Ít khi tôi được đọc những nhận xét sâu sắc về những bước ti ến và lùi, di ễn tả cuộc đấu tranh trong tâm hồn người đàn bà. Tôi xin ghi lại đây vài ví d ụ, nói lên sự độc đáo và chiều hướng của tác giả: Trong chương I: “Sự thách thức của cơn giận”, ta thấy thế nào là đối xử v ới nhi ều nữ tính: “Chúng ta hướng năng lực đầu tiên vào việc che chở cho người khác và bảo vệ hòa khí trong mối liên hệ, thay vì nhìn rõ vào bản thân mình. Với thời gian, chúng ta mất dần sự sáng suốt vì chúng ta dành quá nhiều c ố g ắng đ ể thăm dò ph ản ứng của người kia và càng ngày càng giảm bén nhạy về những cảm nghĩ và ước vọng của mình”. Tác giả giải thích tại sao ta thường bất bình trong cuộc sống: “Sửa đổi và kiểm soát người khác là việc không bao giờ thực hiện nổi. Trong khi dùng h ết sức mình để thay đổi kẻ không thể sửa đổi được, ta đã quên không sử dụng một khả năng, đó là khả năng thay đổi chính mình” Và đây là điểm chính yếu trong đời sống con người, đem đến niềm vui hay nỗi buồn cho những chuỗi ngày chúng ta: “Người ta đến văn phòng nhà trị liệu hay bệnh vi ện tâm thần và nói: “Xin cho biết cái gì trục trặc nơi tôi?” thay vì nói đúng cái đi ều c ốt yếu: “Xin cho biêt cái gì trục trặc trong quan hệ giữa tôi với vợ tôi (hoặc với ch ồng tôi, với con tôi)”. Đọc lại nhiều lần những trang này, tôi thấy có hai ý được tác giả chú trọng, đó là sự trong sáng và sự thay đổi. Trước hết là sự trong sáng: “Vai trò của cơn giận là thúc đ ẩy s ự suy t ư trong sáng hơn về cái tôi , nó thúc đẩy ta phải đặt những câu hỏi rõ ràng, nêu lên những lời phát biểu minh bạch để giải quyết vấn đề. Tôi là ai ? Tôi muốn gì? Tôi x ứng đáng đ ược hưởng cái gì? Đó là những câu hỏi căn bản ta cần thấu triệt trong mọi hoàn cảnh. Ý thứ nhì là sự thay đổi. Nếu muốn mối quan hệ mà ta th ường trách móc đ ược tốt hơn, ta phải thay đổi cách cư xử. Không thể lập lại một nếp cũ, vốn đã dẫn chúng ta đến bế tắc rồi. Thay đổi là: nói giọng dịu dàng hơn, có những cử chỉ gần gũi hơn, có được những hành vi thoải mái hơn… Cuối cùng, giữa quan hệ tốt và cái tôi vững mạnh, bạn nên chọn cái nào? “Chúng ta do dự giữa hai thái độ: hoặc có được một quan hệ tốt, hoặc có đ ược một cái tôi vững mạnh. Cuốn sách này có tham vọng muốn giúp chúng ta đạt được cả hai”.
  2. Trước khi kết thúc, tôi muốn nhắc lại lời tác giả: “Phần bản ngã sâu thẳm của chúng ta là sợ, và chống lại sự đổi thay. Mỗi chúng ta thuộc về một nhóm hay một hệ thống lớn hơn, và bất cứ đổi thay nào cũng gặp phải chống đ ối mạnh mẽ. Chính những người thân thiết nhất với chúng ta thường muốn chúng ta cứ giữ nguyên như cũ, mặc dầu bề ngoài vẫn công khai chỉ trích, than phiền chúng ta”. “Chúng ta không thể bắt kẻ khác thay đổi bước nhảy của họ trong một bản khiêu vũ, nhưng nếu chúng ta thay đổi chính bước nhảy của mình thì bản khiêu vũ không còn có thể tiếp tục theo nhịp điệu cũ được nữa”. Mong các bạn sẽ hài lòng khi làm quen với bà Harret Lerner và sự tiếp xúc đó sẽ làm nhẹ nhàng những giờ phút các bạn phải phấn đấu để tìm được niềm vui sống.
  3. Chương 1: SỰ THÁCH THỨC CỦA CƠN GIẬN Cơn giận của chúng ta là một tín hiệu, và là một tín hiệu đáng được lắng nghe. Nó có thể là một thông điệp báo cho hay rằng chúng ta đang bị xúc phạm, quyền lợi đang bị lấn áp, nhu cầu và ước muốn không được đáp ứng đ ầy đ ủ, hoặc ch ỉ đ ơn giản: việc đang xảy ra là không đúng. Nó có thể là một d ấu hiệu báo cho bi ết chúng ta đã không chú tâm tới một vấn đề tình cảm quan trọng nào đó, hoặc là quá nhi ều cái trong bản ngã chúng ta – như niềm tin, giá trị, ước muốn, tham v ọng – đang b ị liên lụy trong một mối tương quan. Nó có thể là dấu hiệu báo cho hay chúng ta đã làm nhiều, cho nhiều hơn là chúng ta có thể làm hay cho một cách thoải mái, hoặc kẻ khác đã làm quá nhiều cho chúng ta, gây nguy hại cho chính sự thông th ạo và trưởng thành của chúng ta. Song, đã từ lâu nữ giới chúng ta không được khuyến khích ý th ức và bi ểu l ộ th ẳng thắn cơn giận dữ. Chúng ta là những kẻ nuôi dưỡng, xoa dịu, hòa giải…, những kẻ giữ vững con tàu đang bị lắc lư. Nhiệm vụ chúng ta là phải chở che, làm hài lòng và hòa dịu thế giới. Chúng ta phải duy trì những mối liên lạc như th ể chính đời s ống chúng ta tùy thuộc vào đó. Dù xã hội có đồng tình với mục tiêu nam nữ bình quyền nhưng những phụ nữ tỏ ra giận dữ lộ liễu với đàn ông vẫn đều bị coi là không đáng tin cậy, vẫn đều dễ bị mọi người xa lánh! Khác với nam giới được ca tụng khi chiến đấu và chết cho điều mình tin tưởng, phụ nữ chúng ta có thể bị lên án chỉ vì đã tiến hành những cuộc cách mạng không đổ máu và đầy nhân tính ấy cho quyền lợi của chúng ta! C ơn giận d ữ th ẳng thừng, đặc biệt khi hướng về nam giới, dễ khiến chúng ta bị đánh giá là thi ếu “n ữ tính”, thiếu “vẻ nết na, thùy mị, dịu hiền…” và vì vậy mà cũng “hết còn h ấp d ẫn”! Thậm chí những “phụ nữ nổi giận” còn có thể bị lên án là “đanh đá”, “bà ch ằng”, “mụ phù thủy ác độc”, “quỉ cái”…Họ bị coi là “không bi ết yêu” và do v ậy “ch ẳng đáng được yêu”! Cũng là điều lý thú khi nhận ra rằng: cả trong ngôn ngữ thường ngày, xã hội cũng bênh vực và khuyến khích nam giới hơn trong cái quyền được n ổi giận. Bởi vì có những cấm kỵ quá mạnh mẽ như vậy đối với việc phụ nữ cảm nhận và bày tỏ sự giận dữ, nên thật không đơn giản để chúng ta biết được lúc nào mình nổi giận. Khi một người đàn bà nổi giận, người đó bị coi là thiếu lý trí, x ấu xa, t ồi t ệ… Gần đây tôi có dự một hội nghị chuyên nghiệp, một nữ bác sĩ trẻ thuyết trình về những phụ nữ bị đánh đập. Cô nêu ra nhiều ý kiến mới lạ, hấp dẫn, truyền đ ạt
  4. được sự dấn thân sâu sắc của cô trong vấn đề đó. Giữa buổi thuyết trình, một bác sĩ tâm thần nổi tiếng ngồi phía sau tôi đứng dậy bỏ đi. Khi đứng lên, ông quay v ề người ngồi cạnh và thốt lời phán đoán: “Đúng là một người đàn bà vô cùng ph ẫn nộ!”. Như vậy đó! Việc ông ta khám phá – hay tưởng mình khám phá – ra sự giận dữ trong giọng nói của diễn giả không những đã làm ông hiểu lầm những đi ều cô nói mà còn hiểu lầm chính cô nữa. Khi giận dữ, chúng ta thường luôn gặp phải sự từ bỏ và chê trách của kẻ khác như vậy, cho nên việc chúng ta khó chấp nhận là mình đang nổi giận chẳng có gì đáng ngạc nhiên. Tại sao những phụ nữ nổi giận lại làm người khác kinh sợ đ ến thế? Nếu chúng ta cảm thấy mình có lỗi, cảm thấy chán nản hay ngờ vực, chúng ta thường đứng nguyên tại chỗ, không hành động, trừ phi hành động chống lại bản thân. Hậu quả là chúng ta không thể trở thành những tác nhân góp phần vào việc cải tạo con người và xã hội. Ngược lại, như những gì chúng ta đã chứng kiến về phong trào đòi nam n ữ bình quyền trong suốt thập kỷ qua, chính những “phụ nữ nổi giận” đã có th ể thách thức và làm đổi thay tất cả. Chúng ta còn thấy rằng sự đổi thay nói trên đã làm n ẩy sinh nhiều âu lo và khó khăn cho tất cả mọi người, kể cả những người hăng hái nhập cuộc nhất trong chúng ta. Như vậy, ngoài việc sợ bị người khác chê bai, một lý do nữa khiến chúng ta phải e ngại những cơn giận của chính mình là: chúng báo hiệu cần có đổi thay. Do những e ngại đó mà chúng ta có thể tự đặt những câu hỏi đ ể ngăn c ản hoặc vô hiệu hóa những kinh nghiệm nổi giận của chúng ta: “Liệu sự nổi giận của tôi có thể biện minh được không?”, “Liệu tôi có được quyền nổi giận không?”, “Nổi giận như vậy mang lại lợi ích gì?”, Nổi giận như vậy tốt lành gì?”