XẠ HÌNH HẠCH TIỀN ĐỒN VÀ SINH THIẾT HẠCH TIỀN ĐỒN
DƯỚI HƯỚNG DẪN CỦA ĐẦU DÒ GAMMA TRONG UNG THƯ VÚ
BS. Nguyễn Xuân Cảnh, BS. Nguyễn Minh Hải, BS. Nguyễn Minh Thông
I. GIỚI THIỆU
Trong ung thư vú, di căn hạch nách là yếu tố tiên lượng quan trọng. Trong
trường hợp di n hạch nách, tỷ lệ sống còn 5 năm sẽ giảm 28-40% 1 . Q ui trình
điều trị chuẩn ung thư vú sphối hợp điều trị đa thức bao gồm đoạn nvà
hạch nách sau đó có thể tiến hành xtrị và hóa trị.
Tuy nhiên đối với những khối u còn nh<2 cm, trên m m ng siêu
âm chưa phát hiện hạch ch, thì khnăng di căn hạch nách vẫn nhưng <30%,
nên việc nạo hạch nách cho những trường hợp này vẫn còn nhiều tranh luận bởi vì
việc nạo hạch nách thể gây nên những biến chứng và di chứng như p bạch
mạch chi trên , gây đau loạn cảm chi trên . vậy, những nghiên cứu để phân
lập ra những trường hợp không cần phải nạo hạch nách luôn luôn là cần thiết.
Ung thư thường di căn hạch qua đường bạch mạch và hạch tiền đồn là
trạm đầu tiên của hạch bị di căn bởi vì hạch tiền đồn là hạch đầu tiên nhận sự dẫn
lưu bạch mạch từ khối u vú. Do vậy nếu phát hiện hạch tiền đồn tế bào ung thư
thì có khả năng hạch nách bị di căn và phẫu thuật nạo hạch nách là cần thiết.
Đến nay 2 phương pháp ph biến để phát hiện hạch tiền đồn, đó là
phương pháp nhuộm màu phương pháp dùng đồng vị phóng xạ. Phương pháp
dùng đồng vị phóng xạ phương pháp tiêm một dược chất phóng xạ tại chtại
vùng khối u, sau đó phóng xạ sdi chuyển đến và bbắt giữ bởi hạch tiền
đồn. Phóng xphát ra tín hiệu tia gamma được phát hiện bởi kỹ thuật xạ hình
trên máy gamma camera hoc SPECT và bi máy dò tìm tia gamma.
Khoa Y Học Hạt Nhân (YHHN) hệ thống máy SPECT/CT hiện đại và 1
máy tia gamma để thể xạ hình tìm vtrí hạch tiền đồn chính xác, dẫn
đường cho việc sinh thiết hạch tiền đồn một ch dễ dàng. vậy, k hoa Y Học
Hạt Nhân, Khoa Ngoại Tổng Quát, Khoa Giải Phẫu Bệnh đã bắt đầu phối hợp thực
hiện xạ hình sinh thiết hạch tiền đồn đ đáp ứng nhu cầu điều trị nhằm giảm
thiểu các trường hợp nạo hạch không cần thiết trong ung thư vú giai đoạn sớm.
Máy SPECT/CT Máy dò tia gamma
II. XẠ HÌNH VÀ SINH THIẾT HẠCH TIỀN ĐỒN
Những bệnh nhân đủ tiêu chuẩn để thực hiện xạ hình và sinh thiết hạch tiền
đồn là những trường hợp ung thư vú giai đoạn sớm, khi khối u vú còn nhT1, T2,
chưa di căn hạch nách chưa di căn xa trên m sàng. Chống chỉ định xạ
hình sinh thiết hạch tiền đồn khi b ệnh nhân t in smvú trước đây, t
hương tổn ung thư cả hai vú hoặc đang mang thai.
Dược chất phóng xạ:
Dược chất phóng xạ thường dùng đồng vị phóng xạ Tc-99m gắn với
những hạt keo kích thước nhỏ từ 100-600 nm như HSA (Human Serum Albumin)
hoặc SC (sulfur colloid). Liều lượng dược chất phóng xạ được dùng 0.5 mCi
(=18.5 MBq) trong 0.2 ml cho một vị trí tiêm.