…Những câu tự hỏi này có thể là cách tốt nhất giúp ta nguôi ngoai, ngăn chặn hẳn cơn giận dữ. Hãy xét lại những câu tự hỏi đó. Sự nổi giận chẳng hợp pháp mà cũng ch ẳng b ất hợp pháp, chẳng có ý nghĩa mà cũng chẳng vô ý nghĩa. Sự nổi giận ch ỉ đ ơn gi ản là thế đó. Tự hỏi: “Sự nổi giận của tôi có biện minh được không?” cũng giống nh ư tự hỏi: “Liệu tôi có quyền được khát nước không?”. Cho dù tôi mới cạn một ly tr ước đây mười lăm phút, chắc chắn là sự khát của tôi cũng không thể biện minh được. Vả lại, tự hỏi thế mà làm gì trong khi vấn đề là hiện giờ tôi chưa tìm ra nước uống? Sự tức giận là một cái gì chúng ta cảm thấy. Nó hiện hữu có lý do và đáng đ ể chúng ta phải chú ý, tôn trọng. Chúng ta đều có quyền có những trạng thái mà mình c ảm thấy – và chắc chắn sự nổi giận của chúng ta không thể là một ngoại lệ. Tuy nhiên, vẫn có những câu tự hỏi hữu ích khi chúng ta giận dữ: “Tôi đang thực s ự bực bội về cái gì đây?”, “Bực bội về vấn đề nào ?”, “Làm sao để tôi có th ể phân biệt ra ai chịu trách nhiệm về việc nào?”, “Làm sao để tôi bi ết cách nổi gi ận mà không để cho mình cảm thấy bị bỏ rơi và bất lực?”, “Làm cách nào để nói lên rõ rệt
  5. vị trí của mình mà không rơi vào thế phải tự vệ hay phải tấn công?”, “Tôi phải đ ối diện với những rủi ro nào, những mất mát nào nếu muốn tỏ ra minh bạch h ơn hay quả quyết hơn?”, “Nếu nổi giận không giúp ích được chi thì tôi ph ải làm gì khác?”…Những câu hỏi này chúng ta sẽ nêu lên ở những chương kế tiếp, với mục đích không phải để gạt bỏ cơn giận hay nghi ngờ hiệu lực của nó, mà đ ể có đ ược một hiểu biết nhiều hơn về nguồn gốc cơn giận hầu tìm ra cách hành động mới mẻ hơn trong nếp cư xử của chính mình. Nhưng đồng tiền còn có mặt trái của nó: nếu cảm thấy bực bội là dấu hiệu có vấn đề thì việc làm hả giận vẫn chưa giải quyết được vấn đề đó. Làm hả giận có thể chỉ duy trì và làm cứng rắn thêm những nếp cũ, qui tắc cũ trong m ột m ối tương giao, do đó càng chắc chắn rằng sẽ không hề có thay đổi. Khi cường độ cảm xúc dâng cao, phần lớn chúng ta cố gắng thay đổi người kia – một cách vô hiệu quả – trong khi chúng ta quên không dồn năng lực vào việc soi sáng và thay đổi chính bản thân chúng ta. Còn lý thuyết xưa bảo chúng ta nuốt giận và cứ để mọi việc lửng lơ cốt che chở chúng ta khỏi những bộc lộ bất ngờ, lý thuyết ấy không còn đúng nữa. Chúng ta sẽ không sao tránh khỏi phiền muộn, tự hạ giá, tự phản bội, kể cả tự căm thù mình nếu chúng ta chiến đấu mà đồng thời vẫn cam chịu những hoàn c ảnh b ất công; nếu chúng ta than phiền nhưng lại cam sống theo kiểu phản bội những kỳ vọng, giá trị, tiềm năng của mình; hoặc nếu chúng ta nhận ra mình đang tr ở thành một kẻ đanh ác, chua ngoa, phá hoại trong xã hội. GIẬN DỮ SAI TRÁI Khi không biết xử lý cơn giận một cách hiệu quả, chúng ta có th ể r ơi vào một hay cả hai hạng người sau đây: hạng “đàn bà dễ thương”, chúng ta cố tránh nổi gi ận, tránh cãi cọ bằng mọi giá; hạng “đàn bà đanh đá”, chúng ta dễ dàng nổi gi ận nhưng lại tham gia một cuộc chiến đấu than thở, trách móc. Cả hai cung cách trên th ường chẳng đem lại một kết quả xây dựng nào. Hai cách nổi giận này khác nhau như ngày với đêm vậy. Nhưng thực ra c ả hai đ ều được sử dụng để bảo vệ đối phương, để làm lu mờ sự trong sáng của bản thân và để bảo đảm sẽ không có gì đổi thay. Chúng ta hãy xem việc đó xảy ra như thế nào.
  6. Mẫu phụ nữ “dễ thương”: Nếu là “người đàn bà dễ thương” chúng ta sẽ hành động ra sao? Vào trường hợp thực sự đáng nổi giận, đáng phản bội, thì chúng ta im lặng, hoặc khóc ròng, t ự trách mình và chịu đau khổ. Nếu quả thực thấy nổi nóng, chúng ta có giữ kín trong thâm tâm để tránh gây thành cuộc xung đột bên ngoài. Không những giữ kín n ổi bực tức. chúng ta còn tìm cách tránh nói rõ những gì mình cảm nghĩ n ếu thấy nói rõ s ẽ làm người kia mất thoải mái. Khi cư xử như vậy, chúng ta đã dồn năng lực của mình vào việc che chở cho người khác và bảo vệ hòa khí trong mối liên hệ, thay vì nhìn rõ vào bản thân mình. Với thời gian, chúng ta mất dần sự sáng suốt vì đã dành quá nhiều cố gắng cho việc thăm dò phản ứng người khác. Có thể càng ngày chúng ta càng giảm bén nhạy về những cảm nghĩ và ước vọng của mình. Càng “dễ thương” theo kiểu này, chúng ta càng chồng chất thêm những giận hờn trong tiềm thức. Khó mà tránh khỏi uất hận khi cuộc đời chúng ta chỉ toàn những nhượng bộ và chịu đựng. Khi gánh trách nhiệm về những tình cảm và phản ứng của kẻ khác và khi từ bỏ trách nhiệm bảo đảm chất lượng đời sống của chính mình, chúng ta đã xử sự như thể coi mối tương giao quan trọng hơn nhân cách c ủa mình. Dĩ nhiên chúng ta không trực tiếp kinh qua cơn phẫn uất, vì “những người đàn bà dễ thương” – theo định nghĩa – không phải là “những người đàn bà nổi giận”. Vậy là bắt đầu chu kỳ tự làm mình thất bại. Càng nhượng bộ, chịu đựng, chúng ta càng xây dựng thêm giận hờn. Càng cố gắng trấn áp hơn nữa giận hờn đó, thì ti ềm thức chúng ta lại càng e ngại cơn giận bùng nổ ra. Càng e ngại một s ự bùng n ổ, chúng ta mới thấy là chính cái điều mình lo sợ đã xảy ra: cơn giận dữ c ủa ta tr ở nên thực tình “phi lý” và “phá hoại”. Hậu quả là người chung quanh có thể ghi nh ận rằng chúng ta “khùng”, trong khi những vấn đề thực thì vẫn chưa được giải quyết… Và chu kỳ lại bắt đầu. Những người “đàn bà dễ thương” mặc dù không nhạy cảm lắm về cơn giận, nhưng có thể họ rất nhạy cảm về ý thức tội lỗi. Với phiền muộn, với tình cảm bị thương tổn, chúng ta nuôi dưỡng mặc cảm phạm lỗi để tránh phải ý thức cơn giận c ủa mình. Giận dữ và mặc cảm phạm tội không thể đi đôi với nhau. Nếu chúng ta cảm thấy mình phạm tộ vì đã không làm đủ hay cho đủ cho người khác thì có lẽ chúng ta sẽ không nổi giận vì đã không hưởng đủ. Nếu cảm thấy mình có lỗi vì đã không làm đầy đủ bổn phận thì chúng ta cũng sẽ không đủ năng l ực và sáng suốt đ ể đ ặt nghi vấn về chính bổn phận đó. Không có gì, thực sự không có gì ngăn ch ặn cách hữu hiệu ý thức cơn giận cho bằng mặc cảm phạm lỗi và nghi ngờ chính mình. Xã hội đã nuôi dưỡng những mặc cảm phạm tội nơi phụ nữ, tới mức nhiều người trong chúng ta còn cảm thấy có lỗi nếu đã không cung cấp đ ủ tình c ảm ngọt ngào cho kẻ khác.
  7. Chúng ta cũng chẳng dễ dàng gì có được can đảm để ngưng c ảm thấy mình ph ạm tội và bắt đầu sử dụng cơn giận để xác định cái gì là đúng, là hợp với cuộc sống của mình. Chính khi chúng ta bắt đầu thay đổi, người khác có thể tăng gấp đôi sách lược gây cảm thức tội lỗi nơi chúng ta. Sách lược này có thể là những lời lên án: “ích kỷ”, “ấu trĩ”, “thiếu nữ tính”, “mắc bệnh tâm thần”, “vô trách nhiệm”, “lạnh lùng”… Những dèm pha đó – nhắm vào chính tính khí và nữ tính của chúng ta – có th ể vượt quá những gì chúng ta có thể chịu đựng. Khi đã được d ạy cho bi ết r ằng giá tr ị và “thiên chức” của chúng ta là ở chỗ “yêu và được yêu”, thì quả chúng ta khó mà chịu nổi những lời phẩm bình về chính nét đáng yêu, nét “nữ tính” của chúng ta. Quyến rũ làm sao, cái việc lê gót trở về “vị trí đúng” của mình hầu chiếm l ại s ự tán thành c ủa kẻ khác! Khác với những “bà chằn” luôn luôn thua trong việc lấy lòng dư luận, những “ph ụ nữ dễ thương” bao giờ cũng được xã hội đãi ngộ. Tuy nhiên cái giá mà họ ph ải tr ả rất cao và ảnh hưởng đến mọi khía cạnh của đời sống tình cảm cũng như tinh thần. “Không nhìn cái gì xấu, không nghe cái gì xấu, không nói cái gì x ấu” tr ở thành quy luật vô thức cho những ai trong chúng ta vốn phải phủ nhận ý th ức về c ơn gi ận và việc biểu lộ nó. Cái “xấu” nói đây là bất kỳ tư tưởng, tình cảm, hành đ ộng nào có thể gây mâu thuẫn công khai với những người đối với chúng ta là quan trọng, hoặc cả sự không đồng ý của họ nữa. Để tuân theo quy tắc này, chúng ta trở thành những kẻ mộng du, không còn được nhìn một cách sáng suốt, nghĩ một cách chính xác, hoặc tự do hoài niệm theo ý thích. Không sao ước lượng hết số năng lực sáng tạo, trí tuệ và dục tính bị mắc kẹt trong nhu cầu ức chế những cơn giận này, chưa cần lưu ý đến nguồn gốc của chúng. Mẫu phụ nữ “đanh đá” Trong chúng ta, “những người đàn bà đanh đá” là những kẻ không cảm th ấy xấu hổ khi nổi giận hay nói lên sự bất đồng của mình. Tuy nhiên trong một xã hội đặc bi ệt không ưa phụ nữ nổi giận, chúng ta có nguy cơ bị dán nhãn hiệu này hay nhãn hi ệu nọ để cảnh cáo chúng ta hãy giữ mồm giữ miệng khi đe dọa kẻ khác, nhất là đàn ông. Những nhãn hiệu đó – như “thiếu nữ tính” hoặc nặng hơn nữa – có sức mạnh làm cho chúng ta phải sững sờ đến lặng thinh hoặc làm bừng cơn giận, vì càng làm chúng ta tăng thêm cảm giác mình bất lực và bị đối xử bất công. Nhưng đó mới chỉ là một phần câu chuyện. Những nhãn hiệu này không chỉ đơn thuần là những sáo ngữ ác khẩu – có khi đượm màu dục tính – mà còn tệ h ơn th ế. “Lắm lời”, “đanh đá”, “ưa cằn nhằn”, “gái độc không con”…những nhãn hi ệu đó còn hàm ý là hoàn cảnh sẽ không có một chút khả năng đổi thay nào. Đó là những từ
  8. ngữ phản ánh vị trí sa lầy đặc biệt của chúng ta: bao nhiêu cảm xúc giận dữ c ứ bao vây chúng ta trong khi hiện tình thì vẫn chẳng có gì đổi thay thật sự. Khi thất bại trong việc xả ra cho hả giận, chúng ta d ễ dàng bị kẹt trong chu kỳ c ư xử xuống dốc và lập đi lập lại. Chúng ta quả thật có điều bực bội, nhưng sự phiền muộn của chúng ta không được diễn tả rõ ràng nên chỉ gây ra sự phản đối nơi người khác, thay vì sự cảm thông nơi họ. Điều này càng làm chúng ta tăng thêm c ảm giác cay đắng và bất công. Đàng khác, vấn đề thật – cái đã làm chúng ta nổi giận – ch ưa được nhận định. Sau cùng và hơn hết, chúng ta có thể trở thành cái đích t ấn công đầu tiên cho những người đàn ông vốn kinh sợ đàn bà thịnh nộ và cả cho nh ững người nữ sợ lâm vào hoàn cảnh đó. Dĩ nhiên việc biết khi nào mình nổi giận và việc biểu lộ cơn giận v ới người kia đòi hỏi sự dũng cảm nơi ta. Vấn đề là: khi chúng ta sa lầy trong một cuộc đấu tranh vô hiệu quả, thì cũng là lúc chúng ta đang chịu thiệt thòi để che chở người kia. Mặt khác, khi chúng ta biểu lộ sự tức giận vô hiệu quả như vậy – không rõ ràng, không đường hướng, không kiểm soát – thì thay vì đe dọa người khác, chúng ta có th ể rốt cuộc lại làm cho người khác yên tâm. Những ai trong chúng ta chiến đấu vô hiệu quả thường thấy mình rơi vào cảnh bất lực trong việc gắng công thay đổi kẻ không muốn đổi thay. Khi chúng ta muốn thay đổi niềm tin, tình cảm, phản ứng hay hành vi của kẻ khác mà thấy không hiệu qu ả, có thể sau đó chúng ta lại vẫn tiếp tục làm như vậy nhiều hơn nữa. Nghĩa là chúng ta cứ phản ứng theo đường lối đã được định trước, đã thành khuôn mẫu, và do đó chỉ làm trầm trọng thêm những gì đã khiến chúng ta phải than phiền. Chúng ta có thể do xúc cảm mà bị lôi cuốn phải làm như vậy, đến nỗi không h ề nghĩ ng ợi gì v ề vi ệc liệu có thể cư xử khác hơn không hoặc tin rằng có thể có những chọn lựa mới được không. Như vậy, sự đấu tranh của chúng ta cũng là một cách bảo vệ những n ếp cũ trong mối tương giao y hệt như sự nín chịu của “người đàn bà dễ thương” vậy. Tất cả chúng ta đều có kinh nghiệm về hai hành vi trên: tự h ại mình và t ự kéo dài hoàn cảnh bế tắc của mình. Thực vậy, “những người đàn bà dễ thương” và “những người đàn bà đanh đá” đơn giản chì có hai mặt của đ ồng tiền, dù s ự th ể hi ện hoàn toàn khác nhau. Sau khi tất cả đã được nói và được làm – hay đã không được nói và không đ ược làm – kết quả vẫn thế: chúng ta cảm thấy bơ vơ và bất l ực. Chúng ta không c ảm th ấy mình kiểm soát được chất lượng và đường hướng đời mình. Ý thức về nhân phẩm và lòng tự trọng bị thương tổn, bởi chúng ta đã không làm sáng tỏ được vấn đề. Và vì chúng ta đã không làm sáng tỏ được vấn đề, nên đã chẳng có gì được thay đổi.