Đường tiêm dược chất phóng xạ:
nhiều đường tiêm thuốc dược chất phóng xđể phát hiện hạch tiền đồn,
gồm đường tiêm quanh khối u, đường tiêm trong da, tiêm dưới da trên khối ung
thư đường tiêm dưới quầng vú. Hiện nay đường tiêm trong khối u không
được dùng nữa. Hai đường tiêm dưới da tiêm dưới quầng thường dùng
nhất.
Xạ hình:
Xạ hình hạch tiền đồn có thđược thực hiện cùng ngày với ngày phẫu thuật
hoặc trong buổi chiều trước ngày phẫu thuật.
Tiêm 0.5 mCi Tc-99m HSA trong 0.2 ml vào dưới da trên khối ung thư
hoặc tiêm dưới quầng vú, cạnh da vú của góc phần tư chứa khối u (sau đó massage
nhchổ tiêm dưới quầng vú). 5-10 phút sau, xhình vùng vú, sphát hiện hạch
tiền đồn. Đôi khi cần phải xạ hình chm đến 30 phút đến 1 giờ sau mới phát hiện
hạch tiền đồn, vì cần đủ thời gian để thuốc di chuyển đến hạch tiền đồn. Ngoài ra,
trong một số trường hợp, thực hiện thêm x hình cắt lớp SPECT/CT sẽ định vị
càng chính xác hơn vị trí hạch tiền đồn.
Sau đó, dựa vào hình ảnh xạ hình ghi được, dùng đầu dò máy dò tia gamma
để rà hạch tiền đồn qua da, khi phát hiện, máy dò sphát ra tiếng kêu ln và màn
hình trên máy schỉ sđơn vị đếm cao tại vtrí hạch tiền đồn, thường cao khoảng
hơn 3 lần so với vùng da xung quanh. Đánh dấu vị trí hạch tiền đồn qua da.
Sinh thiết hạch tiền đồn:
Bệnh nhân được phẫu thuật sinh thiết hạch tiền đồn sau khi xạ hình trong
cùng 1 ngày hoặc vào sáng ngày hôm sau. Da vào hình ảnh xạ hình vị trí hạch
tiền đồn đã được đánh dấu qua da, phẫu thuật viên dùng dầu dò gamma để xác
định lại vị trí hạch tiền đồn mà quyết định vị trí rạch da, bóc tách tìm kiếm hạch
tiền đồn. Khi phát hiện hạch trong trường mổ, đầu dò sphát ra tiếng kêu lớn và
cho thấy số đơn vị đếm của hạch tiền đồn rất cao, thường khoảng 10 lần so với
xung quanh. Lấy hạch gác ra ngoài, kiểm tra lại bằng dầu dò gamma một lần nữa.
Tiếp tục thám sát trường mổ, dùng dầu dò để rà tìm thêm hạch tiền đồn nếu có.
Gởi hạch tiền đồn để làm giải phẫu bệnh. Nếu kết quả học hạch tiền đồn tế
bào ác tính thì tiến hành qui trình chuẩn đoạn nhũ và nạo hạch nách. Nếu không
phát hiện tế bào ác tính trong hạch tiền đồn, thì th phẫu thuật đoạn nhũ mà
không cần nạo hách nách. Trường hợp phát hiện hạch tiền đồn là hạch vú trong thì
vẫn đoạn nhũ và nạo hạch nách như qui trình chuẩn.
Trong thi gian đầu làm quen k thuật, các trung tâm thường thực hiện từ
30-50 trường hợp đầu tiên sinh thiết hạch tiền đồn kèm đoạn nhũ và nạo hạch nách
để đánh giá kết quả mức độ thành công của kỹ thuật và giá trtiên lượng di căn
hạch nách từ việc sinh thiết hạch tiền đồn. Sau đó mới đưa ra phác đđiều trị đặc
trưng cho từng trung tâm.
Sơ đồ quyết định điều trị dựa trên hạch tiền đồn