  9. Phần lớn chúng ta ít được giúp đỡ để biết sử dụng cơn giận sao cho chính chúng ta được tăng sức mạnh và những vấn đề của mối liên hệ được sáng tỏ. Thay vì v ậy, những bài học ở đời lại khích lệ chúng ta kinh sợ cơn giận dữ, phủ nhận nó hoàn toàn, chuyển nó vào những mục tiêu không đúng, hay quay trở lại tự hại mình. Chúng ta đã học cách phủ nhận mọi lý do để giận, cách nhắm mắt tr ước nguồn g ốc c ủa chúng hoặc cách bộc lộ chúng một cách vô hiệu quả,và do đó rốt cuộc l ại giữ vững thay vì thách thức tình trạng cũ. Chúng ta hãy từ bỏ những cách làm đó đi, để có thể sử dụng “năng lực giận dữ” vào việc phục vụ phẩm giá và sự tăng trưởng của mình. CON ĐƯỜNG PHÍA TRƯỚC: Sách này cốt giúp phụ nữ biết cách xử lý giận dữ bất lợi cho mình về lâu về dài như im lặng cam chịu, chiến đấu trách móc vô hiệu quả và giận dỗi bỏ đi. Nhiệm vụ của tôi là giúp bạn đọc có được sự sáng suốt và tài khéo th ực tế để ng ưng h ẳn cách cư xử theo lề lối cũ có thể tiên đoán được và bắt đầu s ử dụng giận dữ đ ể làm sáng tỏ một vị trí mới trong những mối quan hệ thân thiết của chúng ta. Vì vấn đề giận dữ đụng chạm tới mọi khía cạnh của đời sống nên tôi đã ph ải có một vài chọn lựa. Để tránh cuốn sách này có bề dày quá lớn khó sử dụng, tôi đã quyết định tập trung – tuy không phải là duy nhất – vào những mối liên h ệ gia đình. Chúng ta cảm nhận những cơn giận dữ nhất cũng như tình yêu sâu xa nhất của chúng ta chính trong vai trò làm con cái, làm chị em, làm người tình, làm vợ, làm m ẹ. Liên hệ gia đình ảnh hưởng nhiều nhất đến đời sống chúng ta và cũng là mối liên hệ khó khăn nhất đối với chúng ta. Chính vì rất gần gũi mà thường dẫn đến “sa lầy” và do vậy mà những nỗ lực của chúng ta cốt để cải thiện mối liên hệ, rốt cuộc lại làm cho tình trạng giữ nguyên như cũ. Khi chúng ta đã bi ết cách s ử dụng năng l ực gi ận dữ để thoát khỏi sự sa lầy trong những quan hệ gần gũi nhất, gắn bó nhất, chúng ta cũng sẽ bắt đầu biết vận dụng nó một cách sáng suốt, có kiểm soát và bình tĩnh hơn, trong mọi quan hệ với bạn bè, với người cộng tác hay với người bán tạp hóa ở góc phố. Ngược lại, khi những vấn đề về cảm xúc của chúng ta bị bỏ l ơ trong chính những mối liên hệ thân thiết nhất, chúng sẽ như bị tưới thêm lửa trong những mối liên hệ khác của chúng ta. Tôi viết cuốn sách này chỉ với mục đích giúp ích. Tôi đã hy sinh ph ần lý thuy ết, dù bổ ích đến mấy, nếu không thấy nó hữu dụng thiết thực trong đời sống của phụ nữ. Cũng vì vậy mà đôi chỗ trong cuốn sách tôi còn nới rộng thêm nh ững gì liên quan đến đề tài giận dữ nữa. Độc giả nên được cảnh giác trước là cuốn sách này không nêu lên những quy tắc “phải làm như thế nào”, theo những cấp bậc từ dễ dàng đến khó hơn. Sở dĩ như vậy, là vì khả năng xử lý cơn giận – như một công cụ đem l ại
  10. đổi thay – đòi hỏi chúng ta phải có một hiểu biết sâu s ắc hơn về những đường lối tác động qua lại trong các mối liên hệ. Do đó, chúng ta sẽ xét tới đường lối tự phản bội, hy sinh bản ngã để giữ gìn hòa khí với người khác; chúng ta sẽ đi vào lãnh vực của sự quân bình tế nhị giữa cá nhân (cái “tôi”) và tập thể (cái “chúng ta”) trong những mối liên hệ; chúng ta s ẽ xét t ới nh ững mẫu mực, quy tắc hành xử vốn quyết định các mối liên hệ của chúng ta hầu soi sáng những giận dữ sâu sắc nhất mà chúng ta đã không cho phép mình bi ểu l ộ; chúng ta sẽ phân tích vì sao những mối liên hệ sa lầy, vì sao thoát khỏi; chúng ta s ẽ hi ểu vì sao những mối liên hệ gần gũi thật giống như những đi ệu múa, trong đó m ỗi bên vừa kích động vừa duy trì bước nhảy của bên kia. Tóm lại, chúng ta h ọc cách s ử dụng cơn giận như một khởi điểm để đổi thay cung cách liên hệ cũ, hơn là để trách móc thiên hạ. Ta phải sử dụng sách này ra sao? Rất từ từ. Dù vốn đang là kẻ hung hăng hay th ủ bại đến đâu, thì trong cung cách thường ngày của chúng ta vẫn còn có s ự hiện di ện của lý trí – với nhiệm vụ tích cực bảo vệ chính chúng ta và những người xung quanh. Nếu chúng ta muốn có đổi thay, điều quan trọng là hãy hành động từ từ để có cơ hội quan sát và thí nghiệm một bước chuyển mới – tuy nhỏ nhưng có ý nghĩa – trong mối liên hệ. Nếu tham lam muốn thay đổi quá nhiều, quá nhanh, chúng ta có thể chẳng thay đổi được gì cả, trái lại còn lầm vẩn lên quá nhiều âu lo và xúc đ ộng cả nơi ta lẫn nơi người khác, đến nỗi có thể làm phục hồi những cung cách c ư x ử cũ, hoặc có thể làm đổ vỡ một dây liên hệ quan trọng – một đi ều không ph ải nh ất thiết có lợi. Cuốn sách này sẽ hữu ích hơn cả nếu bạn đọc hết. Đừng bỏ quãng những đoạn bàn cãi về trẻ thơ chỉ vì bạn chư có con, cũng đừng bỏ không đọc các chương nói về các đức ông chồng chì vì bạn còn độc thân hay đã ly dị. Điều quan trọng, chính là nh ững mô hình cư xử trong các mối liên hệ mà tôi sắp miêu tả. Tôi ít chú trọng đến những người khiêu vũ, mà chú trọng đến chính điệu nhảy và cái cách điệu nhảy được tiến hành. Xin nhớ, mỗi chương đều chứa đựng những kiến thức cần yếu cho cho bất kỳ mối liên hệ nào của bạn. Khi đọc, bạn có thể liên tưởng và tổng quát hóa tới những mối liên hệ khác, những môi trường tương quan khác, và cách làm như vậy th ật có ích. Để có thể sử dụng cơn giận như một lợi khí giúp đạt được đổi thay trong quan hệ, hãy học cách phát triển và mài sắc tài năng của chúng ta trong bốn lãnh vực sau: 1. Chúng ta có thể học nhận định một cách tương xứng nguồn gốc của cơn giận, và biết rõ mình đang đứng ở đâu: “Hoàn cảnh nào đã làm tôi bực mình vậy?”, “Vấn đề chính ở đây là gì”, “Tôi nghĩ gì, cảm thấy g?”, “Tôi muốn th ực hiện điều gì?”, “Người nào chịu trách nhiệm về điều nào?”, “Tôi đặc biệt muốn thay đ ổi
  11. cái gì?”, “Những gì tôi muốn và không muốn làm?”…Những câu hỏi d ường như quá đơn giản, nhưng rồi chúng ta sẽ thấy chúng phức tạp đến mức nào. Đi ều đáng kinh ngạc là nhiều khi chúng ta rời bỏ cuộc chiến đấu mà vẫn không hay mình chiến đấu cho cái gì. Có thể chúng ta đã dồn năng lực giận dữ vào việc mu ốn thay đ ổi, ki ểm soát một người trong khi người đó lại không ưng đổi thay hay bị kiểm soát. L ẽ ra chúng ta phải dồn năng lực đó vào việc tìm hiểu rõ vị trí và những ch ọn l ựa c ủa chính chúng ta. Điều này thật đúng trong những mối quan hệ mật thiết, trong đó, nếu không biết sử dụng cơn giận để soi sáng những tư tưởng, cảm tình, ưu tiên và chọn lựa của mình, chúng ta dễ rơi vào vòng lẩn quẩn bất tận của đ ấu tranh, trách móc chẳng đi đến đâu. Việc biết điều khiển hữu hiệu cơn giận đương nhiên giúp ta phát triển được cái “ta” ngày càng thêm rõ ràng minh bạch và trở thành một chuyên viên khả kính về chính bản ngã của mình. 2. Chúng ta có thể học được cách truyền đạt suy nghĩ của mình: Điều này giúp ta có nhiều triển vọng được người khác nghe và hiểu ta, do đó những mâu thuẫn, khác biệt có cơ hội được bàn cãi, điều đình. Có thể chẳng có gì đáng trách khi chúng ta hồn nhiên bộc phát cơn giận, không tư duy, không đắn đo suy xét: trong nhiều trường hợp, điều này có thể giúp ích, nhất là những trường hợp đương nhiên phải vậy, miễn là chúng ta không cố tình lạm dụng. Tuy nhiên nhiều khi đ ấu tranh hay cho nổ tung cơn tam bành giúp ta thấy nguôi ngoai, nhưng khi bão tố qua đi, mọi s ự vẫn y nguyên chẳng có gì đổi thay cả. Trong khi đó, có những mối liên h ệ chúng ta cần phải duy trì thái độ bình tĩnh, không trách móc để rồi sau đó mới đạt đ ược những đổi thay lâu dài. 3. Chúng ta có thể học cách quan sát và ngăn chặn những tác động qua lại vô bổ: Truyền đạt suy nghĩ của mình một cách minh bạch và hữu hiệu bao giờ cũng là điều khó dù trong hoàn cảnh thuận tiện nhất. Thực khó mà tự quan sát hay có đ ược thái độ mềm dẻo giữa cơn bão tố. Khi xúc cảm lên cao, chúng ta có thể học cách làm cho dịu xuống và lùi lại chút ít để có thể nhận rõ vai trò của ta trong những tác đ ộng qua lại mà chúng ta trách cứ. Biết quan sát những mẫu mực cư xử trong mối liên hệ và biết sửa đổi phần đóng góp của mình vào những mẫu mực đó bao giờ cũng giúp ta thấy rõ h ơn trách nhiệm của mình trong mọi mối tương giao mà ta dự phần. Nói “trách nhiệm”, tôi không có ý muốn nói đến thái độ tự trách mình hay tự cho mình là “nguyên nhân” của v ấn đ ề. Từ ngữ đó ở đây chỉ có nghĩa là khả năng phản ứng, khả năng tự quan sát và quan sát người khác trong những tác động qua lại, khả năng phản ứng trước một hoàn cảnh quen thuộc bằng đường lối mới. Chúng ta không thể bắt kẻ khác thay đổi bước nhảy của họ trong một điệu múa, nhưng nếu chúng ta đổi thay chính bước nhảy của chúng ta thì điệu múa đó không còn có thể tiếp tục như cũ được nữa.
  12. 4. Chúng ta có thể học để biết cách tiên liệu và đối phó với những “ biện pháp đối phó” hay những “phản ứng nghịch chiều” từ phía người khác: Mỗi chúng ta đều thuộc về một nhóm hay một hệ thống liên hệ mà trong đó luôn có một áp lực đòi buộc các bên phải giữ nguyên hay trở về chỗ đứng cũ. Nếu chúng ta bắt đ ầu thay đổi cung cách im lặng, mơ hồ hay chiến đấu và trách móc vô hiệu quả, chúng ta sẽ gặp phải sự chống đối mạnh mẽ. “Lực kéo nghịch chiều” này vừa có trong b ản ngã nội tại của mỗi chúng ta vừa có nơi những người khác trong cùng hệ thống liên hệ với ta. Chúng ta sẽ thấy những người thân thiết này thường tạo áp lực đ ể đ ược hưởng lợi từ việc chúng ta giữ nguyên chỗ đứng cũ như thế nào, mặc dầu bề ngoài vẫn công khai chỉ trích và than phiền chúng ta. Cả chúng ta cũng c ưỡng lại chính những đổi thay mà chúng ta tìm kiếm. “Chống đổi thay” cũng như “muốn đổi thay” là hai nét tự nhiên, phổ biến trong mọi liên hệ giữa con người. Trong những chương kế tiếp, chúng ta sẽ quan sát kỹ lưỡng hơn nỗi lo âu lớn lao mà chắc chắn sẽ vây bủa khi chúng ta bắt đầu sử dụng cơn giận để xác đ ịnh b ản ngã cùng những nhu cầu của nó một cách rõ ràng hơn. Một s ố chúng ta có th ể khởi sự minh bạch hẳn trong sự truyền đạt, kiên quyết hẳn trong quyết định đổi thay chỉ để thẳng thắn phản ứng lại những kẻ muốn chống đối chúng ta hoặc có ý coi thường những điều chúng ta nói. Nếu quả thực chúng ta nghiêm túc về việc đổi thay, chúng ta phải học cách tiên đoán và điều khiển nỗi âu lo và mặc c ảm phạm l ỗi xu ất hi ện trong chúng ta, khi chúng ta phải đối mặt với những phản ứng nghịch chiều của người khác, nhất là khi phải đối mặt với một phần rất thực trong bản ngã sâu thẳm của chúng ta muốn chống lại sự đổi thay. Bây giờ xin cho tôi được nói: không dễ gì chúng ta có thể quay mặt làm ngơ thái độ phục tùng thầm lặng hay sự chiến đấu vô hiệu quả của chúng ta cho việc xác quyết ta là ai, nơi nào ta đứng, điều gì ta muốn, cái gì ta chấp nhận, cái gì ta không th ể chấp nhận. Nỗi lo âu do ước muốn làm sáng tỏ những gì ta nghĩ và nghĩ ra sao có thể là nỗi lo lớn nhất trong những mối liên hệ quan trọng nhất của chúng ta. Khi chúng ta đã thực tình trở nên minh bạch và dứt khoát, người khác cũng có thể do đó mà trở nên minh bạch và dứt khoát về ý nghĩ và tình cảm của họ hay về s ự kiện họ không chịu đổi thay. Một khi thừa nhận những sự thực này, chúng ta có thể gặp phải nhiều chọn lựa khó khăn cực nhọc. Liệu chúng ta chấp nhận giữ nguyên phần mình trong một mối quan hệ, một hoàn cảnh ? Hay chúng ta muốn rời bỏ nó? Liệu chúng ta chấp nhận “ở lại” và thử tìm một biện pháp khác? Và như vậy, phải làm gì?… Những câu hỏi này không dễ gì trả lời, kể cả suy nghĩ về chúng cũng vậy. Trước mắt thì đôi khi ta cứ đơn giản theo đường lối quen thuộc cũ, mặc dầu kinh nghiệm bản thân đã từng cho biết chúng kém hiệu quả. Tuy nhiên v ề lâu v ề dài xin hãy thực hành những bài học trong sách này, chắc chắn quý vị sẽ được nhiều lợi ích. Không những chúng ta có được phương pháp mới để điều khiển những cơn giận dữ
  13. cũ, mà chúng ta còn đạt được “cái tôi” trong sáng và mạnh mẽ h ơn, do đó có kh ả năng đạt được “cái chúng ta” thân mật và thỏa mãn hơn. Nhiều vấn đ ề về giận d ữ có thể xuất hiện khi chúng ta phải chọn lựa giữa hai thái độ: hoặc có được một quan hệ, hoặc có được một bản ngã. Cuốn sách này có tham vọng muốn giúp chúng ta đạt được cả hai. Chương 2: BIỆN PHÁP CŨ, BIỆN PHÁP MỚI VÀ BIỆN PHÁP ĐỐI PHÓ Bà Barbara đã đăng ký trước một buổi trị liệu tại “Văn phòng Nghiên c ứu C ơn Giận” của tôi, nhưng sau đó lại gọi điện tới xin hủy cuộc hẹn. Bằng một giọng vừa phẫn uất vừa đau khổ, bà nói như sau: - “Tôi thật tình muốn tới phòng làm việc của bà, nhưng chồng tôi đã chà đ ạp ước nguyện đó của tôi. Tôi đấu tranh với anh ấy tới xanh máu mặt mà anh ấy vẫn không chịu để tôi đi”. - “Vì sao ông ấy phản đối?”, tôi hỏi. - “Anh ấy phản đối bà. Anh ấy nói bà là kẻ phỉ báng nữ giới và phòng trị liệu của bà không đáng đồng tiền bát gạo. Tôi đã cãi rằng bà là một nhà tâm lý h ọc n ổi ti ếng và phòng trị liệu của bà nhất định có hiệu quả. Tôi tin chắc là sẽ không tốn tiền vô ích, nhưng vẫn không thuyết phục được anh ấy. Anh ấy vẫn khăng khăng đáp: Không!”. - “Thật đáng tiếc”, tôi nói. - “Vâng, tôi cũng thấy vậy”, bà ta tiếp. “Tôi bị nhức đầu kinh khủng kể từ đấy và đã khóc sướt mướt. Dầu sao thì tôi cũng đã đấu tranh dữ dằn. Thực tế thì chồng tôi đồng ý là tôi cần được giúp đỡ cách nào đó, vì khi nổi giận, tôi có thái độ th ật hung hãn”…
  14. - Tôi đặt ống nghe xuống và nghĩ về cuộc đối thoại ngắn ngủi vừa qua. Rõ ràng là bà ta không bị buộc phải hủy bỏ vụ đăng ký. Bà hoàn toàn có thể chọn một cách hành động khác. Tuy nhiên, bà đã không thể chọn được cách làm nào khác mà không gánh chịu những hậu quả. Có lẽ hậu quả khiến bà phải chú tâm e ngại nhất là mối liên hệ hết sức quan trọng của bà bị đổ vỡ. Phản ứng của bạn về cuộc điện đàm này ra sao? Bạn có nghĩ rằng: “Chồng bà ta quả là một kẻ độc tài”, hay: “Ông ta mới dễ giao động, dễ sợ hãi làm sao”…? Bạn có nghĩ: “Mình cảm thấy tội nghiệp cho người đàn bà đáng thương này”, hay: “Người đàn bà khổ dục này hẳn đã từng phải nhờ đến tâm lý trị liệu”…? Hoặc: “Sao bà ta không tự mình quyết định tới phòng trị liệu?” Bạn có nghĩ: “Ông chồng này thật đáng trách. Sao ông ta có thể cư xử như vậy đối với vợ?”, hay: “Bà ta thật đáng trách. Sao lại có thể để ông ta quyết đ ịnh v ề cuộc sống của mình”…? Hoặc: “Xã hội thật đáng trách. Đáng buồn biết bao khi chúng ta dạy cho nam giới xử sự như thế và dạy cho nữ giới cam chịu như thế”…? Bạn có nghĩ: “Bà ta nổi giận vì ông chồng đã không cho tới phòng trị liệu”, hay: “Bà ta giận dữ là vì thấy mình nhượng bộ”…? Bạn có nghĩ: “Tôi có thể thấy chính mình nơi bà ta”, hay “Tôi không quen làm như bà ta chút nào”…? Mỗi chúng ta có thể có phản ứng riêng về những gì bà Barbara nói: Nhiều người trong chúng ta không muốn đồng hóa mình với Barbara trong câu chuyện của bà. Song, cung cách hành động và cảm nghĩ của bà không hề là điều chúng ta hiếm thấy hay là chỉ có ở thời xa xưa. Bà ta cam chịu hoàn cảnh bất công. Bà không cảm thấy kiểm soát được đời mình. Bà không nắm vững được đâu là những vấn đề thực. Bà không nhận rõ được trách nhiệm của chính bà trong việc góp phần vào tình th ế tiến thoái lưỡng nan của bà.
  15. Bà hy sinh sự tăng trưởng của mình để ủng hộ và bao che chồng. Bà duy trì nguyên trạng mối liên hệ hôn nhân, cam chịu thiệt thòi cho bản ngã. Bà không thử xem mối liên hệ hôn nhân có thể uyển chuyển bao dung cho s ự đ ổi thay của bản thân tới mức nào. Bà cảm thấy bơ vơ và bất lực. Bà chuyển giận dữ thành nước mắt. Bà bị nhức đầu. Bà không tự yêu mình. Bà tin rằng mình đã hành động tệ hại. Có điều nào trên đây xa lạ với bạn? Chắc là không. Hoặc một, hoặc tất c ả nh ững điều trên đây sẽ xảy tới với chúng ta khi chúng ta tham gia một cuộc đấu tranh và trách móc vô hiệu quả, hay kh chúng ta thấy ngại đấu tranh. Không giống như một số phụ nữ không dám bất đồng ý kiến với chồng hay với người yêu, bà Barbara không có vấn đề gì phải giận dữ. Vấn đề của bà là đấu tranh cách nào để không có đổi thay. Bà bảo vệ chồng, bảo vệ nguyên trạng mối quan hệ giữa hai người, và cam chịu thiệt thòi cho sự tăng trưởng của chính mình. Cứ tiếp tục như vậy khi nào còn có thể, bà Barbara đã không dám đ ương đ ầu v ới một quy tắc căn bản trong mối quan hệ đó: bà phải nhường chồng quy ền đi ều khiển. Bà “tự từ bỏ bản ngã” vì chồng. Thế nào là “tự từ bỏ bản ngã”? Rõ ràng là chúng ta không luôn luôn đ ược hành x ử theo cách của mình hay muốn làm gì thì làm trong mọi mối liên hệ. Không th ể tránh xảy ra mâu thuẫn, nhất là khi hai người cùng sống dưới một mái nhà, cho nên ch ắc chắn có những lúc cần phải có sự tương nhượng, điều đình, kẻ này lấy, ng ười kia cho. Nếu ông chồng không ưa phòng trị liệu và phòng trị liệu đó cũng chưa thực sự quan trọng đối với mình, thì bà Barbara có thể quyết định quên nó đi. Điều này tự nó không thành vấn đề. Vấn đề xuất hiện khi một người – thường là người vợ – nhượng bộ, chịu đựng hơn là chia sẻ trách nhiệm và thiếu sáng suốt mỗi khi cần kiểm soát, quyết đ ịnh, chọn lựa. “Tự từ bỏ bản ngã” có nghĩa là để phần lớn bản ngã mình (như suy nghĩ, ước
  16. muốn, tin tưởng, tham vọng…) có thể “thương lượng lại’ dưới áp lực của mối liên hệ. Kể cả khi để bản ngã cam chịu thỏa hiệp quá nhiều, đương sự vẫn không ý thức được điều đó, vẫn tự động “nộp phần thuế” không thể từ khước được. Kẻ chịu hy sinh phần lớn bản ngã thường tích tụ nơi mình những ẩn ức giận dữ mạnh nhất và đặc biệt dễ bị chán nản ngã lòng, tạo thành những vấn đề xúc cảm khác. Người vợ đó (đôi khi cũng có thể là người chồng đó) sau cùng đành phải tới phòng tr ị li ệu tâm lý, hoặc bệnh viện nội khoa hay bệnh viện tâm thần, và nói: “Xin cho biết cái gì trục trặc trong mối liên hệ nơi tôi” thay vì hỏi: “Xin cho hay cái gì trục tr ặc trong m ối liên hệ của chúng tôi”. Hoặc giả nàng (hay chàng) có thể lại nổi giận không đúng lúc về những chuyện không đáng, đến nỗi có thể khiến người chung quanh đánh giá là khùng, bệnh hoạn hoặc thiếu lý trí. Một hình thức tự từ bỏ bản ngã chung của nữ giới được mệnh danh là “ bất cập”. Mô hình “kẻ cư xử bất cập – người cư xử quá đáng” là một mô hình quen thu ộc trong các cuộc sống lứa đôi. Mô hình này thể hiện ra sao? Những công trình nghiên cứu liên hệ hôn nhân đã chứng minh rằng: khi nam nữ thành đôi, và trong su ốt th ời gian chung sống, thường mỗi bên vẫn giữ nguyên mức độ độc lập về nhân cách cũng như mức độ trưởng thành về xúc cảm. Giống như một trò chơi cò cưa, khi một bên cư xử bất cập, thì điều đó cho phép bên kia hành xử quá đáng. Chẳng hạn bà vợ muốn ngày càng cố thủ trong vai trò một kẻ yếu, có nhược điểm, chịu lệ thuộc – nói một cách khác: một bạn đồng hành kém chức năng – thì chồng bà cũng theo chừng mực đó mà phủ nhận chính những yếu đuối, nhược điểm, lệ thuộc nơi bản ngã ông. Ông có thể huy động phần lớn năng lực cảm xúc c ủa mình đ ể phản ứng lại những vấn đề của vợ thay vì tìm hiểu và chia sẻ. “K ẻ bất c ập” và “người quá đáng” kích thích lẫn nhau, củng cố lẫn nhau, đến nỗi trò chơi đó ngày càng khó giữ được thế quân bình. Người chồng càng tránh chia sẻ những yếu kém, nhu cầu và nhược điểm của chính ông thì người vợ càng dày thêm kinh nghiệm trong việc biểu lộ những điều đó nơi bà. Người vợ càng tránh biểu lộ những khả năng và sở trường của bà, người chồng càng vênh váo tự mãn về những thứ đó nơi ông. Và khi “kẻ bất cập” trông có vẻ khá hơn thì “người quá đáng” trông có vẻ tồi đi. Cuộc điện đàm ngắn giữa tôi với bà Barbara gợi ý rằng bà thuộc mẫu người c ư xử bất cập trong cuộc sống lứa đôi của bà. Dĩ nhiên không phải lúc nào kẻ đóng vai yếu kém trong trò chơi cò cưa này cũng là người đàn bà. Có nh ững liên h ệ hôn nhân mà trong đó người chồng thủ vai kẻ bất cập. Trên thực tế, có những cuộc dàn x ếp êm đẹp mà cũng có những cuộc dàn xếp hụt hẫng. Có những cặp hai bên ai gi ữ vai n ấy trong suốt thời gian yêu nhau, mà cũng có trường hợp người này ganh đua với người kia xem ai yếu kém hơn ai – vị thế của “kẻ đứng dưới” cứ mãi đi xuống. Điều quan trọng là: vị thế đứng dưới trong cuộc ganh đua này thường dành cho nữ giới, theo tập tục văn hóa quyết định. Trong khi nhiều phụ nữ trong chúng ta dư
  17. sức thách thức và lật ngược qui định trên, thì qui định đó vẫn c ứ đ ược t ồn tại nhân danh chính “nữ tính” của chúng ta, và vẫn hoàn toàn đề cao thế mạnh của nam giới. Phái nữ phải được tích cực dạy dỗ để nuôi dưỡng và biểu lộ những phẩm chất mà thâm tâm nam giới e ngại, không muốn vì sợ bị coi là yếu kém. Dĩ nhiên, những giáo điều văn hóa muốn làm nản lòng nữ giới trong vi ệc ganh đua với nam giới hoặc khuyên răn nữ giới không nên giận dữ với nam giới đều nghịch lý, chẳng hạn cho rằng chúng ta đã tự làm “nữ tính” của mình bị tổn th ương, đã bi ến mình thành “kẻ phá hoại” dưới mắt nam giới, chỉ vì chúng ta đơn thuần muốn là chúng ta. Chắc chắn là những mệnh lệnh cũ kỹ đòi chúng ta hãy “giả câm”, “hãy đ ể nam gi ới thắng”, “hãy coi chàng như chủ nhân ông”…đều không còn hợp thời nữa. V ậy mà những thông điệp đó vẫn còn là quy tắc chỉ đạo trong vô thức của biết bao ph ụ nữ. “Phái yếu” phải bao che cho “phái khỏe”, phải giúp phái khỏe đ ừng nh ận ra sức mạnh của phải yếu để phái khỏe khỏi cảm thấy yếu đi vì sức mạnh c ủa phái yếu. Chúng ta học cách hành động yếu kém, học cách từ bỏ sức mạnh c ủa mình để giúp nam giới cảm thấy mạnh hơn. Có nhiều hình thức hành xử “bất cập”. Có thể tế nhị như trường hợp người v ợ từ bỏ một dịp may có công ăn việc làm. Có thể nàng né tránh một thách th ức đ ổi m ới khi thấy chồng kín đáo tỏ ý muốn hoàn cảnh được giữ nguyên như cũ, hay khi thấy sự đổi thay đó có thể làm chàng e ngại. Có thể nàng bao che chàng bằng cách tự giam mình trong những công việc mà chàng không ưng làm, đồng thời tránh nhận thức, tránh phát triển tài năng vào những lãnh vực “của chàng’. Trong ti ến trình này, nàng có thể gặp những vấn đề khó khăn về xúc cảm và thể chất. Dưới những lời th ở than của nàng là một niềm tin vô thức – đinh ninh rằng mình có ở một v ị trí t ương đối yếu kém như vậy thì mối liên hệ quan trọng bậc nhất kia mới tồn tại được. Nếu người nữ cứ tiếp tục tin tưởng rằng mình không thể tồn tại khi đánh mất mối liên hệ, thì nàng sẽ cư xử như bà Barbara: giải tỏa cơn giận, nhưng chỉ để tình trạng cũ – nguồn gốc của cơn giận – càng được cũng cố thêm. TRÁCH CỨ VÔ HIỆU – ĐÒI HỎI HỮU HIỆU Vì sao mà đấu tranh và trách móc thực sự ngăn cản s ự đ ổi thay h ơn là làm d ễ dàng cho nó? Chúng tay hãy phân tích trường hợp bà Barbara một cách kỹ lưỡng hơn. Thoạt bà Barbara tham dự một cuộc đấu tranh không lối thoát về vi ệc tới phòng tr ị liệu. Bà sử dụng năng lực giận dữ của mình vào việc mong chồng thay đổi cách
  18. đánh giá của ông về phòng trị liệu, sao cho giống như cách bà đánh giá. Có hai v ấn đề trong việc bà muốn chồng thay đổi ý kiến: thứ nhất, chồng bà – cũng như bà vậy – có quyền và có trí phán đoán riêng của ông; thứ hai, bà có thể đoán trước là khó mà đạt được thành công: kinh nghiệm cũ đã cho bà hay là chồng bà đặc biệt không thích phòng trị liệu đó. Vì nhập cuộc chiến đấu với ý nghĩ rằng mình chỉ có thể thất bại, nên bà đã không sử dụng được sức mạnh mà nhất định bà có, sức mạnh chịu trách nhiệm v ề b ản ngã của mình. Bà Barbara đã có thể khởi sự bước khỏi vị trí tự từ bỏ bản ngã nếu nh ư bà quyết tâm làm sáng tỏ ưu thế của mình và hành động theo ý mình. Lẽ ra bà nên từ bỏ hẳn cuộc đấu tranh và nói thẳng với chồng rằng: “Dù tốt hay x ấu, hiệu quả hay không, phòng trị liệu đó vẫn cần thiết cho em. Nếu có thể hủy vụ đăng ký chỉ vì anh muốn vậy thì em đã thôi ngay cơn giận dữ này rồi. Em v ẫn thấy là em c ần đi t ới đó!”. Cái gì đã ngăn cấm bà Barbara không được thoát ra khỏi cuộc đấu tranh và than van vô hiệu quả để làm sáng tỏ và xác định nhu cầu của mình? Có lẽ bà e ngại ph ải tr ả giá quá cao cho biện pháp này. Phần lớn trong chúng ta đã đ ấu tranh vô hi ệu qu ả – cũng giống như một số khác vốn không chịu đấu tranh – đều chung m ột ni ềm tin trong vô thức rằng: người kia hẳn phải qua một thời kỳ gay go, khó khăn l ắm n ếu như chúng ta tỏ vẻ sáng suốt và dũng mãnh. Nỗi lo âu và mặc cảm phạm lỗi này cản trở không cho chúng ta dễ dàng có thái độ quyết tâm đổi thay tình tr ạng cũ, chưa hết, sau đó chúng vẫn còn làm ta vướng bận khi người kia ph ản ứng mãnh liệt đối với thái độ mới lạ của ta. Tạo nên đổi thay – chấp nhận thay đổi Cái gì xảy ra nếu bà Barbara làm một điều gì khác để lập trường mới đ ược sáng tỏ dưới mắt ông chồng? Cái gì xảy ra nếu bà tiếp cận ông vào lúc ông s ẵn sàng ch ấp nhận nghe bà để khẳng định lập trường của mình một cách không giận dữ, không khóc lóc? Tỉ như bà nói: “Em biết anh cho là phòng trị liệu đó không đáng đ ồng ti ền, và em chấp nhận đó là ý kiến của riêng anh. Tuy nhiên, em là một ng ười đàn bà trưởng thành và em cần thực hiện quyết định của chính mình. Em không đòi hỏi anh phải đánh giá cao phòng trị liệu đó hay tán thành việc em đi tới đó, nhưng quả thực là em cần phải thực hiện điều đó cho chính em”. Chúng ta hãy tưởng tượng bà Barbara có thể cương quyết trong vấn đ ề này (“Em muốn thực hiện quyết định của chính em”), không né tránh nói chệch sang những
  19. điểm khác như giá trị của phòng trị liệu hay uy tín của nhà trị li ệu. Hãy gi ả d ụ bà không đấu tranh, không trách móc, không kết tội hay tìm cách thay đ ổi suy nghĩ c ủa chồng, mà chỉ giữ nguyên lời phát biểu điều bà muốn làm: “Dù đúng hay sai, tốt hay xấu, em vẫn phải thực hiện điều này cho chính em”. Điều gì sẽ xảy ra? Điều gì sẽ tới với cặp vợ chồng này nếu bà Barbara thách th ức hoàn cảnh đó bằng cách khẳng định sẽ đi tới phòng trị liệu ? Ông chồng bà sau đó sẽ đối phó ra sao? Liệu ông có tuyên bố thẳng: “Em mà đi, anh s ẽ bỏ em!” ? Li ệu ông có chẳng nói chẳng rằng, rồi sau đó lại dằn mạnh cái ghế, gây s ự, hay l ạm d ụng theo một đường hướng nào đó? Liệu ông có phản ứng hòa nhã hơn, rồi tr ở nên g ắt gỏng hay âu sầu trong nhiều ngày? Dĩ nhiên, chúng ta không có được một ý nhỏ nào. Chúng ta biết quá ít v ề cặp v ợ chồng này. Có một điều chắc chắn: khi người này thực hiện một biện pháp để đ ạt lại thế quân bình trong trò chơi cò cưa, người kia thế nào cũng có biện pháp đối phó. Nếu bà Barbara cư xử theo kiểu mới đó, chồng bà chắc sẽ có phản ứng nghịch chiều hầu làm giảm âu lo của ông và phục hồi lại thế đấu tranh quen thuộc cũ. Nếu phản ứng này không xảy ra, có thể là vì ông không còn yêu vợ n ữa, hoặc vì tr ước đây ông có ngán phòng trị liệu này thật nhưng giờ đây ông còn ngán hơn về mức đ ộ mới trong thái độ khẳng định, riêng rẽ và trưởng thành mà bà Barbara đã chứng tỏ. Lập trường mới của bà Barbara có dính líu tới những vấn đề xa hơn vấn đ ề tới phòng trị liệu. Nó hàm ý rằng có những việc mà bà biết là thuộc trách nhi ệm c ủa riêng bà, không phải của ông, và bà chịu trách nhiệm về chúng. Nó còn hàm ý r ằng với sự kiện bà bình tĩnh và cương quyết như vậy, bà không còn là ng ười đàn bà cũ mà ông đã kết hôn, người đàn bà đã đã mang đến cho ông c ảm giác thoải mái, an toàn. Riêng phía bà cũng vậy, bà cảm thấy rất lo âu và ngờ vực khi cư x ử theo l ập trường khác hẳn này. Ngoài việc tự khẳng định mình hơn và giữ thế đứng tách biệt hơn trong một mối liên hệ quan trọng, kể cả việc giữ vững lập trường mới này bất chấp những biện pháp đối phó với người kia, thì có một số điều khác còn gây ra âu lo nhiều hơn thế nữa. Giả dụ bà Barbara vẫn sử dụng được năng lực giận dữ để tự soi sáng những chọn lựa của mình và tìm cách hành động mới cho tình cảnh cũ của mình, nhưng bà vẫn từ chối tỏ ra với chồng một thái độ bất thường nào đó, thì điều này v ẫn có th ể giúp bà bớt đi được những hậu quả của việc tự từ bỏ bản ngã và cư x ử bất cập bấy lâu (như nhức đầu, cảm thấy kém tự trọng, cay đắng, bất mãn kinh niên…ấy là chỉ mới kể một số ít). Tuy nhiên vẫn có cái giá mà bà ph ải tr ả: đó là c ảm th ấy liên h ệ hôn nhân của mình tựa như chao động hơn bao giờ hết – ít là trong một th ời gian – và những vấn đề, những mâu thuẫn tiềm ẩn sẽ bắt đầu nổi lên bề mặt ý thức của bà. Bà có thể phải bắt đầu tự hỏi: “Ai chịu trách nhiệm định đoạt đời tôi?”, “Tôi sẽ vững chải hơn và đòi phần thẩm quyền của tôi trong mối liên hệ này như thế nào
  20. đây?”, “Điều gì sẽ xảy ra cho mối liên hệ này nếu tôi ngày một trở nên mạnh h ơn, khẳng định hơn?”, “Nếu phải lựa chọn: hoặc giữ cho cuộc sống chung êm thắm bằng cách hy sinh mình, hoặc mối hôn nhân có nguy cơ bị gãy đổ, thì tôi sẽ chọn bên nào?”. Có thể bà Barbara chưa thực sự sẵn sàng đối đầu với những vấn đề đáng ngại đó vào lúc này. Có thể bà ít được yểm trợ trong cuộc mạo hiểm đó. Có thể bà nghĩ rằng thà có được bất kỳ mối liên hệ nào còn hơn là không có gì cả…Tất cả những gì chúng ta biết, là chính bà cũng e ngại việc tới phòng trị li ệu và – một cách vô th ức – để cho chống bà biểu lộ những cảm giác tiêu cực về việc đó cho cả hai. Điều quan trọng là: phải công nhận có hiểm nguy thực sự ơ đây. Nếu bà Barbara đã có thái độ dứt khoát về việc đến phòng trị liệu, bà sẽ không sao tránh được cảm tưởng rằng nơi mình cũng đang hình thành một lập trường thường trực cho những vấn đề khác nữa, rằng mình đang trong quá trình thay đổi cung cách cũ, trong khi mình và chồng vốn đã từng hòa hợp khăng khít với nhau – như hai phần của một câu đố – đến thế nào! Liệu ông có thể xa lìa bà vì đi ều này? Hay li ệu chính bà – trong tiến trình thay đổi bản thân – nghĩ rằng cần phải xa ông?…Ít nhất thì giờ đây bà Barbara vẫn còn chọn thái độ bao che cho chồng và tiếp tục sống theo nếp cũ của bà. Đó không phải đơn giản chỉ là một thái độ “phục tùng th ụ đ ộng”, mà có thể là một “chọn lựa tích cực” để bảo vệ nhịp điệu thân thuộc và yên ổn cho mối liên h ệ quan trọng bậc nhất – liên hệ hôn nhân – của bà. HÒA BÌNH BẰNG MỌI GIÁ: Theo một cách nhìn nào đó, bà Barbara không hẳn “mất nhiều tự do” nh ư bề ngoài có vẻ. Bà vẫn có thể biểu lộ suy nghĩ, ý kiến khác biệt với chồng. Bà v ẫn nh ận ra rằng điều bà muốn cho mình khác với điều chồng muốn cho mình. Bà cũng t ự bi ết những ưu thế của mình trong việc quyết định hay không tới phòng trị liệu…Ít nhất thì trong trường hợp này, bà chọn nhượng bộ chồng hơn là để con thuyền hôn phối va phải ghềnh đá. Nhiều người trong chúng ta đã làm những cuộc chọn lựa như vậy mà không thực sự ý thức được cái gì đã khiến chúng ta làm như thế, vì sao chúng ta làm th ế. Chúng ta không để cho bản thân ý thức được mình muốn gì. Chúng ta tránh không để mình có suy nghĩ hay ý kiến gì mới vì sợ có thể đưa đến sự bất đồng và mâu thuẫn công khai trong những mối liên hệ thân thiết. Chúng ta có thể tự coi mình như đứng bên ngoài, như không có liên lụy gì trong những cuộc dàn xếp bất công mà mình là n ạn nhân.

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

Đồng bộ tài khoản